SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5 THÔNG QUA CÁC TRÒ
CHƠI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA THỦY
NGA SƠN, THANH HÓA
Người thực hiện: Trịnh Quốc Hưng
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Thủy
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc lĩnh vực: Địa Lí
THANH HÓA NĂM 2019
0
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài:
Địa Lí là một môn học giúp học sinh có những hiểu biết về thiên nhiên,
con người Việt Nam và trên các châu lục. Học Địa Lí không chỉ biết mà phải
hiểu, giúp học sinh bước đầu giải thích được các hiện tượng địa lí xảy ra xung
quanh. Từ đó, hình thành ở các em vốn sống, vốn hiểu biết …để mở rộng tầm
nhìn về thế giới xung quanh.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục của Bộ GD&ĐT đã đặt ra: “ Giáo dục cho
học sinh Tiểu học là phải giáo dục toàn diện, không coi trọng môn chính, môn
phụ” . Bởi vậy cùng với các môn học khác, phân môn Địa Lí đã góp phần không
1.Giúp học sinh bước đầu hiểu và giải thích được các hiện tượng địa lí xảy
ra xung quanh và vốn sống, vốn hiểu biết về thế giới qua một số trò chơi.
2. Giúp học sinh có khả năng tự tin, giao tiếp tốt khi giải quyết công việc.
3. Trang bị cho học sinh các kĩ năng cơ bản: Học để biết, Học để làm, Học
để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
1. Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến môn Địa Lý và Sách tổ chức một số
trò chơi cho học sinh Tiểu học.
2. Nghiên cứu thực trạng việc học tập và vui chơi của học sinh trường Tiểu
học Nga Thủy, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
3. Nghiên cứu, tham khảo trên mạng Internet.
4. Học sinh lớp 5A trường Tiểu học Nga Thủy, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh
Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
1.1. Đọc các tài liệu có liên quan đến Môn Địa lý.
1.2. Tập huấn theo các chuyên đề do PGD và Trường tổ chức.
2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
2.1. Quan sát tình hình thực tế việc học tập và vui chơi tại nhà trường.
2.2. Dự giờ đồng nghiệp.
3. Phương pháp thực nghiệm:
3.1. Vận dụng những kinh nghiệm dạy tại lớp.
3.2. Rút kinh nghiệm tại trường.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lí luận.
1. Trò chơi là gì?:Trò chơi được hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn những
nhu cầu của con người, trước hết là vui chơi, giải trí.
Theo những quan điểm giáo dục, trò chơi vừa là phương tiện phát triển toàn
diện nhân cách vừa là hình thái tổ chức cuộc sống. Đối với trẻ em, trò chơi là
hoạt động giúp trẻ tái tạo các hành động của người lớn và các quan hệ giữa họ,
4. Yêu cầu của việc tổ chức trò chơi học tập đối với học sinh lớp 5 trong môn
địa lí.
Để giáo viên tổ chức trò chơi học tập cho học sinh đạt kết qủa tốt thì giáo
viên phải nghiên cứu, xây dựng đặt ra các yêu cụ thể phù hợp với từng lứa tuổi
học sinh và từng mục tiêu nội dung bài học . Từ đó, qua công việc giảng dạy
cũng như các hoạt động hàng ngày giáo viên phải theo dõi để phân định các
nhóm học sinh còn hạn chế. Trên cơ sở đó giáo viên cần có hoạch cụ thể:
1.Họcsinh thuộc tên các trò chơi đã học ở các lớp dưới, biết cách chơi, luật chơi
2.HS biết tổ chức được các trò chơi đơn giản ở mọi nơi, mọi lúc.
3.Thông qua đó bước đầu HS biết vận dụng được một số điều đã học vào nề nếp
sinh hoạt và học tập ở trường cũng như ở nhà.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến.
a. Về phía giáo viên.
3
Qua dự giờ phân môn Địa Lí của một số đồng chí giáo viên dạy khối 4 - 5
trong nhà trường tiểu học Nga Thủy ở các năm học trước, tôi nhận thấy một số
tồn tại sau:
- Một số giáo viên còn chưa linh hoạt khi sử dụng các phương pháp dạy học:
nặng nề về thuyết trình giảng giải, chưa lựa chọn các phương pháp dạy học phù
hợp để làm phong phú tiết dạy mà cơ bản chỉ sử dung phương pháp: Kể chuyện,
hỏi đáp, giảng giải. …mà chưa chú trọng đến việc tổ chức trò chơi cho học sinh.
- Lớp 4,5 lượng kiến thức tương đối nhiều, có khi giáo viên không đủ thời gian
để truyền tải kiến thức nên các trò chơi thường bị bỏ qua dẫn đến tiết học nặng
nề, căng thẳng.
- Đôi khi có tổ chức trò chơi cũng chỉ là hình thức. Chơi thông qua các hình thức
học tập nhằm tạo điều kiện để học sinh trình bày những suy nghĩ của mình.
- Sử dụng hình thức dạy học đơn điệu chủ yếu là dạy cả lớp. Trong tiết dạy hằng
48
Qua bảng khảo sát trên cho thấy chất lượng phân môn Địa Lí số học sinh
chưa hoàn thành nhiều. Vậy làm thế nào để tăng hứng thú cho HS và nâng cao
chất lượng học tâp, bản thân tôi đã trăn trở, lựa chọn một số trò chơi học tập sau
và đưa vào giảng dạy.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Hệ thống nội dung chương trình địa lí lớp 5.
- Chương trình Địa lí lớp 5 gồm 2 phần:
4
+ Địa lí Việt Nam.
+ Địa lí thế giới.
- Tất cả các bài học Địa lí Việt Nam và Địa lí thế giới chủ yếu học về: Vị trí địa
lí, địa hình, đặc điểm tự nhiên, dân cư , hoạt động kinh tế.
2.3.1.1: Phần địa lí Việt Nam:
- Địa lí tự nhiên Việt Nam: Vị trí địa lí, giới hạn, hình dạng, diện tích,...
- Các yếu tố tự nhiên: Địa hình, Khí hậu, Sông ngòi, Đất, Rừng,...
- Dân cư và sự phân bố dân cư.
- Hoạt động kinh tế: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản, Công nghiệp, thương
mại, du lịch.
- Các loại hình giao thông vận tải.
2.3.1.2: Phần địa lí thế giới:
+Phần địa lí tự nhiên của các châu lục: Châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mĩ,
Châu Đại Dương, Châu Nam Cực.
- Các yếu tố tự nhiên nổi bật của một số châu lục: Khí hậu, địa hình,..
- Dân cư.
- Về hoạt động kinh tế của một số châu lục và một số nước có nền kinh tế phát
triển trên thế giới: Liên Bang Nga, Pháp,...
+ Các đại dương trên thế giới.
- Giáo viên, HS đóng vai trò là trọng tài, có cho điểm đối với các sản phẩm.
e) Ví dụ: Bài 2: Địa hình và khoáng sản Việt Nam – (SGK- T68)
1/ Mục đích:
- Dùng để củng cố bài sau khi giáo viên dạy xong kiến thức mới.
2/ Thời gian chơi: 5 phút
3/ Chuẩn bị:
- Giáo viên: Chuẩn bị 2 lược đồ trống (kích thước bằng 1/2 tờ giấy Ao) có sẵn
một số tỉnh thành phố quan trọng.
- Học sinh chuẩn bị kí hiệu khoáng sản.
Kí hiệu một số khoáng sản :
Mỏ than
▇
Đồng
▄
Mỏ dầu
Khí tự nhiên
Mỏ sắt
Thiếc
Mỏ A- pa- tít
Mỏ bô xít
Al
Al
A
4/ Cách tiến hành:
- Giáo viên:
+ Chia lớp 2 nhóm (mỗi nhóm 6 học sinh)
(Mỗi học sinh chuẩn bị một đến hai loại kí hiệu khoáng sản)
+ Treo 2 lược đồ trống lên bảng
+ Yêu cầu cùng một lúc cả 2 nhóm dùng kí hiệu đã chuẩn bị sẵn hình thành 2
lược đồ khoáng sản trên bảng.
- Học sinh: Kiến thức đã học.
d) Tổ chức trò chơi:
- Giáo viên chia đội chơi, đạt tên đội chơi, nêu luật chơi và hướng dẫn cách
chơi, chơi thử.
- Hạn chế thời gian chơi (nếu cần)
- Giáo viên đóng vai trò là trọng tài, cho điểm sau mỗi một câu hỏi đúng.
- Cộng tổng điểm sau khi kết thúc trò chơi, khen thưởng.
e)Ví dụ: Bài 16: Ôn tập.( trang 101)
1- Mục đích: Củng cố kiến thức về Phần địa lí Việt Nam.
2- Thời gian chơi: 10 phút
3- Chuẩn bị: Các ô chữ, 2 quả chuông nhỏ, các câu hỏi và đáp án trên giáo án
điện tử ( màn hình)
- Nội dung ô chữ và gợi ý cho từng ô chữ:
Hàng ngang 1: (Có 9 chữ cái). Nước Việt Nam nằm trên bán đảo nào?
7
Hàng ngang 2: (Có 10 chữ cái). Nơi đây hai lần được UNESSCO tôn vinh là Di
sản văn hóa Thế giới.
Hàng ngang 3: (Có 5 chữ cái). Tên một loại đất chính của nước ta.
Hàng ngang 4: (Có 6 chữ cái).Tỉnh này có ngành khai thác a-pa-tít lớn nhất
nước ta.
Hàng ngang 5: (Có 9 chữ cái). Thành phố nào trở thành trung tâm công nghiệp
lớn nhất nước ta.
Hàng ngang 6: (Có 7 chữ cái). Các dân tộc ít người sống chủ yếu ở đâu?
Hàng ngang 7:(Có 8 chữ cái).Ở Nga Sơn (Thanh Hóa nổi tiếng với nghề thủ
công nào?
Hàng ngang 8: (Có 8 chữ cái). Việt Nam nằm trong đới khí hậu nào?
Hàng ngang 9: (Có 9 chữ cái). Cà phê được trồng nhiều ở đâu?
Hàng ngang 10: (Có 5 chữ cái). Đây là thành phố có sân bay quốc tế Nội Bài.
a) Phạm vi:
- Trò chơi này được sử dụng nhiều trong phần: "Thiên nhiên và con người ở các
châu lục" nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng sau bài hình thành kiến
thức mới.Cụ thể trong các bài:
+ Bài 15: Thương mại và du lịch.
+ Bài 19: Các nước láng giềng của Việt Nam.
+ Bài 20: Châu Âu.
+ Bài 23: Châu Phi.
+ Bài 25: Châu Mĩ.(5)
b) Ý nghĩa:
- Đây là phần có rất nhiều các địa danh không những nước Việt Nam mà các em
còn nhớ được các địa danh ở các nước trên thế giới. Giáo viên nêu một địa danh
nào đó học sinh phải xác định được vị trí của địa danh đó và nêu được một vài
chi tiết minh họa. Những minh họa càng chi tiết, chính xác câu trả lời càng được
điểm cao.
9
- Sử dụng trò chơi này sẽ kích thích được các em đọc nhiều và tìm hiểu kiến
thức nhiều hơn ở bên ngoài có liên quan đến nội dung bài học.
- Tạo không khí học tập sôi nổi, thoải mái.
c) Chuẩn bị:
- Giáo viên: Chuẩn bị tên các địa danh cần tìm hiểu trong bài.
- Học sinh: Chuẩn bị về kiến thức, phạm vi kiến thức giáo viên cho học sinh biết
trước.
d) Tổ chức:
- GV tổ chức thành 2 đến 3 lượt chơi, mỗi lượt khoảng 4 em.
- Giáo viên đưa ra luật chơi.
- Chơi thử.
duy logic, khả năng sử dụng ngôn ngữ địa lí chính xác.
- Rèn khả năng suy luận.
- Ngoài ra các em còn thể hiện được khả năng viết văn, giao tiếp, ...
c) Chuẩn bị:
- Giáo viên:
+ Chuẩn bị bản đồ, tranh ảnh…
+ Đưa ra tuyến du lịch cho học sinh đi từ … đến … và đánh dấu bằng phấn trắng.
- Học sinh: Chuẩn bị về kiến thức.
d) Tổ chức:
- Giáo viên đưa ra yêu cầu cho chuyến du lịch. Chia nhóm, (hoặc cá nhân) các
nhóm dùng kiến thức đã được học để miêu tả tuyến du lịch, một bạn trong nhóm
có trách nhiệm ghi chép lại toàn bộ quá trình miêu tả của nhóm mình.
- Thời gian: Phụ thuộc vào chuyến đi và đối tượng học sinh. (Không quá 5 phút)
e) Ví dụ: Bài 27: Châu Đại Dương và châu Nam Cực. (SGK trang126)
1- Mục đích: Giúp học sinh nắm được vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên của châu
Đại Dương và châu Nam Cực.
2- Thời gian chơi: 7 phút
3- Chuẩn bị: Hình ảnh, một vài nét nổi bật về châu Đại Dương và châu Nam
Cực.
4- Cách tiến hành
Giáo viên đưa ra tuyến du lịch cho học sinh vòng quanh châu Đại Dương và
châu Nam Cực , sau đó treo bản đồ và dùng phấn đánh dấu tuyến đường cần đi.
Yêu cầu 3 học sinh khá đóng vai các nhà thám hiểm lên tham gia chuyến đi, một
học sinh ghi chép lại nhật kí chuyến đi.
Thời gian du lịch không quá 5 phút.
Ví dụ sau đây là nội dung mà một học sinh trong nhóm đã ghi lại được:
"Chúng tôi đang đi đến vùng Nam Cực - nơi được coi là cực lạnh của trái đất.
Trước mắt chúng tôi hiện ra một màu trắng mênh mông của thế giới băng tuyết.
Không có một ngọn cỏ có thể sinh sống được ở châu lục này. Nhưng động vật vẫn
tồn tại, chúng khá thú vị với lớp lông và mỡ dày, nhiều con có lông trắng, chắc là
Tranh 4.
14
Tranh 5.
Tranh 6.
5- Kết quả: Được chơi trò chơi này học sinh rất thích thú bởi vì các em được
biết được các địa danh ở rất xa các em, khắc sâu cho các em các đặc điểm nổi
bật về các địa danh đó. Để hằng ngày qua sách báo, qua màn ảnh nhỏ, …. sẽ lưu
lại trong trí nhớ các em các địa danh nổi tiếng trên thế giới để các em có những
mơ ước trong tương lai không xa, các em sẽ là những khách du lịch hay những
hướng dẫn viên du lịch thăm quan những địa danh nổi tiếng đó.
15
2.3.2.6. Trò chơi: Đi tìm những cái "nhất":
a) Phạm vi:
- Trò chơi này sử dụng trong những bài ôn tập. Đặc biệt trong phần "Thiên nhiên
và con người ở các châu lục". Đây là một trò chơi phần kiến thức chủ yếu là
những thông tin ngoài sách nên phải có thời gian dài cho học sinh chuẩn bị.
b) Ý nghĩa:
- Tạo không khí học tập.
- Đây là một trò chơi đòi hỏi người học phải tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu,
thông tin bên ngoài để nắm kiến thức rất rộng, thúc đẩy học sinh phát huy tính
kiên trì, chịu khó.
c) Chuẩn bị:
- Giáo viên: Chủ đề
- Học sinh: Kiến thức đã chuẩn bị theo chủ đề cho trước.
d) Tổ chức:
hoạt động nào đó của bài học. Lạm dụng trò chơi học tập lớp học sẽ ồn ào, hình
thành ở học sinh thói quen học - chơi…Vậy nên, trong cùng một giờ học, tùy
theo từng loại bài, nội dung bài học mà giáo viên nên vận dụng các phương pháp
và hình thức dạy học cho phù hợp: Phương pháp làm việc với bản đồ, kể
chuyện, hỏi đáp, quan sát, học theo nhóm, cá nhân, đồng loạt, ngoài lớp học.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến nghiệm.
Ngay từ đầu năm học 2018-2019, tôi đã áp dụng: “Các trò chơi học tập” nêu
trên vào việc giảng dạy phân môn Địa Lí 5 kết quả là:
Giáo viên:
- Nhờ việc biết đưa các trò chơi vào trong công tác giảng dạy, nên các giờ dạy
Địa Lí đã trở nên sôi nổi, tạo được hững thú cho HS, các em hăng hái xây dựng
bài, tìm tòi và phát hiện kiến thức, điều đó làm cho chất lượng giờ dạy được
nâng cao.
- Các tiết dạy Địa Lí mà tôi thao giảng, kiến tập được đồng nghiệp đánh giá
cao và học tập, nhân điển hình.
- GV và HS có sự phối hợp nhịp nhàng, giữa dạy học và học tập. Từ đó các
em hứng thú hơn và thuộc bài ngay tại lớp.
Học sinh:
So với năm trước, tôi nhận thấy các em HS có hứng thú, say mê và ham
thích học môn Địa Lí hơn. Sau mỗi bài học, học sinh có được kiến thức vững
vàng, sâu rộng hơn, chính vì vậy mà khi học môn này các em đã sưu tầm thêm
tư liệu học tập, tìm hiểu thêm rất nhiều điều xung quanh.
Kết quả khảo sát tại thời điểm tháng 4 năm 2019:( thời gian 40 phút)
( phụ lục 2)
Kếtquả
HTT
HT
CHT
SL
%
1.Giáo viên và học sinh cần xác định rõ mục đích của mỗi trò chơi trong mỗi
tiết học, từ đó có hướng đi đúng đắn cho việc làm tiếp theo của mình.
2. Giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo về đồ dùng học tập để phục vụ trò
chơi, đồ dùng cần đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ, phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý của trẻ em, giáo viên cần có sự chuẩn bị về không gian, thời gian, thời
điểm diễn ra trò chơi, không lạm dụng trò chơi biến cả tiết học thành tiết chơi
hoặc tổ chức quá nhiều trò chơi trong tiết học tạo cho học sinh sự thái quá; giáo
viên cần chuẩn bị về hình thức tổ chức, có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ,
dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện. Giáo viên cần xác
định về số lượng HS tham gia sao cho đủ cả các đối tượng đều được hoạt động.
3. Biết vận dụng trò chơi học tập một cách hợp lí, tạo được hứng thú và niềm
say mê yêu thích môn học cho học sinh.
3.2. Kiến nghị.
- Để nâng cao chất lượng dạy học địa lý lớp 5, tôi xin đề xuất một số ý kiến sau:
- Người giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung kiến thức yêu cầu của mỗi bài
dạy, từ đó lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh của lớp
mình. Phải có kiến thức chắc về kiến thức Địa lí.
- Đề nghị nhà trường mua sắm thêm tài liệu cho giáo viên tham khảo thêm kiến
thức có liên quan đến bài dạy để giúp học sinh học tốt hơn phân môn Địa lí.
- Tổ chức những buổi chuyên đề môn địa lí ở tiểu học có sử dụng đến phương
pháp Trò chơi học tập để chúng tôi được học hỏi kinh nghiệm.
- Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân. Tôi rất mong được sự đóng góp
ý kiến của ban giám hiệu, Tổ chuyên môn, và của các đồng nghiệp để có được
các phương pháp dạy phân môn Địa Lí 5 ngày càng hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
18
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
1.4: Phương pháp nghiên cứu.
2
2. Nội dung của sáng kiến
3
2.1. Cơ sở lí luận.
3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN.
4
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
5
2.3.1. Hệ thống nội dung chương trình địa lí lớp 5.
18
2.3.2. Lựa chọn một số trò chơi phù hợp với kiểu bài,dạng bài và
20
hướng dẫn học sinh cách thực hiện.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến.
Câu 1: Phần đất liền của Việt Nam tiếp giáp với các nước: (2điểm)
( Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng)
A. Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan.
B. Trung Quốc, Cam-pu-chia, Thái Lan.
C. Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia.
Câu 2: Đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ở nước ta: (2điểm)
( Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng)
A. Nhiệt độ thấp, gió và mưa thay đổi theo mùa.
B. Nhiệt độ cao, gió và mưa thay đổi theo mùa.
C. Nhiệt độ cao, mưa thay đổi theo mùa
D. Nhiệt độ thấp, gió thay đổi theo mùa.
Câu 3: Vùng biển nước ta là một bộ phận của:(2điểm)
A. Biển Đông.
B.Thái Bình Dương.
C.Ấn Độ Dương
Câu 4: Nêu đặc điểm chính của địa hình nước ta.(4điểm)
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
21
TRƯỜNG TIỂU HỌC
Nga Thñy
Phụ lục 2:
BµI kiÓm TRA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5
NĂM HỌC: 2018 - 2019
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình phương pháp dạy học môn Địa lí.
(Đại học Quốc gia - Trường Đại học sư phạm Hà Nội)
2. Đổi mới việc dạy môn Địa lí ở tiểu học.
3. Sách bồi dưỡng thường xuyên (Bộ giáo dục và đaò tạo)
4. Sách giáo viên - Bộ giáo dục và đào tạo.
5. Sách giáo khoa Địa lý và lịch sử - Lớp 5
6. Dạy học lấy học sinh làm trọng tâm (Giáo sư Lê Khánh Bằng).
7. Mạng Internet.
23
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI
ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD & ĐT, CẤP SỞ GD &
ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trịnh Quốc Hưng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Nga Thủy, huyện
Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hóa
TT
Tên đề tài SKKN
động của học sinh
Một số biện pháp giúp học
Phòng
sinh lớp 5 khắc phục sai lầm
GD&ĐT
khi học số thập phân ở trường
Nga Sơn
tiểu học Nga Thủy
Kết
quả
đánh giá
xếp loại (A,
B hoặc C)
B
Năm học
đánh giá
xếp loại
2006-2007
B
2013-2014
B
2014-2015
B