1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương sọ não là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp, chiếm
khoảng 25-30% số bệnh nhân chấn thương nói chung. Trong những thống kê
gần đây của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, tỷ lệ bệnh nhân chấn thương sọ
não chiếm 82,1%. Số bệnh nhân cấp cứu sọ não do tai nạn giao thông có xu
hướng tăng lên hàng năm.
Sự ra đời của chụp cắt lớp vi tính sọ não đã góp phần rất lớn trong việc
chẩn đoán chính xác tổn thương trong chấn thương sọ não. Hình ảnh phim
chụp cắt lớp vi tính cho thấy chính xác vị trí, kích thước, khối lượng khối máu
tụ, mức độ chèn ép tổ chức não cũng như các tổn thương phối hợp như dập
não, phù não... Tuy nhiên, đôi khi hình ảnh tổn thương trên phim chụp cắt lớp
vi tính không phù hợp với biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân vì vậy thăm
khám bệnh nhân một cách thận trọng, đánh giá chính xác các triệu chứng lâm
sàng vẫn là rất cần thiết trong việc chẩn đoán, tiên lượng và điều trị.
Phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp (MNSGA) là phẫu thuật được sử dụng
rộng rãi khi các điều trị bảo tồn, hồi sức tích cực vẫn không kiểm soát được
áp lực trong sọ. Đó là do các nguyên nhân: Thiếu máu não, phù não lan tỏa,
dập não rải rác.
Tụ máu dưới màng cứng cấp tính là tổn thương hay gặp và có tỷ lệ tử
vong cao (70%) và để lại những di chứng nặng nề (50%). Trong số bệnh nhân
chấn thương sọ não nặng (điểm Glasgow ≤ 8) thì 40% có tổn thương tụ máu
dưới màng cứng cấp tính [2]. Mặt khác chỉ định phẫu thuật trong các trường
hợp chấn thương sọ não nặng có tụ máu DMC cấp tính có nhiều điểm khác
biệt với các trường hợp không phải chấn thương sọ não nặng. Câu hỏi được
đặt ra khi chỉ định phẫu thuật với các trường hợp máu tụ DMC trong chấn
2
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài.
Bệnh lý do chấn thương sọ não đã được biết đến từ lâu.
Năm 1773 Petit lần đầu tiên chia chấn thương sọ não làm 3 thể cơ bản:
Chấn động não , đụng dập não, đè ép não
Krowlein (1895) đưa ra cơ chế về sự hình thành khối máu tụ trong sọ
gây chèn ép não do tổn thương động mạch màng não giữa.
Năm 1901, Kocher là người đầu tiên đề cập đến phẫu thuật mở nắp sọ
giảm áp [3], [4].
Năm 1905, Cushing đã nêu vấn đề dùng phẫu thuật mở sọ giải áp để làm
giảm áp lực gây ra bởi các khối trong sọ và sau đó phẫu thuật mở sọ giảm áp
đã được coi là phương pháp điều trị tối ưu cho các trường hợp tăng áp lực nội
sọ không kiểm soát được bằng điều trị nội khoa [4], [5].
Egaz Moniz (1927) đưa ra phương pháp chụp động mạch não có tiêm
thuốc cản quang để chẩn đoán máu tụ nội sọ ( 7).
Năm 1968, Greenwood đã sử dụng phương pháp phẫu thuật mở sọ giảm
áp với các trường hợp chấn thương sọ não nặng, tăng áp lực nội sọ trên lều
tiểu não do nhiều nguyên nhân khác nhau có tỷ lệ tử vong dưới 50% [5].
Năm 1971, Hounsfield và Ambrove (Anh) cho ra đời máy chụp cắt lớp
vi tính đầu tiên đánh dấu bước ngoặt trong chẩn đoán các tổn thương hệ thần
sọ não cho phép xác định chính xác vị trí, kích thước, khối lượng
máu tụ, mức độ chèn ép não và các tổn thương phối hợp: phù não, dập
4
não.... Từ đó đến nay đã có nhiều thế hệ máy chụp CLVT ra đời ngày càng
hiện đại và hoàn thiện hơn.
Cũng trong năm 1971, Kjellberg và Prieto báo cáo 73 bệnh nhân mở
sọ 2 bên trán rộng rãi và thắt xoang tĩnh mạch dọc trên ở 1/3 giữa cho bệnh
nhân chấn thương sọ não nặng đạt kết quả tốt 18% [4].
được điều trị phẫu thuật trước 6 giờ cho kết quả khả quan [9].
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Năm 1983, Thái Doãn Sơn và Nguyễn Công Tô đã nghiên cứu 65 trường
hợp tổn thương xoang tĩnh mạch và các tĩnh mạch đổ vào xoang được can
thiệp phẫu thuật, kết quả mổ đạt tỷ lệ tốt 62,99% [16].
Năm 1992, Nguyễn Đình Tuấn [18] nghiên cứu giá trị chẩn đoán chụp
cắt lớp vi tính trong cấp cứu chấn thương sọ não cho kết quả nhanh và chính
xác hơn các phương pháp khác.
Nguyễn Thế Hào (1995) [7] tổng kết và đánh giá 271 trường hợp máu tụ
dưới màng cứng cấp tính do chấn thương sọ não tại bệnh viện Việt Đức trong
thời gian từ tháng 1/1991 đến tháng 12/1993.
Trần Duy Hưng và cộng sự (1998) nghiên cứu 148 trường hợp máu tụ
dưới màng cứng cấp tính đã mổ tại bệnh viện Chợ Rẫy [19].
Trong 2 năm 1999-2000, Lê Văn Cư và cộng sự đã nghiên cứu điều trị
máu tụ DMC bằng phẫu thuật mở rộng sọ giảm áp và vá màng não thích hợp
tại Bệnh viện tỉnh Bình Dương kết quả rất khả quan, hạn chế được di chứng
nặng nề, tỷ lệ tử vong 23,27% [20].
Nguyễn Hữu Minh (2000) đã nghiên cứu đề tài về phẫu thuật mở nắp sọ
giảm áp có điểm Glasgow ≤ 9 có tỉ lệ tử vong là 42,9% [21].
Võ Tấn Sơn, Nguyễn Thanh Huy (2004) nêu một số yếu tố tiên lượng
trong điều trị phẫu thuật máu tụ dưới màng cứng cấp tính do chấn thương [22].
6
Hoàng Chí Thành (2004), nghiên cứu mở nắp sọ giảm áp trong chấn thương
sọ não.
Trần ngọc Vang (2005) nghiên cứu chẩn đoán lâm sàng, cận lân sàng,
thái độ điều trị MTDMC cấp tính do chấn thương ở Bệnh viện Việt Đức
Nguyễn Công Tô (2009), nghiên cứu các yếu tố tiên lượng và kết quả
- Da đầu được cung cấp máu bởi hệ thống động mạch cảnh, rất giàu
vòng mạch nối.
1.2.2. Xương sọ.
Gồm 2 phần: vòm sọ và nền sọ.
Vòm sọ gồm xương trán, 2 xương đỉnh, 2 xương thái dương và xương chẩm.
Nền sọ chia làm 3 phần: Hố sọ trước, hố sọ giữa, hố sọ sau.
1.2.3. Màng não.
Gồm 3 màng: màng cứng, màng nhện và màng nuôi
Hình 1.1. Màng cứng, màng nhện, màng nuôi [23].
8
* Màng cứng: bao phủ mặt trong hộp sọ, dầy 1-2mm, rất dai. Màng cứng
dính liền sát vào cốt mạc, nhất là các đường khớp, các lỗ hay khe của hộp sọ,
trừ vùng Gérard Marchart. Ở người già màng cứng thường dính chặt vào
xương hơn người trẻ.
* Màng nhện: là 1 màng nằm giữa màng cứng và màng nuôi. Màng nhện
gồm 2 lá, giữa là 1 khoang ảo gọi là khoang nhện.
Khoang giữa màng cứng và màng nhện bình thường cũng là khoang
ảo. Các tĩnh mạch thu gom máu từ não về xoang tĩnh mạch có đoạn ngắn
phải đi qua khoang này. Các vách ngăn của màng cứng ngăn cách khoang
dưới màng cứng bán cầu đại não bên phải với bên trái và với khoang dưới
màng cứng thuộc hố sau.
Khoang giữa màng nhện và màng nuôi là khoang dưới nhện. Trong khoang
có chứa dịch não tủy. Phần màng nhện ở não có đặc điểm đi bắt ngang qua các
khe, rãnh cuộn não mà không đi vào sâu giữa các khe như màng mềm.
Màng nhện hình thành các nụ nhỏ đâm xuyên qua màng cứng vào xoang
tĩnh mạch gọi là các hạt Pachioni có vai trò hấp thu dịch não tủy. Có những
Gồm: 2 bán cầu đại não, tiểu não, thân não.
1.2.5.1. Bán cầu đại não.
Là phần lớn nhất của hệ thống thần kinh trung ương. Bán cầu đại não
gồm có 3 mặt: trên ngoài, dưới, trong; và 3 cực: trán ở trước, chẩm ở sau, thái
dương 2 bên. Bề mặt bán cầu được chia nhỏ thành các thùy, hồi bởi các khe
rãnh trong đó có mạch máu não đi kèm. Có 2 rãnh lớn quan trọng là:
- Rãnh Sylvius: phân chia thùy trán, đỉnh với thùy thái dương có động
mạch màng não giữa đi qua.
- Rãnh Rolandi: Phân chia thùy trán với thùy đỉnh có động mạch
Rolandi đi qua.
1.2.5.2. Tiểu não.
Gồm 2 bán cầu tiểu não và thùy giun ở giữa. Phần dưới của 2 bán cầu có
thùy hạnh nhân dễ tụt vào lỗ chẩm khi áp lực nội sọ tăng cao chèn ép vào
hành tủy gây ngừng hô hấp đột ngột.
1.2.5.3. Thân não.
Là trục của não bộ, nằm giữa hai bán cầu đại não và tiểu não gồm: hành
tủy, cầu Varole, cuống não, củ não sinh tư và não trung gian (đồi thị, vùng
dưới đồi).
Thân não là cơ sở của các phản xạ có điều kiện: vùng não trung gian là
trung tâm vận mạch và điều hòa nhiệt độ, hành tủy là trung tâm điều hòa hô
hấp và tim mạch.
1.2.6. Vòng động mạch não.
Não được cấp máu bởi các nhánh của động mạch cảnh trong và động
mạch thân nền. Các động mạch này tiếp nối với nhau tạo thành vòng động
mạch não (Đa giác Willis).
11
* Cấu tạo đa giác Willis: gồm động mạch thông trước, động mạch thông
không được cấp máu đầy đủ nên hay bị nhũn não ở người già.
Hình 1.4. Vòng động mạch não [23].
1.2.7. Các xoang tĩnh mạch não.
Các xoang tĩnh mạch não có đặc điểm: thành xoang là 2 lá của màng não
cứng, mặt trong xoang được lót bởi một lớp nội mô.
Xoang hang: nằm ở giữa tầng sọ, ở 2 bên yên bướm, đi từ đỉnh xương đá
đến khe bướm.
+ Các xoang tới xoang hang là: xoang tĩnh mạch mắt, xoang bướm đỉnh,
xoang liên hang, xoang chẩm ngang.
+ Các xoang từ xoang hang đi ra là: xoang đá trên, xoang đá dưới, xoang
quanh động mạch cảnh, xoang đá chẩm. Các xoang này nối xoang hang với
tĩnh mạch cảnh trong.
13
Hội lưu Herophile: nằm ở ụ chẩm trong là nơi các xoang tĩnh mạch vòm
sọ đổ vào.
+ Các xoang tới hội lưu bao gồm: xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang tĩnh
mạch dọc dưới, xoang tĩnh mạch thẳng, xoang chẩm sau.
+ Các xoang từ hội lưu đi ra: là 2 xoang bên đi từ hội lưu đến tĩnh mạch
cảnh trong ở lỗ rách sau.
Hình 1.5. Xoang tĩnh mạch màng não cứng [23].
14
1.3. Đặc điểm của máu tụ DMC cấp tính do chấn thương sọ não .
sọ và sự dịch chuyển của các phần não có tỉ trọng khác nhau làm cho não đập
vào các gờ của xương sọ và các nếp màng cứng cùng với lực tác động từ
ngoài vào gây nên các thương tổn của não.
Sự hình thành máu tụ DMC cấp tính do chấn thương theo 2 cơ chế đó là:
+ Giập não và đứt các mạch máu vỏ não ở điểm va chạm hoặc đối diện
điểm va chạm hoặc ở cả hai bên bán cầu hoặc giập não lan tỏa.
+ Đứt các tĩnh mạch cầu đi từ vỏ não đến màng cứng.
1.3.3. Đặc điểm của chấn thương sọ não nặng.
1.3.3.1. Định nghĩa.
Chấn thương sọ não nặng được định nghĩa là chấn thương sọ não có hôn mê.
Để đánh giá và theo dõi tri giác của bệnh nhân người ta sử dụng thang
điểm Glasgow được đề ra năm 1974. Thang điểm Glasgow đánh giá tri giác
của bệnh nhân bằng cách cho điểm dựa trên ba đáp ứng đó là: vận động, lời
nói và mở mắt.
Bảng điểm GLASGOW [33]
Mở mắt
(E)
Trả lời
(V)
Vận động
(M)
Đáp ứng
Mở mắt tự nhiên
Gọi mở
Bấu mở
Không mở
16
Cách tính điểm Glasgow = E+V+M
Điểm Glagow thấp nhất là 3 và cao nhất là 15.
Dựa trên 3 đáp ứng vế tri giác được theo dõi là vận động, lời nói và mở
mắt Ngân hàng dữ liệu hôn mê do chấn thương (1976) đã đề nghị: bệnh nhân
được gọi là hôn mê khi cùng một lúc không mở mắt, không hoạt động ngôn
ngữ và không làm theo lệnh đơn giản.Theo đó bệnh nhân được gọi là hôn mê
khi điểm Glasgow ≤ 7. Tuy nhiên trong thực tế lâm sàng có những bệnh nhân
có điểm Glasgow ≤ 8 có triệu chứng lâm sàng của hôn mê.
Theo hội phẫu thuật thần kinh Hoa Kỳ chia chấn thương sọ não thành ba
loại gồm:
+ Chấn thương sọ não nặng: Glasgow ≤ 8
+ Chấn thương sọ não vừa: Glasgow = 9 - 12
+ Chấn thương sọ não nhẹ: Glasgow > 12.
Thang điểm Glasgow không áp dụng ở người say rượu, rối loạn tâm
thần, dùng thuốc an thần và trẻ em dưới 5 tuổi.
Năm 1988, P.L Reilly và cộng sự [34] đã đưa ra những tiêu chuẩn để
đánh giá tri giác của trẻ em:
Mở mắt
Đáp ứng lời nói
3
2
17
Liệt mềm
Thang điểm C.C.S (Children coma score)
1
Tổng số điểm cao nhất là 11 điểm và thấp nhất 3 điểm, từ 9-11 điểm là
chấn thương sọ não nhẹ.
1.3.3.2. Đặc điểm của chấn thương sọ não nặng.
Trong chấn thương sọ não nặng thường có nhiều tổn thương não kết hợp
với nhau, đồng thời kết hợp với tổn thương các bộ phận cơ thể khác. Do vậy
tình trạng của bệnh nhân thường nặng nề, điều trị khó và có tỉ lệ tử vong cao.
Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân chấn thương sọ não nặng dao động từ 36 –
50%. Những yếu tố làm tăng tỉ lệ tử vong như hôn mê sâu (điểm Glasgow 3-5),
đồng tử 2 bên giãn và mất phản xạ ánh sáng, thiếu máu não, chèn ép não lớn,
hoặc có chấn thương ngực, bụng kèm theo.
Tỉ lệ sống thực vật của bệnh nhân chấn thương sọ não nặng khoảng
10- 20%. Ngoài ra có thể liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ, động kinh ....
1.4. Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh của máu tụ DMC cấp tính
do chấn thương sọ não.
1.4.1. Đặc điểm lâm sàng.
1.4.1.1. Biểu hiện rối loạn tri giác.
Thường bệnh nhân có biểu hiện rối loạn tri giác ngay sau chấn thương sọ
não, mức độ rối loạn tri giác phụ thuộc vào mức độ chảy máu và thương tổn
1.4.1.6. Các tổn thương phối hợp ngoài sọ.
Trong chấn thương sọ não, nhất là chấn thương sọ não nặng thường có
sự phối hợp tổn thương các cơ quan khác của cơ thể ngoài sọ như: chấn
thương ngực, chấn thương bụng, gãy xương, đặc biệt là chấn thương cột sống
cổ,.... Các tổn thương này đôi khi bị các triệu chứng của chấn thương sọ não
che lấp hoặc do bệnh nhân hôn mê khó phát hiện ra, nếu không được phát
hiện và xử lý kịp thời sẽ để lại hậu quả nặng nề.
19
1.4.2. Chẩn đoán hình ảnh.
1.4.2.1. Chụp X-quang.
Trong chấn thương sọ não, chụp phim X-quang ít có giá trị. Có thể phát
hiện đường vỡ xương, dị vật .... Ngày nay với việc ứng dụng rộng rãi của
chụp CT-Scanner thì chụp X-quang sọ quy ước là không cần thiết.
Các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng cần phải chụp X-quang cột
sống cổ để loại trừ tổn thương.
1.4.2.2. Chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang.
Sự ra đời và ngày càng phát triển của máy chụp cắt lớp vi tính đã góp
phần quan trọng trong việc chẩn đoán chính xác các thương tổn của hệ thần
kinh, đặc biệt là trong chấn thương sọ não. Trên phim chụp cắt lớp vi tính có
thể phát hiện phần lớn các tổn thương trong chấn thương sọ não.
Hình ảnh của máu tụ DMC cấp tính điển hình là một vùng tăng tỉ
trọng nằm ngay sát xương sọ, có hình lưỡi liềm, bờ trong lõm hoặc thẳng
hay có hình răng cưa, thường lan rộng và có giới hạn không rõ ràng như
máu tụ NMC [8].
Trong một số trường hợp khó phát hiện máu tụ DMC cấp tính đó là:
+ Vị trí khối máu tụ nằm sát nền sọ hoặc ở vùng đỉnh, cần phân biệt với
máu tụ NMC.
sự cản trở lưu thông dịch não tủy thì ALNS tăng nhanh.
1.5.1. Nguyên nhân tăng ALNS.
Cho đến nay các tác giả đều thống nhất có 3 nguyên nhân gây tăng
ALNS do chấn thương đó là:
1.5.1.1. Phù não.
Là do tăng khối lượng nước của não. Theo Sichez J.P (1984) [25] có 2
loại phù não đó là:
21
+ Phù vận mạch: là phù ngoài tế bào do tổn thương hàng rão máu não.
+ Phù nhiễm độc tế bào: là phù trong tế bào do tổn thương màng tế bào.
Phù não có thể khu trú cũng có thể lan tỏa. Đặc trưng cho quá trình tiến
triển khối máu tụ hoặc dập não trong chấn thương, đồng thời cũng biểu hiện
của hiện tượng oxy hóa và rối loạn chuyển hóa của não.
1.5.1.2. Khối choán chỗ và tăng ALNS.
Khối máu tụ hình thành và lớn dần đến một mức độ nhất định thì gây ra
chèn ép não. Quá trình chèn ép não của khối máu tụ diễn ra qua 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn chèn ép não còn bù trừ.
+ Giai đoạn ứ trệ tĩnh mạch và những biểu hiện lâm sàng sớm.
+ Tăng thể tích khối máu tụ và mức độ chèn ép não.
+ Giai đoạn thiếu máu thân não và xuất hiện các triệu chứng của rối loạn
hoạt động của thân não.
Như vậy khi xuất hiện khối máu tụ có biểu hiện chèn ép não thì cần phải
can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt. Nếu lấy bỏ khối máu tụ ở giai đoạn
muộn có chèn ép vào thân não thường cho kết quả xấu.
Sự xuất hiện khối máu tụ gây chèn ép não đã được nhiều tác giả nghiên
cứu. Theo Alonso S.M và cộng sự [26] nghiên cứu cho thấy với 25 gram máu
tụ đã có những thay đổi đáp ứng của tổ chức não.
và tăng ALNS ngày càng nặng hơn. Khi ALNS tăng cao bằng huyết áp động
mạch trung bình thì tuần hoàn não bị ngừng hoàn toàn [30]. Theo Pitts khi
ALNS cao hơn huyết áp động mạch trung bình kéo dài 5 - 10 phút thì có thể
coi não đã chết.
1.5.2.2. Chèn ép gây hiện tượng tụt kẹt não.
Do đặc điểm đàn hồi của tổ chức não, nên khi có sự chênh lệch về áp
lực nội sọ, nhu mô não có thể bị di chuyển tụt vào các khe, lỗ trong hộp sọ có
thể xảy ra 4 loại tụt kẹt sau đây:
23
* Hồi thể trai tụt dưới bờ tự do của liềm não
Hồi thể trai dịch chuyển dưới bờ tự do của liềm não để vượt qua đường giữa.
Hậu quả: động mạch não trước cùng bên với thương tổn và các tĩnh
mạch ở sâu bị đẩy qua đường giữa gây chèn ép liềm não làm thiếu máu và
nhồi máu não ở khu vực các mạch này chi phối.
* Tụt kẹt não bên hoặc tụt kẹt hồi hải mã vào khe Bichat
Hồi hải mã (cuốn não trong của thùy thái dương) bị đẩy vào đường
giữa và chui vao khe Bichat - tạo bởi bờ tự do của lều não và cuống não lúc
bình thường là khe ảo, khi tăng ALNS thì rộng ra.
Hậu quả: Tri giác xấu đi do quá trình chèn ép trực tiếp vào hệ thống lưới
nằm ở phần cao của thân não, hậu quả là tăng ALNS gây ra thiếu máu não.
Giãn đồng tử khi hiện tượng tụt kẹt chèn vào dây thần kinh số III hoặc
nhân của nó ở cuống não.
* Tụt kẹt trung tâm:
Hiện tượng xảy ra khi toan não và trung não dịch chuyển từ trên xuống
dưới qua lỗ bầu dục của lều tiểu não.
Hậu quả: Đồng tử hai bên co nhỏ, rối loạn nhịp thở kiểu CheynesStoke, mất vận động nhãn cầu nhìn lên trên.
1.5.2.3. Những ảnh hưởng ngoài sọ của tăng ALNS.
- Dẫn lưu dịch não tủy: mục đích để giảm áp lực nội sọ.
- Theo dõi chặt chẽ bệnh nhân để đánh giá sự tiến triển và phát hiện biến
chứng, xử lý kịp thời. Cần phải theo dõi tuần hoàn, hô hấp, tri giác và các dấu
hiệu thần kinh khu trú thường xuyên.
- Theo dõi áp lực nội sọ: có vai trò quan trọng trong quá trình theo dõi,
tiên lượng và ra chỉ định phẫu thuật. Đây là việc làm thường quy tại nhiều
nước trong các trường hợp CTSN nặng nhưng ở nước ta còn hạn chế do điều
kiện kinh tế còn khó khăn.
25
ALNS có thể được đo ở trong não thất, dưới màng cứng hoặc ngoài
màng cứng. Tăng ALNS khi chỉ số đo được > 15 mmHg. Khi ALNS tăng > 25
mmHg thì có chỉ định phẫu thuật mở sọ để làm giảm áp lực.
Tất cả các sóng biểu hiện ALNS đều được ghi trên giấy hay thể hiện
trên màn hình theo dõi. Trong đó đáng chú ý là sóng hình cao nguyên: biểu
hiện ALNS tăng đột ngột trong vài phút, thường xuất hiện vào ban đêm và
sau đó biến mất. Sóng hình cao nguyên là biểu hiện dự báo hiện tượng tụt
kẹt não sắp xảy ra.
- Xử trí các triệu chứng khác:
+ Chống viêm loét dạ dày: nguyên nhân là do strees, có thể dùng
Cimetidin hoặc Pantalog.
+ Chống nhiễm trùng: dùng kháng sinh.
+ Chống loét: cho bệnh nhân nằm đệm nước, xoay trở bệnh nhân 2h/lần,
vệ sinh thân thể thường xuyên.
+ Dinh dưỡng: cần đảm bảo đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân, có thể nuôi
dưỡng qua đường tĩnh mạch hoặc qua ống thông dạ dày.
1.6.2. Điều trị ngoại khoa.
Chỉ có 30-40% bệnh nhân chấn thương sọ não nặng cần phải can thiệp phẫu