Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy xương gò má cung tiếp bằng nẹp vít” (tại bệnh viện đa khoa tỉnh hải dương - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy phức hợp xương gò má-cung tiếp (GMCT) là tổn thương hay gặp trong
chấn thương hàm mặt .Theo Covington và cộng sự (năm1994) nghiên cứu tình
hình chấn thương hàm mặt trong 10 năm từ 1979 đến 1989 ở Mỹ có 243 người
bị gãy xương GMCT trong tổng số 1388 trường hợp gãy xương hàm mặt [26].
Trong nghiên cứu của J.Nukata và cộng sự năm 2000 nghiên cứu tình hình gãy
xương hàm mặt tại Tokyo-Nhật bản trong 13 năm từ 1987 đến 1999 trong tổng
số 561 người bị gãy xương hàm mặt có 112 người bị gãy xương GMCT
[51].Trong nghiên của Trương Mạnh Dũng (năm 2002) tại viện Răng Hàm Mặt
(RHM ) Quốc gia trong 372 trường hợp gãy xương hàm mặt có 191 trường hợp
gãy xương GMCT [6] . Theo Đặng Minh Tú (năm2002) tại Viện quân y 103 cho
thấy tỷ lệ gãy xương GMCT trong gãy xương Tầng giữa mặt là 54,7%[21].
Xương gò má là một trong những xương chính của tầng giữa mặt, đóng vai
trò quan trọng vào tạo hình dáng khuôn mặt và chống đỡ che chở cho nhiều cơ
quan xung quanh như: ổ mắt, thần kinh, mạch máu. Khi xương gò má bị tổn
thương thường gây gãy phức hợp cả cung tiếp, ảnh hưởng nhiều đến chức năng
và thẩm mỹ của bệnh nhân, nếu không được điều trị kịp thời và đúng thì có thể
gây ra các biến chứng về mắt, chức năng ăn nhai và thẩm mỹ.
Chẩn đoán gãy phức hợp xương GMCT dựa vào Lâm sàng và X quang quy
ước, những trường hợp chưa rõ ràng thì chụp cắt lớp vi tính (CLVT) có giá trị
tốt hơn để chẩn đoán xác định, nhất là chụp CLVT có dựng hình không gian ba
chiều giúp ta nhận định tổn thương xương hàm một cách tổng thể hơn [9].
Điều trị gãy phức hợp xương GMCT có nhiều phương pháp: Điều trị bảo
tồn ; Nắn chỉnh xương bằng móc Limberg hoặc bẩy ; Phẫu thuật kết hợp xương
bằng chỉ thép hoặc nẹp vít. Gần đây do sự phát triển của hệ thống nẹp vít kết
xương, đặc biệt là miniplate đã được sử dụng trong phẫu thuật nắn chỉnh kết
xương GMCT có kết quả tốt. Theo Trương Mạnh Dũng (2002) cho thấy kết quả



trước tiếp khớp với mỏm thái dương của XGM bằng một đường tiếp khớp răng
cưa [13].
-Mặt ngoài lồi, có da phủ trên.
- Mặt trong liên quan với cơ thái dương.
- Bờ trên sắc và mỏng, có cân thái dương bám.
-Đầu trước tiếp khớp với xương gò má.
- Đầu sau có hai rễ thẳng và rễ ngang. Rễ ngang còn gọi là lồi cầu xương
thái dương bám vào ở giữa hai rễ, có củ khớp để dây chằng khớp thái dương
hàm bám vào. Ở giữa 2 rễ có một hố (hố chảo của xương thái dương) tiếp khớp
với lồi cầu hàm dưới.


5

1.1.2.Tính chất dễ tổn thương của xương gò má – cung tiếp
- Điểm nối với xương trán ở bờ ngoài ổ mắt dễ gãy trong chấn thương.
- Cung gò má (cung tiếp) yếu mảnh dễ gãy khi chấn thương.
- Đường nối khớp với xương hàm trên rất dễ gãy khi chấn thương.
- Xương gò má chắc hơn, dầy hơn song lại nhô cao hơn trên khuôn mặt,
nên khi ngã va đập lại là điểm bị hứng chịu trước tiên làm xương vỡ, sập, đồng
thời kéo theo vỡ các khớp tự nhiên gắn vào nó[17]
1.1.3. Vai trò của xương gò má – cung tiếp
- Đóng vai trò chủ yếu trong tạo hình dạng khuôn mặt của mỗi cá thể [52].
- Góp phần tạo nên ổ mắt, qua đó XGM bảo vệ nhãn cầu [48,52].
- Dẫn truyền lực nhai lên sọ, hấp thụ một phần lực nén trước khi tác động
tới nền sọ [6].
- Là nơi bám của nhiều cơ như cơ cắn, cơ gò má lớn, cơ gò má bé, cơ
vòng mắt và cơ nâng môi trên, tạo đường đi cho hai nhánh thần kinh cảm giác
vùng gò má [48,52].



1.1.5 .Mạch máu vùng gò má cung tiếp[3,11]
Gò má cung tiếp và các vùng lân cận được cấp máu bởi động mạch mặt và
động mạch dưới ổ mắt (ở phía trước), động mạch thái dương nông (ở phía sau).
- Động mạch mặt : Tách ra từ động mạch cảnh ngoài trong tam giác cảnh,
chạy theo một hình cung trên tuyến dưới hàm tới bờ trước cơ cắn để vào mặt. Ở
mặt lúc đầu động mạch chạy ra trước và lên trên qua phía ngoài góc miệng rồi
chạy lên dọc cạnh bên của mũi tới góc mắt trong. Trên đoạn đường đi động
mạch mặt phân nhánh vào môi dưới, môi trên, mũi ngoài; tiếp nối với động
mạch mắt, động mạch ngang mặt và động mạch dưới ổ mắt.
- Động mạch dưới ổ mắt: là một nhánh của động mạch hàm trong; sau khi
chạy trong rãnh và ống dưới ổ mắt và phân các nhánh cho các cấu trúc ở sàn ổ
mắt, nó tận cùng ở mặt để cấp máu cho các phần mềm nằm ở khoảng giữa vùng
cấp máu của động mạch ngang mặt, động mạch gò má ổ mắt và động mạch mặt.
- Động mạch thái dương nông: là nhánh tận của động mạch cảnh ngoài tách
ra trong tuyến mang tai, sau lồi cầu từ đó chạy lên bắt chéo mặt ngoài cung tiếp
vào vùng thái dương khoảng 5cm thì tận cùng bằng 2 nhánh trước và sau. Chạy
cùng phía sau động mạch là tĩnh mạch thái dương nông và thần kinh tai thái
dương.

Hình 1.4. Mạch máu vùng đầu mặt cổ(Tranh của Frank H)[18]


8

1.1.6 Các cấu trúc liên quan xương gò má cung tiếp
1.1.6.1.Xương hàm trên
+ Mỏm gò má của xương hàm trên: tiếp khớp với mặt đáy thân XGM
bằng một diện khớp rộng hình tam giác mà ba cạnh nằm trên đường biên của
mặt ngoài, mặt ổ mặt và mặt thái dương của xương gò má. Như vậy xương hàm

chấn thương vùng này có thể vỡ sàn ổ mắt, nhãn cầu tụt xuống làm lệch trục mắt
gây hiện tượng nhìn đôi (dấu hiệu Blowoat), tổn thương động mạch và thần kinh
dưới ổ mắt [48].
- Đỉnh ổ mắt ở phía sau có khe ổ mắt và ngay phía trong khe này là ống
thị giác. Khe và ống thông với hộp sọ và là nơi các dây thần kinh số II, III, IV,
VI và nhánh mắt của thần kinh V chui qua để vào ổ mắt.
1.1.6.3. Xương hàm dưới
Xương gò má cung tiếp, nhất là cung tiếp có liên quan đến lồi cầu và
mỏm vẹt của xương hàm dưới. Xương GMCT gãy sập có thể gây khó há miệng
do đè vào mỏm vẹt xương hàm dưới. Mỏm vẹt xương hàm dưới bị gãy, cơ thái
dương co, kéo mảnh gãy lên trên kẹt vào cung tiếp gây khó há miệng [4,48,52].
1.1.6.4. Các cơ bám vào xương gò má cung tiếp
- Cơ cắn: Gồm hai phần, phần nông bám vào 2/3 trước bờ dưới cung gò
má và phần giữa mặt ngoài ngành hàm và góc xương hàm dưới. Phần sâu bám
vào mặt trong xương gò má và mỏm vẹt, phần trên mặt ngoài ngành hàm dưới.
Sự bám rộng của cơ cắn có thể tạo những biến dạng hoặc di lệch đối với cung và
thân XGM khi bị gãy [39.45]. Những nghiên cứu gần đây cho rằng cơ cắn có tác
dụng gây di lệch thứ phát sau điều trị gãy xương GMCT [6].
- Cơ gò má lớn: Cơ bám vào XGM ở trước đường khớp thái dương và tận
hết ở góc miệng. Là một cơ cười, khi co kéo góc miệng lên trên và ra ngoài.
- Cơ gò má nhỏ : Bám vào mặt ngoài XGM và môi trên. Cơ góp phần
nâng môi trên và tạo nên rãnh mũi môi. Cơ gò má nhỏ và lớn cũng là nguyên
nhân gây thất bại của phương pháp chỉnh hình kín và cố định bằng mèche [52].


10

1.2. NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ GÃY XƯƠNG GÒ MÁ CUNG TIẾP
1.2.1. Nguyên nhân
- Tai nạn giao thông

di lệch ngược chiều kim đồng hồ,bên phải thân xương di lệch theo kim đồng hồ.
Trên phim X quang bờ dưới ổ mắt di lệch nhẹ xuống dưới hoặc xoay vào trong ở
đường nối trán gò má hay mỏm gò má xoay ra ngoài.
- Loại 5: Thân xương gò má xoay ra ngoài: Thường do lực tác động lên
thân xương phía dưới trục ngang làm xương gò má di lệch vào trong ra sau và ra
ngoài. Khi nhìn thẳng ở bên trái thân xương gò má di lệch theo chiều kim đồng
hồ, còn ở bên phải thân xương di lệch ngược chiều kim đồng. Trên phim X
quang mấu gò má xoay vào trong và bờ dưới ổ mắt xoay lên trên hoặc di lệch ra
ngoài ở đường nối trán gò má.
- Loại 6: Gãy phức tạp. Bao gồm tất cả các đường gãy ở thân xương như
loại 3 kèm theo đường gãy ở thân xương, loại 4 kèm theo 2 đường gãy làm tách
rời bờ dưới ổ mắt và đường nối trán gò má.
* Ellis [29] trên cơ sở phân tích 2067 trường hợp gãy xương gò má ở
Scotlen thành 7 nhóm như sau:
Nhóm 1: Gãy xương gò má không di lệch
Nhóm 2: Gãy cung tiếp
Nhóm 3: Gãy xương gò má không di lệch ở đường nối trán – gò má
Nhóm 4: Gãy xương gò má có di lệch ở đường nối trán – gò má
Nhóm 5: Gãy bục sàn ổ mắt , tổ chức ổ mắt tụt xuống xoang hàm
Nhóm 6: Gãy bờ ổ mắt
Nhóm 7: Gãy nát thân xương, nhiều đường
Các phân loại của Knight và North và Ellis dựa vào sự di lệch vào giải
phẫu đường gãy thông qua phim Water, Blondeau, Hirtz do đó đơn giản, dễ áp
dụng trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay.


12

* Năm 1977 O.D. Larsen và M. Thomsen [40] trên cơ sở nghiên cứu 495
người bệnh bị gãy xương gò má đã đưa ra phân loại gãy xương gò má cung tiếp

hợp kèm theo gãy xương GMTC như tình trạng sọ não, thành trong hốc mắt.
* Macus Zingg (1992)[56]đề nghị phân loại gãy Xương GMCT dựa trên
cơ chế chấn thương, trong đó chủ yếu là cường độ lực gồm 3 nhóm:
- Nhóm A: Gãy khu trú, nhóm này do lực với cường độ thấp.
A1: Chỉ gãy ở cung tiếp
A2: Chỉ gãy ở thành bên ổ mắt
A3: Chỉ gãy ở bờ dưới ổ mắt
- Nhóm B: Gãy toàn bộ xương gò má. Trong nhóm này, 4 trụ gò má –
trán, gò má – hàm, gò má – cung tiếp và gò má – cánh lớn xương bướm đều gãy
nên còn gọi là kiểu gãy 4 trụ.
Cường độ lực chấn thương trong trường hợp này là trung bình. Trong nhóm
B này, thân xương gò má vẫn còn nguyên vẹn, nên còn gọi là gãy nguyên khối.
- Nhóm C: Gãy xương gò má nhiều mảnh
Cường độ lực trong trường hợp này lớn , gây gãy nhiều mảnh, trong đó có
đường gãy qua thân xương.
1.4. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH X QUANG CỦA GÃY
XƯƠNG GÒ MÁ CUNG TIẾP
1.4.1. Dấu hiệu lâm sàng
-Biến dạng mặt: sập gò má bên gãy, lõm trước tai.
- Có thể sờ thấy xương mất liên tục cao thấp, hay lạo xạo dưới ngón tay
khi khám.
- Có điểm đau rõ khi ấn vào chỗ gãy [20].
- Tụ máu kết mạc, sưng nề bầm tím quanh mắt[6].
- Chảy máu mũi bên gãy.
- Há miệng hạn chế.


14

- Khớp cắn sai: cắn hở vùng răng cửa do vỡ xương ổ răng cối lớn trong bên

thành bên xoang hàm,cung tiếp và thấy rõ hình ảnh tụ dịch trong xoang hàm.
+ Trên phim cắt ngang đánh giá được:
- Đường gãy qua đường nối bướm gò má.
- Đường cong cung tiếp
- Sự cân đối của mấu ụ gò má hai bên.
- Sự lệch vào trong, ra ngoài của XGM
- Sự cân đối và liên tục của thành ngoài và thành trong hốc mắt.
+ Trên phim đứng ngang đánh giá được:
- Gãy/ di lệch của thành ngoài và thành trong xoang hàm
- Mức độ tụ máu xoang hàm, xoang trán.
- Gãy thành ngoài, thành trong ổ mắt.
- Gãy sàn ổ mắt
+ Trên phim tái tạo 3 chiều: cho phép đánh giá tình trạng gãy, di lệch của
khối gò má cùng các cấu trúc liên quan chính xác và chi tiết hơn.
Để có được kết quả hình ảnh phim X – quang tốt với điều kiện: chiều thế
chụp đúng, chất lượng phim và hóa chất rửa phim tốt, đồng thời có sự hợp tác
của bệnh nhân.
1.5. CHẨN ĐOÁN GÃY XƯƠNG GÒ MÁ CUNG TIẾP
Ta cần có chẩn đoán chính xác để giúp cho việc điều trị được hiệu quả.
Trong chẩn đoán cần phải hỏi bệnh sử của bệnh nhân. Đồng thời phải khám tỉ
mỉ, chi tiết tổn thương trên bệnh nhân. Dựa vào những dấu hiệu lâm sàng và
hình ảnh phim X – quang để chẩn đoán được chính xác.
Trong chẩn đoán cần xác định rõ vị trí xương gãy, các hình thái gãy
xương để từ đó có kế hoạch điều trị, nắn chỉnh và phục hồi lại xương gãy một
cách hoàn thiện.


16

Chẩn đoán xác định dựa vào lâm sàng và hình ảnh X – quang thấy được

1.6.4. Song thị
Gẫy XGM có thể gây tổn thương thần kinh cơ, kẹt cơ vận nhãn hoặc lệch
trục nhãn cầu, phù nề tổ chức quanh nhãn cầu. Do phù nề, triệu chứng này rồi sẽ
hết. Tổn thương sàn ổ mắt cũng gây lệch trục nhãn cầu và có dấu hiệu nhìn đôi.
1.6.5. Lõm mắt
Di chứng thường gặp trong di lệch nhãn cầu là lõm mắt. Nguyên nhân là
do sự gia tăng thể tích hốc mắt hoặc giảm thể tích tổ chức quanh phần mềm
nhãn cầu. Thể tích tổ chức quanh nhãn cầu giảm do thoát vị xuống xoang hàm,
do teo tổ chức mỡ hoặc xơ hoá tổ chức quanh nhãn cầu [48,52].
Trong chấn thương có tổn thương các thành bờ ổ mắt dẫn đến tổ chức
phần mềm ổ mắt thoát vị gây lõm mắt nhất là tổn thương thành trong và sàn ổ
mắt, đặc biệt tổn thương sàn ổ mắt làm tổ chức phần mềm ổ mắt rơi vào xoang
hàm ( Blowoat) làm lệch trục nhãn cầu gây song thị, đôi khi có song thị khi nhìn
các hướng (do kẹt cơ, tổn thương các thành kết hợp …).
1.6.6. Thụt nhãn cầu
Sàn hốc mắt thiếu hổng hoặc di chuyển xuống dưới làm cho nhãn cầu di
chuyển xuống theo gây nên hiện tượng thụt mắt, ghép xương sụn, lót sàn bằng
lưới titanium là phương pháp được lựa chọn [48].
1.6.7. Giảm hay mất thị lực
Nguyên nhân do phù nề, do máu tụ trong hốc mắt, do xuất huyết nội nhãn
chèn ép dây thần kinh thị hoặc do các mảnh gẫy di lệch chèn ép hoặc làm đứt rời
hoàn toàn dây thần kinh thị. Nếu dây thần kinh thị bị thương tổn do chấn thương
và chèn ép cơ học cần phải được tiến hành phẫu thuật cấp cứu khẩn cấp [48].
1.6.8. Há miệng hạn chế
Là biến chứng hay gặp, do dính khớp thái dương hàm, dính hoặc kẹt giữa
mỏm vẹt và cung tiếp hoặc xương gò má hoặc hiện tượng xơ hoá cơ cắn sau
chấn thương. Nếu cản trở do cơ học sau khi phẫu thuật sẽ hết, còn do hiện tượng
xơ hoá phải tập luyện tích cực [52].



19

Năm 1909, Keen [36] mô tả phương pháp chỉnh hình xương gò má qua
đường trong miệng, một dụng cụ nâng nhọn được chọc qua niêm mạc, hướng về
phía sau ngách tiền đình trên, đưa dụng cụ luồn sang phía sau cung gò má, chỉnh
hình qua lực của dụng cụ nâng , chỗ thủng niêm mạc không cần khâu lại.
- Năm 1917, Deiber đã báo cáo dùng mảnh ghép xương sườn để tái tạo lại
bờ dưới ổ mắt trong những trường hợp bệnh nhân bị thiếu hổng xương bờ dưới
của hố mắt do chấn thương.
Năm 1927 Gilles [32] mô tả kỹ thuật tiếp cận xương gò má qua một
đường rạch ngắn khoảng 2cm dưới lớp tóc, rạch qua vùng thái dương đưa dụng
cụ nâng trượt xuống phía sau xương gò má, xương gò má được chỉnh hình bằng
cách tác dụng một lực ra trước và ra ngoài, phối hợp với hướng dẫn của bàn tay
đối diện.
Năm 1940, Limberg dùng móc móc xương để nâng xương gò má.
Năm 1964, Dingman và Natvig đã nhận xét trong khi kỹ thuật chỉnh hình
kín phổ biến và hướng khi xử trí vỡ xương gò má, các nhà phẫu thuật nhiều kinh
nghiệm có thể nhanh chóng nhận thấy rằng: Trong nhiều trường hợp các phương
pháp chỉnh hình kín có những mặt hạn chế của nó.
Ngày nay từng trường hợp tổn thương mà có các phương pháp điều trị
khác nhau, phương pháp phẫu thuật kết hợp xương được thực hiện trong các
trường hợp có di lệch ( kết hợp xương bằng chỉ thép hoặc kết hợp xương bằng
nẹp vít ). Lâm Ngọc Ấn [1,2] đề xuất các loại gãy xương GMCT. Và một số tác
giả khác[ 5,6,8,19,22] đã nghiên cứu về điều trị gãy xương GMCT.
1.7.2. Các phương pháp điều trị
1.7.2.1.Điều trị bảo tồn
- Chỉ định điều trị bảo tồn cho các trường hợp gãy xương GMCT không
di lệch hoặc di lệch ít; Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, hình ảnh x-quang và
chức năng.
- Điều trị bằng thuốc,chăm sóc dinh dưỡng và theo dõi bệnh nhân 2 - 3 tuần.

vuông góc với xương gãy hơn, do đó lực đòn bẩy mạnh hơn[32].


21

- Đường bờ mi dưới: Đường bờ mi dưới đi ngay dưới bờ mi, cách bờ
mi khoảng 2mm, dọc mi từ trong ra ngoài.Ưu điểm của đường này cho kết quả
thẩm mỹ hơn so với đường dưới sụn mi, nhưng khó thực hiện hơn vì dễ bị biến
chứng lộn mi hơn[6,16]
- Đường trong miệng( Cadl well Luc): Hay đường ngách tiền đình lợi.
Đường này cho phép tíêp cận mặt trước và mặt sau, có ưu điểm là an toàn và
thẩm mỹ, nhược điểm là không tiếp cận được cung tiếp [35].
- Đường trán- thái dương( coronal)
+Đường rạch trán- thái dương hai bên( Bicoronal):
Đường rạch này đã được các nhà giải phẫu thần kinh sử dụng để đi vào
vùng sọ trước gần một thế kỷ nay [55].
.Năm 2006 Zhang QB cùng cs sử dụng đường rạch trán- thái dương trong điều
trị gãy Xương GMCT kết quả tốt đạt 84 %[55]. Năm 2009 Sujith Kumar Shetty
và cộng sự đã sử dụng đường rạch trán – thái dương trong điều trị gãy phức hợp
Xương GMCT cho kết quả tốt là 91,7% [54].
Lâm Hoài Phương năm 2007[15] sử dụng đường trán – thái dương cải
biên 1 bên trong chấn thương và tạo hình di chứng gãy cung tiếp gò má, thu kết
quả tốt 88%. Tuy nhiên nhược điểm của đường mổ này là vẫn rộng.
+Đường rạch trán – Thái dương một bên( Hemicoronal).
Năm 1990 Abubaker A.O[23] đã cải tiến đường rạch trán – thái dương hai
bên( Bicoronal) thành đường rạch trán – thái dương một bên ( Hemicoronal)
trong một nghiên cứu về trấn thương sọ mặt. Đường này còn gọi là đường bán
vành tiếp cận trực tiếp toàn bộ xương gò má và cung tiếp. Ưu điểm là cung cấp
một phẫu trường so với đường trán thái dương hai bên có hẹp hơn, tuy nhiên vẫn
còn rộng

* Ogden( Mỹ) nghiên cứu sử dụng phương pháp Gillies để điều trị gãy
xương gò má (1991) [47]. Tác giả đã nghiên cứu 105 ca được điều trị bằng
phương pháp Gillies đã đạt được kết quả 92%, số còn lại phải mổ. Tác giả gợi ý


23

rằng nên thường xuyên sử dụng phương pháp Gillies hơn vỉ nó gây ít thương tật
và gây mê ngắn.
* Jovic: (Nam Tư) nghiên cứu gãy phức hợp xương gò má và hàm trên
các chỉ định thăm dò và tái tạo lại nền ổ mắt (1992) [35].Tác giả đã thực hiện 75
trường hợp được mổ thì 56 – 81% cần thiết phải tái tạo lại bờ dưới ổ mắt bằng
mảnh ghép xương mào chậu.
* Friedrich (Đức) nghiên cứu thăm dò bằng siêu âm, X quang trước và
sau nắn chỉnh đường gãy xương gò má (1994) [31].Tác giả đã nêu lên việc thăm
dò bằng siêu âm và X quang trước và sau nắn chỉnh đường gãy nó giúp cho phẫu
thuật viên chủ động và kiểm tra lại kết quả điều trị ngay tức thời.
* Benhamon, Kadirri ( Pháp) nghiên cứu gãy xương gò má hốc mắt, cung
tiếp trên 85 trường hợp (1996) [24].Tác giả đưa ra tỷ lệ gãy xương ở nam là
86% nữ là 14% và nhóm tuổi hay gặp là 18 – 20 tuổi chiếm tỷ lệ 78%.Trong đó
tai nạn giao thông chiếm chủ yếu có tỷ lệ 45%.
1.8.2. Các nghiên cứu trong nước
* Nguyễn Thế Dũng nghiên cứu về gãy xương gò má kết quả điều trị qua
72 trường hợp tại Bệnh viện Khánh Hòa trong 22 năm(1981- 2002) [5]. Tác giả
đã nêu được các phương pháp điều trị hiện nay, nhấn mạnh phương pháp điều trị
nắn chỉnh xương và cố định xương bằng bấc gạc tẩm thuốc đặt trong xoang hàm
để làm vật liệu độn cho xương không gãy lún.
* Lâm Huyền Trâm( 1996) nghiên cứu về điều trị gãy xương gò má bằng
phương pháp kết hợp xương cố định bằng chỉ thép[19]. Tác giả đã nêu lên ưu
điểm của phương pháp kết hợp xương cố định bằng chỉ thép và cũng rút ra một


Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm các bệnh nhân bị gãy xương GMCT được điều trị phẫu thuật kết hợp
xương tại khoa Răng Hàm Mặt - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương từ tháng
01/2013 đến tháng 7/2013.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân bị gãy xương GMCT mới chưa tạo can xương chắc hoặc
chưa tạo khớp giả (không quá 3 tuần kể từ khi bị chấn thương ) có chỉ định phẫu
thuật kết xương.
- Bệnh nhân có chẩn đoán xác định gãy xương GMCT có chỉ định phẫu
thuật kết xương. Có thể kết hợp với các chấn thương khác hoặc chấn thương sọ
não đã ổn định, cho phép gây mê và phẫu thuật.
- Bệnh nhân đồng ý hợp tác điều trị và nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân gãy xương GMCT cũ đã can xương chắc hoặc khớp giả.
- Bệnh nhân bị chấn thương sọ não kết hợp chưa ổn định hoặc kèm bệnh
lý toàn thân chưa cho phép gây mê và phẫu thuật an toàn.
- Bệnh nhân không đồng ý hợp tác điều trị và nghiên cứu.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Chúng tôi thực hiện đề tài bằng phương pháp nghiên cứu thử nghiệm
lâm sàng không đối chứng.
* Thu thập thông tin: Chúng tôi thu thập thông tin bằng trực tiếp khám
bệnh nhân, làm hồ sơ Bệnh án, tham gia điều trị và phẫu thuật. Khi BN ra viện
hẹn khám lại sau 3 tháng và trực tiếp lấy số liệu khi tái khám. Nhập đầy đủ
thông tin vào mẫu hồ sơ nghiên cứu của từng BN.
* Phương pháp chọn mẫu: Chúng tôi chọn mẫu theo mục đích. Cỡ mẫu
dự kiến khoảng từ 30 - 50 Bệnh nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status