1
A. GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Streptococcus suis (Liên cầu lợn) là cầu khuẩn Gram dương có
khả năng lây từ động vật (chủ yếu là lợn) sang người qua thói quen ăn
uống thực phẩm sống và vết xây xước trên da trong quá trình giết mổ,
chế biến thịt lợn. Bệnh có khả năng thành dịch với tỷ lệ tử vong cao từ
12,8% đến 27,9%. Bệnh nhân nhiễm S. suis sau khi ra viện có thể để lại
các di chứng nặng nề như điếc từ 50% - 66,4%, rối loạn tiền đình
(22,7%), một số hoại tử cắt cụt chi. Những biến chứng này rất ít khả
năng hồi phục, dẫn đến những gánh nặng lớn về sức khoẻ cũng như
kinh tế cho bệnh nhân. Tại Việt Nam, bệnh do S. suis đang là một vấn
đề thời sự trong chuyên ngành Truyền Nhiễm do những yếu tố về dịch
tễ rất đặc biệt và hậu quả trên lâm sàng rất nặng nề nếu bệnh nhân
không được chẩn đoán và điều trị sớm. Bệnh xếp hàng thứ 6/10 bệnh
truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất. Hiện nay, tình trạng S.
suis kháng gần như hoàn toàn với các kháng sinh hay sử dụng trong
chăn nuôi dẫn đế nguy cơ kháng thuốc của vi khuẩn trên người. Các gen
kháng thuốc và các gen liên quan tới độc lực của vi khuẩn cũng đã được
nghiên cứu trên Thế giới. Ở Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung
ở phía Nam. Đến nay, mặc dù bệnh lưu hành rộng rãi nhưng chưa có
một nghiên cứu nào trong nước đánh giá tổng thể về đặc điểm lâm sàng,
cận lâm sàng, các yếu tố tiên lượng cũng như một số yếu tố độc lực của
vi khuẩn cũng như phân bố các yếu tố này trên các thể lâm sàng. Vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm 3 mục tiêu:
1. Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các thể bệnh do
Streptococcus suis gây ra ở người.
2. Xác định các yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân bị bệnh
do Streptococcus suis.
3. Đánh giá mức độ nhạy cảm với kháng sinh và phát hiện một
số gen kháng thuốc, gen độc lực của Streptococcus suis.
quan khác nhau, và gây ra phản ứng viêm tại các cơ quan đó. Ngoài ra,
S. suis còn có khả năng đi qua hàng rào máu-não xâm nhập vào hệ thần
kinh trung ương gây ra bệnh cảnh viêm màng não.
1.2. Dịch tễ học nhiễm streptococcus suis ở người
Trên Thế giới, trường hợp nhiễm khuẩn do S. suis ở người đầu
tiên được mô tả vào năm 1968 tại Đan Mạch. Từ đó, số lượng các
trường hợp bệnh được báo cáo trên toàn thế giới tăng lên rất nhiều ở các
nước bao gồm: Hà Lan, Bỉ, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức, Thuỵ Điển,
Canada. Đặc biệt ở khu vực Châu Á như Hồng Kông, Đài Loan, Trung
Quốc, Thái Lan và Việt Nam chiếm 90,2%. Bệnh có khả năng gây dịch,
điển hình là 2 vụ dịch lớn ở Trung Quốc năm 1999 và 2005 với số
người mắc lớn và tỷ lệ tử vong cao. Tại Việt Nam, trường hợp nhiễm S.
suis đầu tiên được mô tả vào 11/1996 với bệnh cảnh viêm màng não. Kể
từ đó, các ca bệnh do S. suis gây bệnh trên người được báo cáo khắp 3
miền của đất nước. Theo Cục y tế dự phòng – Bộ y tế, tính đến năm
2016, tỷ lệ mắc S. suis ở người là 0,007/100,000 dân, bệnh đứng hàng
thứ 6 trong 10 bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất.
1.3. Các thể lâm sàng của nhiễm S. suis và yếu tố tiên lượng tử vong
Streptococcus suis gây bệnh trên người với bệnh cảnh lâm sàng
đa dạng như viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn,
viêm nội tâm mạc...Trong đó, viêm màng não mủ do S. suis chiếm tỷ lệ
68% trong các bệnh cảnh lâm sàng của nhiễm khuẩn do S. suis quan sát
được trên toàn thế giới. Điếc là biến chứng thường gặp nhất ở bệnh
3
nhân viêm màng não do S. suis với tỷ lệ xung quanh 50%, và khả năng
hồi phục rất thấp. Sốc nhiễm khuẩn thường diễn biến rất nhanh và tỷ lệ
tử vong rất cao từ 60% đến 80% tuỳ từng nghiên cứu. Các yếu tố như
rối loạn đông máu, suy đa tạng, bệnh lý nền cũng như thời gian ủ bệnh
2. Có biểu hiện lâm sàng của nhiễm khuẩn huyết và/hoặc viêm
màng não
3. Cấy máu/dịch não tủy và/hoặc PCR máu/dịch não tuỷ dương
tính với S. suis.
4. Đồng ý tham gia nghiên cứu.
4
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân
1. Bệnh nhân có thêm kết quả vi sinh hoặc sinh học phân tử nhiễm
thêm vi khuẩn khác ngoài S. suis
2. Bệnh nhân có bệnh lý nền suy gan, suy thận trước khi bị bệnh
3. Bệnh nhân đồng nhiễm HIV, HCV, HBV
4. Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu tại bất kì thời
điểm nào trong quá trình tiến hành nghiên cứu
2.2. Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu.
2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu: Chọn mẫu thuận tiện, lấy toàn bộ các bệnh
nhân đáp ứng được tiêu chuẩn chọn mục 2.1.1, điều trị tại Bệnh
viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ tháng 05/2015 đến tháng
05/2018.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Bệnh nhân sau khi được chẩn đoán xác định nhiễm S. suis sẽ
được phân vào 3 nhóm: (1) Viêm màng não, (2) Nhiễm khuẩn huyết có
viêm màng não và (3) Sốc nhiễm khuẩn. Tiến hành đánh giá, phân tích
các đặc điểm chung cũng như so sánh các đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng, các yếu tố tiên lượng, gen kháng thuốc, gen độc lực, typ huyết
thanh (sero type),
2.4.1. Các bước tiến hành
a) Mục tiêu nghiên cứu 1: Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng chung và các thể bệnh do Streptococcus suis gây ra ở người
định căn nguyên gây bệnh, các xét nghiệm theo dõi điều trị.
b) Mục tiêu nghiên cứu 2: Phân tích các yếu tố tiên lượng tử vong ở
bệnh nhân bị bệnh do Streptococcus suis
Bệnh nhân trong nghiên cứu sẽ được chia làm 02 nhóm dựa vào
kết quả điều trị
1. Nhóm sống: là những bệnh nhân được điều trị khỏi và những
bệnh nhân được điều trị có kết quả tiến triển tốt, toàn trạng đỡ
sau đó chuyển tuyển tuyến dưới điều trị theo theo nguyện vọng
của bệnh nhân và người nhà.
2. Nhóm tử vong: là những bệnh nhân tử vong tại bệnh viện hoặc
những bệnh nhân quá trình điều trị bệnh không cải thiện, diễn biến
nặng, không qua khỏi và người nhà bệnh nhân xin về để tử vong
tại nhà.
Chúng tôi sử dụng phân tích đơn biến và đa biến các đặc điểm
lâm sàng, cận lâm sàng, tiền sử tiếp xúc, bệnh lý nền giữa 2 nhóm để
tìm ra các yếu tố tiên lượng tử vong của bệnh nhân.
Kết quả điều trị: Tỷ lệ tử vong, số ngày điều trị trung bình, di
chứng (điếc, liệt, tâm thần, hoại tử cắt cụt chi khi ra viện).
c) Mục tiêu nghiên cứu 3: Đánh giá mức độ nhạy cảm với kháng sinh
và phát hiện một số gen kháng thuốc, gen độc lực của Streptococcus
suis
Chúng tôi tiến hành xác định mức độ nhạy cảm của S. suis với
kháng sinh bằng kháng sinh đồ, đo MIC bằng kĩ thuật E-test (thanh Etest của hãng Biomerieux-Pháp) theo hướng dẫn của CLSI M100.
Xác định gen kháng thuốc, gen độc lực cũng, các typ huyết
thanh và kiểu gen theo MLST dựa vào phân tích trình tự bộ gen của S.
suis sau khi sử dụng kĩ thuật giải trình tự gen thế hệ mới bằng máy
Miseq, mồi chạy trong kít chuẩn bị thư viện NexteraXT của hãng
Illumia – Mỹ. Kết quả được kiểm tra, phân tích cùng với các chuyên gia
của Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Trường Đại học Oxford – Vương Quốc
Anh đặt tại Hà Nội (OUCRU).
bộ nhóm nghiên cứu.
So sánh trình tự toàn bộ bộ gen của các chủng MSLT với nhau và
với chủng tham chiếu.
2.5. Các tiêu chuẩn, kĩ thuật sử dụng trong nghiên cứu
– Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn: Theo
Surviving Sepsis Campaign (2012)
– Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm màng não trên lâm sàng: Theo
Principles and Practice of Infectious Diseases (2013).
– Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu: Theo thang điểm AUDIT-C
của WHO (2001) và phát triển bởi Frank (2008). Bệnh nhân được
chẩn đoán nghiện rượu khi có tổng điểm ≥ 4 đối với nam và ≥ 3 đối
với nữ
– Kĩ thuật xác định Streptococcus suis bằng Realtime PCR: Sử
dụng cặp mồi và probe cho gene cps2 để xác định S. suis
7
Primers:
cps2JF (5’- GGTTACTTGCTACTTTTGATGGAAATT-3’)
cps2JR (5’-CGCACCTCTTTTATCTCTTCCAA-3’)
o Probe: (FAM-TCAAGAATCTGAGCTGCAAAAGTGTCAAATTGATAMRA). Hãng Bioresearch (Mỹ)
+ Máy sử dụng: 7500 Fast Realtime PCR (Applied Biosystem – Mỹ)
+ Qui trình Realtime PCR cho gen cps2 (theo quy trình tại khoa
xét nghiệm Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TW và OUCRU Hà Nội
– Kĩ thuật nuôi cấy, định danh S. sui: Thiết bị: Máy cấy máu Bactec
9050/9120: Bactec Dickinson, Mỹ; và một số máy móc của Anh,
Đức, Pháp; Môi trường thạch máu cừu, Socola (Oxoid, Anh). Tiến
hành định danh vi khuẩn bằng hệ thống máy Vitek 2 compact
Biomeriux, Pháp.
– Kĩ thuật kháng sinh đồ và xác định MIC bằng E-test: Sử dụng các
Tần số (n=221)
Tỉ lệ %
Phơi nhiễm qua tiếp xúc
59
26,70
41
18,55
Giết mổ lợn
11
4,98
Chế biến thực phẩm sống
7
3,17
Chăn nuôi lợn
Phơi nhiễm qua ăn uống
46
20,81
41
18,55
Ăn tiết canh
5
2,26
Ăn các thực phẩm sống khác
Ăn uống + tiếp xúc
12
5,43
Không rõ
104
47,06
Có 117 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ 52,94%) có tiền sử phơi nhiễm
151
68,33
Buồn nôn
139
62,90
Nôn
132
59,73
Đau mỏi cơ
121
55,00
9
Triệu chứng hay gặp của bệnh nhân nhiễm S. suis là sốt, đau
đầu và rét run.
Bảng 3.3. Triệu chứng cơ năng của từng thể
NKH có
Sốc nhiễm
p
VMN
khuẩn
Triệu chứng
cơ năng
n=102
n=79
n=40
(%)
(%)
(%)
(72,5)
76
49
14
NKH có Sốc nhiễm
VMN
p
VMN
khuẩn
Triệu chứng
n=102
n=79
n=40
thực thể
(%)
(%)
(%)
97
60
14
Kernig (+)
Bảng 3.6. Biến đổi sinh hóa máu
VMN
Sinh hóa
Creatinin ≥
120 (mol/l)
BilirubinTP >
17 (mmol/l)
AST ≥ 40
(UI/l)
ALT ≥ 37
(UI/l)
Tần số
(%)
5
(4,90)
21
(20,59)
52
(50,98)
60
(58,82)
NKH có
VMN
Tần số
(%)
16
(20,25)
36
(68,78)
p
(59,49)
(92,5)
(57,92)
(Kiểm định khi bình phương)
Nhóm bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có sự giảm PT%, fibrinogen
và tăng D-dimer, APTTs rõ rệt so với các bệnh nhân ở 2 nhóm còn lại
3.1.4. Kết quả điều trị
– Tỷ lệ tử vong: Tỉ lệ tử vong của chung là 14,03%. Tỉ lệ tử vong trong
nhóm sốc nhiễm khuẩn là 60%. Có 35,26% bệnh nhân tử vong trong 24
giờ đầu tiên sau nhập viện.
– Các biến chứng khi ra viện: Biến chứng điếc của nhóm nghiên cứu
là 44,8%.
3.2. Các yếu tố tiên lượng tử vong của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 3.8. Mô hình hồi quy các yếu tố dịch tễ liên quan đến tử vong
Giá trị
Giá trị
Đặc điểm
OR 95% CI
aOR 95% CI
p
p
Phơi nhiễm
Không do ăn
1
1
uống
3,7 1,7 8,2
1,5
Do ăn uống
Đặc điểm
Tiêu chảy
Không
Có
OR
Giá trị
aOR
p
95% CI
1
95% CI
Giá trị
p
1
6,23 2,78
13,9
3
Ban xuất huyết hoại tử
Không
1
5,02 58,46
4,30
17,47 0,04
3
1
6
1
1
19,1
143,3
0,1
2,56
0,004 2,41
32,44 0,51
4
5
8
1
1
7,90 1,83 34,13 0,01 1,63
0,2
12,37 0,64
1
Các bệnh nhân có Creatinin ≥120 μmol/l và Bilirubin TP >17
UI/l có nguy cơ tử vong cao hơn các bệnh nhân khác (OR lần lượt là
21,78 và 4,3; p
1
500
8,40 2,47 28,57
3,12 0,80 12,23 0,10
1
Các bệnh nhân có chỉ số Fibrinogen tại thời điểm nhập viện
14
1/2
Viêm
NKH có
màng não
VMN
n=37
n=28
(%)
(%)
35
26
(94,59)
(92,86)
2
2
(5,41)
(7,14)
0
0
(0,00)
(0,00)
Sốc nhiễm
khuẩn
n=15
(%)
13
(86,67)
não
ST
p
n=37
n=28
n=15
n=80
(%)
(%)
(%)
(%)
29
25
11
65
ST1
(78,38)
(89,29)
(73,33)
(81,25)
6
2
1
9
ST665
(16,22)
(7,14)
(6,67)
(11,25)
1
2
ST chưa xác định
(2,7)
(0,00)
(6,67)
(2,50)
Kiểu gen ST1 chiếm chủ yếu (81,25%). Không có sự khác biệt
về việc phân bố các kiểu gen giữa các nhóm bệnh. ST25 và ST28 là 2
16
kiểu gen mới. Có 02 mẫu chưa xác định được sequence type.
3.3.4. Sự xuất hiện các gen độc lực
– Phân bố các gen độc lực
Bảng 3.14. Phân bố các gen độc lực
Viêm
NKH có Sốc nhiễm
Tổng
VMN
khuẩn
Gen độc màng não
p
lực
n=37
n=28
n=15
n=80
(%)
(%)
(%)
(96,25)
32
19
9
60
salK/R
0,08
(86,49)
(67,86)
(60,00)
(75,00)
Chủ yếu gặp các gen độc lực mrp, epf và sly trong các mẫu bệnh phẩm
phân lập được. Không có sự khác biệt về việc phân bố gen độc lực giữa
các nhóm bệnh.
Chương 4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
.1.1.
Đặc điểm về tuổi, giới tính và phân bố theo tháng
– Đặc điểm về tuổi
Nghiên cứu trên 221 bệnh nhân trong nghiên cứu, kết quả cho thấy
phần lớn bệnh nhân ở độ tuổi trung niên từ 40 – 60 tuổi, chiếm 69,23%. Độ
tuổi trung vị của bệnh nhân là 53 tuổi. Kết quả này tương đồng với một số
nghiên cứu khác đã được công bố trên thế giới, như ở Trung Quốc tuổi mắc
S. suis trung vị là 54 tuổi, Thái Lan là 52,9 tuổi. Tại Việt Nam, nghiên cứu
của tác giả Hồ Đặng Trung Nghĩa tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP. Hồ
Chí Minh trên 101 bệnh nhân cũng cho kết quả tương tự (trung vị là 50
tuổi). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi một lần nữa khẳng định S. suis
thường gặp ở các đối tượng độ tuổi trung niên (trên 40 tuổi), trong khi đó
rất hiếm gặp ở các độ tuổi trẻ (dưới 30 tuổi).
– Đặc điểm về giới.
tố nguy cơ do nghề nghiệp ở các nghiên cứu báo cáo ca bệnh là khoảng
58,6% và từ các nghiên cứu có cỡ mẫu lớn là 25%. Kết quả từ nghiên
cứu này một lần nữa cho thấy dự phòng lây truyền S. suis qua đường sử
dụng các thực phẩm từ lợn không được nấu chín đóng vai trò quan
trọng trong việc giảm thiểu nguy cơ gây bệnh. Trong đó, các can thiệp
nhằm nâng cao kiến thức, đồng thời thay đổi các tập quán ăn uống
không lành mạnh cần được chú trọng trong bối cảnh gia tăng các ca
nhiễm liên cầu lợn tại Việt Nam.
4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các thể bệnh do S. suis gây
ra ở người.
4.2.1. Các thể bệnh lâm sàng.
Viêm màng não là thể lâm sàng phổ biến nhất trong nhóm bệnh
nhân nghiên cứu chiếm 46,1%, thể nhiễm khuẩn huyết có viêm màng
não là 35,7%, thể sốc nhiễm khuẩn chiếm 18%. Các thể lâm sàng được
xác định từ các nghiên cứu trên thế giới có sự khác biệt đáng kể giữa
các quốc gia và giữa các thiết kế nghiên cứu và phương pháp chẩn đoán
khác nhau. Theo tác giả Wangsomboonsiri (2008), viêm màng não
chiếm 52%, tiếp đến là nhiễm khuẩn huyết với 27% và sốc nhiễm khuẩn
18
là 12%. Tại Trung Quốc, tỉ lệ sốc nhiễm khuẩn lên tới 64% trong vụ
dịch tại Giang Tô và 28,9% trong vụ dịch tại Tứ Xuyên. Điều này cho
thấy tính chất gây bệnh cũng như phân bố các chủng gây bệnh khác
nhau giữa các quốc gia.
4.2.2. Đặc điểm lâm sàng
a) Các triệu chứng cơ năng.
100% bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có triệu chứng
đầu tiên là sốt, kết qủa này tương tự vụ dịch ở Tứ Xuyên – Trung Quốc.
Triệu chứng lâm sàng tại thời điểm nhập viện có sự khác biệt đáng kể
tại Thái Lan của tác giả Fongcom và cộng sự lại cho thấy ban xuất
19
huyết hoại tử chiếm 95%. Ban xuất huyết hoại tử là một triệu chứng hay
gặp ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn do S. suis. Tính chất ban xuất huyết
hoại tử trong nghiên cứu của chúng tôi là ban màu tím đen, ban dạng
dát, tập trung thành mảng, đám, thường xuất hiện đầu tiên là cánh tai,
vùng đầu, mặt, cổ, sau lan xuống ngực bụng và toàn thân. Kết quả này
có thể là bằng chứng quan trọng trong việc xác định sớm các trường
hợp sốc nhiễm khuẩn do S. suis và là cơ sở cho các bác sĩ lâm sàng đưa
ra các chiến lược điều trị và chăm sóc phù hợp nhằm giảm thiểu tử vong
và nâng cao hiệu quả điều trị ở bệnh nhân nhiễm liên cầu lợn.
4.2.4. Đặc điểm cận lâm sàng
a) Đặc điểm sinh hoá máu.
Các chỉ số bất thường về chức năng gan, thận có sự khác biệt rõ
rệt giữa nhóm bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn so với hai nhóm còn lại. Trên
90% bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có tỷ lệ bất thường về chức năng gan
thận. Kết quả trong nghiên cứu chúng tôi tương đồng với các nghiên
cứu đã được thực hiện tại Thái Lan và Trung Quốc. Nghiên cứu của tác
giả Hongjie Yu và cộng sự báo cáo tỉ lệ bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có
suy giảm chức năng gan và thận lần lượt là 90% và 59%, cao hơn so với
nhóm bệnh nhân không bị sốc nhiễm khuẩn (68% và 3%). Tại Thái Lan,
nghiên cứu của tác giả Fongcon năm 2009 cũng báo cáo kết quả tương
tự khi các bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có sự tăng mạnh men gan,
Creatinin và Bilirubin toàn phần. Những tổn thương gan, thận nặng nề
trên bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có sự tương đồng với bệnh cảnh lâm
sàng của bệnh nhân. Đa số bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn của chúng tôi có
triệu chứng thiểu niệu hoặc vô niệu, một số bệnh nhân phải tiến hành
lọc máu nhằm cải thiện và hỗ trợ chức năng thận.
nhiễm khuẩn, trong khi đó tỉ lệ bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn trong
nghiên cứu của chúng tôi là 18%. Một điểm đáng lưu ý nữa là nghiên
cứu của chúng tôi được tiến hành tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung
ương, là tuyến cuối cùng cao nhất điều trị các bệnh Truyền nhiễm, đa số
các bệnh nhân điều trị ở đây đều có tình trạng nặng, vượt quá khả năng
điều trị của các bệnh viện tuyến dưới, và bệnh nhân thường được
chuyển đến muôn, do đó tỷ lệ tử vong ở các bệnh viện tuyến trung ương
chuyên khoa thường cao hơn.
4.3.2. Biến chứng của bệnh nhân nhiễm S. suis.
a) Biến chứng điếc.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ biến chứng điếc là 44,8%.
Kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu khác đã được thực hiện
tại Việt Nam và trên thế giới. Một số nghiên cứu đã báo cáo các biến
chứng lâm sàng do nhiễm liên cầu lợn ở người chủ yếu là điếc và rối
loạn tiền đình. Báo cáo về tỉ lệ điếc sau điều trị ở bệnh nhân thường
rất khác biệt giữa các nghiên cứu, từ đến 6% đến 100% với tỉ lệ
trung bình là khoảng 39%. Tại Việt Nam, biến chứng điếc lần lượt là
66,4% và 27,3%.
b) Biến chứng hoại tử chi.
Một biến chứng chúng tôi chưa thấy y văn trên thế giới đề cập
đến đó là hoại tử chi do S. suis. Trong nghiên cứu của chúng tôi, biến
chứng hoại tử đầu chi gặp ở 6 bệnh nhân, trong đó 4 bệnh nhân có bệnh
cảnh sốc nhiễm khuẩn, nhưng dẫn đến phải cắt cụt đầu chi gặp ở 3 bệnh
nhân chiếm tỷ lệ 1,36%. Những bệnh nhân này sau một thời gian điều
trị thoát sốc hoặc tiến triển đỡ bắt đầu xuất hiện tím các đầu chi, rồi
chuyển thành màu đen hoại tử khô từ đốt giữa và đốt xa các ngón.
Những bệnh nhân này, các đầu chi thường không bảo tồn được và buộc
21
Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự của Wittaya
Wangsomboonsiri năm 2008. Mô hình hồi quy đa biến cho thấy, ở bệnh
nhân có tăng tiêu thụ fibrinogen với giá trị
4.5.2. Typ huyết thanh của các chủng phân lập được
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn các chủng thuộc typ
huyết thanh 2, tỉ lệ chiếm tới 92,25%. Typ 14 chiếm tỉ lệ thấp hơn với
5% và typ1/2 với 2,5%, đặc biệt trong đó, typ 1/2 chỉ xuất hiện ở các
bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu
của Nguyễn Thị Hoàng Mai và cộng sự cũng cho thấy typ huyết thanh 2
là căn nguyên quan trọng hàng đầu gây viêm màng não do S. suis ở
người lớn tại khu vực phía Nam Việt Nam với 150/151 bệnh nhân
nhiễm S. suis typ huyết thanh 2, một bệnh nhân còn lại nhiễm typ 24.
Phần lớn các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều báo cáo kết quả
nhiễm liên cầu lợn ở người chủ yếu là typ 2, ngoài ra các typ khác bao
gồm typ1, 4, 14 và 16 chiếm tỉ lệ rất thấp.
4.5.3. Phân loại sequence type (ST) của các chủng được phân lập
Có 81,25% các chủng nghiên cứu thuộc ST1 và 09 trường hợp
ST665; tuy nhiên nhóm ST665 này rất gần với ST1 chỉ khác allele trên gen
gki. ST1 được báo cáo là căn nguyên chủ yếu gây bệnh trên người và lớn
tại châu Á (Việt Nam, Thái Lan, Hồng Kông, Nhật Bản, Trung Quốc,..),
châu Âu (cùng với ST20 tại Hà Lan) và Argentina. Trong khi đó ở Bắc Mỹ,
S. suis typ 2 có ba ST lưu hành là ST25, ST28 và ít gặp hơn ST1. Trong
nghiên cứu, chúng tôi bắt gặp 2 chủng thuộc ST25 và ST28.
4.5.4. Gen độc lực
Gần như toàn bộ các chủng được phân lập đều mang đồng thời
3 gen độc lực mrp, epf và sly với tỉ lệ lần lượt là 98,75%, 97,5% và
96,25%. Có tới 95% bệnh nhân mang tổ hợp cả 3 gen độc lực bao gồm
mrp+/epf+/sly+ và 72,5% bệnh nhân mang tổ hợp cả 4 gen độc lực
đang xác định trong nghiên cứu là mrp+/epf+/sly+/SalKR+. Các gen
mrp, epf và sly đã được chứng minh là các chỉ điểm về độc lực có ý
nghĩa cho phép phân biệt giữa các chủng độc lực (hiện diện) và các
chủng ít độc lực hơn (không hiện diện) đối với S. suis tại châu Âu và
châu Á. Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cũng cho kết quả
não đơn thuần và đều thiếu một số đoạn trình tự trên vùng 500 kbp –
600 kbp và 1000 kbp – 1100 kpb so với chủng tham chiếu BM407.
Trong tương lai, chúng tôi sẽ liên hệ với cơ quan phụ trách dữ liệu
MLST để cập nhập ST của hai chủng không xác định này.
KẾT LUẬN
1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các thể bệnh do S. suis
gây ra ở người.
– Có 221 bệnh nhân ở 3 thể lâm sàng viêm màng não, nhiễm khuẩn
huyết có viêm màng não và sốc nhiễm khuẩn. Bệnh gặp chủ yếu ở
nam giới (90%), độ tuổi hay gặp 40 – 60 tuổi (69,23%).
– Triệu chứng chung phổ biến của bệnh nhân nhiễm S. suis là: Sốt
(100%), đau đầu (89,14%), rét run (68,33%). Trong đó, đặc trưng
của viêm màng não là: đau đầu, buồn nôn, rối loạn ý thức. Biểu
hiện đặc trưng của sốc nhiễm khuẩn là: ban xuất huyết hoại tử, đau
mỏi cơ và ỉa chảy.
– Tỉ lệ tử vong cao 14,03%. Di chứng điếc chiếm 44,8%, hoại tử cắt cụt
chi 1,36%.
2. Các yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân nhiễm S. suis.
Phơi nhiễm qua ăn uống, nghiện rượu, tiêu chảy, ban xuất
25
huyết hoại tử cùng với suy gan, suy thận, rối loạn đông máu (DIC)
là các yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân nhiễm S. suis.
3. Tình trạng kháng kháng sinh và một số gen của S. suis.
– 100% các chủng S. suis nhạy cảm với các kháng sinh nhóm
penicilin, ampicilin, ceftriaxone, linezolid, và vancomycin. Kháng
sinh có tỷ lệ kháng cao: erythromycin (76,3%), clindamycin
(73,5%) và tetracyclin (97,6%).
– Phát hiện các gen kháng kháng sinh bao gồm: ant(6) với 78,75%,