Tiểu sử một số nhà Vật lí đạt giải Nobel - Pdf 56

Tiểu sử một số nhà Vật lí đạt giải Nobel
1.John William Strutt, nam tước Rayleigh thứ 3.
John William Strutt, nam tước Rayleigh thứ 3 OM (sinh 12
tháng 11 1842 - mất 30 tháng 6 1919 ) là một nhà vật lý người Anh,
là người cùng với William Ramsay đã phát hiện ra nguyên
tốargon, một phát hiện đã giúp ông dành được giải Nobel vật
lý năm 1904. Ông cũng là người đã phát hiện ra hiện tượng gọi
là Tán xạ Rayleigh và dự đoán sự tồn tại của sóng bề mặt được
biết đến là Sóng Rayleigh.
Lord Rayleigh
John William Strutt, 3rd Baron Rayleigh
Sinh
12 tháng 11 năm 1842(1842-11-12)
Langford Grove, Maldon, Essex, Anh
Mất
30 tháng 6 năm 1919 (76 tuổi)
Terling Place, Witham, Essex, England
Quốc tịch Anh
Ngành Physics
Học trường Đại học Cambridge
Người hướng dẫn LATS Edward John Routh
Các sinh viên nổi tiếng
J. J. Thomson
George Paget Thomson
Jagdish Chandra Bose
Nổi tiếng vì
Phát hiện ra argon
Sóng Rayleigh
Tán xạ Rayleigh
Rayleigh criterion
Duplex Theory

4, 1906, Paris) là một nhà vật lý người Pháp, người tiên phong trong lĩnh
vực tinh thể học, từ tính, hiện tượng áp điện và hiện tượng phóng xạ.
Năm 1903, ông cùng vợ, Maria Skłodowska-Curie (Marie Curie), và Henri
Becquerel đã được nhận giải Nobel về vật lý.
Pierre Curie
Pierre Curie (1859-1906)
Sinh
15 tháng 5, 1859
Paris, Pháp
Mất
19 tháng 4, 1906
Paris, Pháp
Nơi ở Tập tin:Flag of France (bordered).svg Pháp
Quốc tịch Tập tin:Flag of France (bordered).svg Pháp
Ngành Vật lý
Nơi công tác Sorbonne
Học trường Sorbonne
Các sinh viên nổi tiếng
Paul Langevin
André-Louis Debierne
Marguerite Catherine Perey
Nổi tiếng vì Hiện tượng phóng xạ
Giải thưởng
Giải Nobel vật lý (1903)
Kết hôn với Marie Curie (1895), các con: Irène Joliot-Curie và Ève Curie.

4.Marie Skłodowska–Curie
Sinh
7 tháng 11 năm 1867(1867-11-07)
Warsaw, Vistula, Đế quốc Nga

nhận vào trường đại học nào ở Nga hay Ba Lan cho nên bà đã làm người
dạy trẻ trong vài năm. Cuối cùng, với sự tài trợ của một bà chị, Marie đến
Paris để học hóa học và vật lý tại trường Sorbonne, nơi mà sau này bà trở
thành giảng viên phụ nữ đầu tiên.
Tại trường Sorbonne bà gặp và kết hôn với Pierre Curie, một giảng viên
khác. Họ cùng nhau nghiên cứu các vật chất phóng xạ, đặc biệt là
quặng urani uraninit, có tính chất kỳ lạ là phóng xạ hơn chất urani được
chiết ra. Đến 1898 họ đã có giải thích hợp lý: uraninit có một chất phóng xạ
hơn urani; ngày 26 tháng 12Marie Curie tuyên bố sự hiện hữu của chất này.
Sau nhiều năm nghiên cứu họ đã tinh chế vài tấn uraninit, ngày càng tập
trung các phần phóng xạ, và cuối cùng tách ra được chất muối clorua
(radium chloride) và hai nguyên tố mới. Nguyên tố thứ nhất họ đặt tên
là polonium theo tên quê hương của Marie (Pologne theo tiếng
Pháp, Polska theo tiếng Ba Lan), và nguyên tố kia tên radium vì khả năng
phóng xạ của nó (radiation).
Năm 1903 bà được nhận giải Nobel vật lý cùng với chồng Pierre Curie
và Henri Becquerel cho các nghiên cứu về bức xạ. Bà là người phụ nữ đầu
tiên nhận giải này.
Tám năm sau, bà nhận giải Nobel hóa học trong năm 1911 cho việc khám
phá ra hai nguyên tố hóa học radium và polonium. Bà cố ý không lấy bằng
sáng chế tiến trình tách radium, mà để các nhà nghiên cứu tự do sử dụng nó.
Bà là người đầu tiên đoạt, hay chia cùng người khác, hai giải Nobel. Bà là
một trong hai người duy nhất đoạt hai giải Nobel trong hai lĩnh vực khác
nhau (người kia là Linus Pauling).
Sau khi chồng bà qua đời, dư luận đồn thổi bà có một cuộc tình với nhà vật
lý Paul Langevin, một người đã có vợ và bỏ vợ, gây ra một cuộc xì căng
đan. Tuy bà là một nhà bác học được coi trọng tại Pháp, dư luận Pháp có
phần bài ngoại vì bà là một người nước ngoài, từ một nơi ít người biết đến
(lúc ấy Ba Lan là một phần của Nga) và có nhiều người gốc Do Thái (Marie
là một người vô thần lớn lên trong một gia đình Công giáo, nhưng việc đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status