ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ của PHENYLEPHRIN điều TRỊ hạ HUYẾT áp TRONG gây tê tủy SỐNG để mổ lấy THAI - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Mổ lấy thai là phẫu thuật sản khoa phổ biến nhất do tỷ lệ sinh mổ ngày
càng gia tăng. Vì vậy, vô cảm cho mổ lấy thai là mối quan tâm lớn của các
bác sỹ gây mê hồi sức sản khoa vì vừa phải đạt được hiệu quả giảm đau và
giãn cơ tốt, thuận lợi cho cuộc mổ vừa phải đảm bảo an toàn cho cả sản phụ và
thai nhi. Có nhiều phương pháp vô cảm cho mổ lấy thai, nhưng các nghiên cứu
trên thế giới đã chứng minh gây tê vùng (đặc biệt là gây tê tủy sống (GTTS))
có nhiều ưu điểm (kỹ thuật đơn giản, hiệu quả vô cảm và giãn cơ tốt, người
mẹ tỉnh nên được chứng kiến giây phút đứa con trào đời, giảm được các tác
động bất lợi của gây mê toàn thân lên sản phụ và thai nhi). Do đó, GTTS là
phương pháp vô cảm chủ yếu (chiếm 95%) cho các ca mổ lấy thai ở Việt Nam
cũng như trên thế giới.
Tuy nhiên, tác dụng không mong muốn hay gặp nhất của GTTS để mổ lấy
thai là gây tụt huyết áp (tụt huyết áp (HA) được định nghĩa là khi HA giảm ≥
20% HA nền của bệnh nhân) [1], [2], [3]. Tỷ lệ tụt huyết áp trong GTTS mổ lấy
thai có thểlên tới 80% [4], [5], [6] nếu các biện pháp dự phòng tụt huyết áp như
truyền dịch, đẩy tử cung sang bên trái và dùng thuốc co mạch không được sử
dụng [7], [8]. Tụt huyết áp trong gây tê tủy sống để mổ lấy thai có thể nguy
hiểm cho cả mẹ và con vì giảm tuần hoàn tử cung - rau, gây thiếu oxy và toan
máu thai nhi, đối với người mẹ, tụt HA gây ra các triệu chứng của giảm cung
lượng tim như buồn nôn, nôn và có thể xuất hiện các mức độ của biến đổi ý
thức, suy hô hấp, thậm chí ngừng tim [4].
Có nhiều phương pháp được áp dụng để dự phòng và điều trịtụt huyết
áp trong gây tê tủy sống để mổ lấy thai, trong đó phương pháp thường được
sử dụng là dùng thuốc co mạch mà hay sử dụng nhất ở Việt Nam là ephedrin.
Đây là thuốc kích thích cả hai thụ thể alpha và beta giao cảm gây co mạch


2

nữ chuyển dạ đẻ 34 tuổi. Sau đó gây tê tủy sống được nhiều người áp dụng.
- Năm 1900, ở Anh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của độ cong cột sống
và sử dụng trọng lượng của dung dịch thuốc tê để điều chỉnh các mức tê.
- Năm 1907, ở Luân đôn (Anh) đã mô tả gây tê tủy sống liên tục và sau
đó hoàn chỉnh kỹ thuật rồi đưa áp dụng trong lâm sàng.
- Năm 1923, giới thiệu ephedrin và năm 1927 được sử dụng để duy trì
huyết áp trong gây tê tủy sống.
- Gây tê tủy sống có lúc được nhiều người ưa thích, nhưng có lúc bị
lãng quên do tỷ lệ biến chứng cao của nó. Cùng với sự phát triển của y học
người ta đã hiểu rõ về cơ chế tác dụng của gây tê tủy sống nên đã đề ra các
biện pháp phòng ngừa và điều trị biến chứng, cải thiện sự an toàn của
phương pháp này.
- Năm 1977, ở Nhật đã tiến hành gây tê tủy sống bằng morphin để giảm
đau sau mổ và giảm đau trong ung thư cho kết quả tốt. Tuy nhiên, vẫn còn
nhiều tác dụng phụ như: Tụt huyết áp, đau đầu, nôn, bí đái, suy hô hấp trong
và sau mổ.


4

- Năm 1957, phát hiện ra bupivacain và năm 1966 lần đầu tiên trên thế
giới Marcain được sử dụng.
- Năm 1977, Noh (Đức) đã báo cáo 500 trường hợp GTTS bằng
Marcain.
* Ở Việt Nam:
- Năm 1984, Bùi Ích Kim báo cáo kinh nghiệm sử dụng Marcain để
GTTS qua 46 ca, tác dụng vô cảm kéo dài, ức chế vận động tốt.
- 1995, Nguyễn Anh Tuấn nghiên cứu so sánh tác dụng của Marcain với
Pethidin trong GTTS kết quảMarcain tác dụng kéo dài hơn.
- 2001, Cao Thị Bích Hạnh đã nghiên cứu so sánh tác dụng GTTS của

lệ tụt HA thấp hơn truyền dịch trước GTTS ở sản phụ mổ lấy thai.
- Năm 2001, Morgan và Riley đã chứng minh là truyền dịch keo trước
gây tê tuỷ sống giảm tỉ lệ và mức độ tụt HA hơn truyền dịch tinh thể.
- Năm 1998, Webb AA và cộng sự tiến hành nghiên cứu ngẫu nhiên, mù
đôi bằng tiêm bắp 37,5mg ephedrin và giả dược trước khi GTTS cho 40 bệnh
nhân, đã đi đến kết luận: tiêm bắp 37,5mg ephedrin trước GTTS không liên
quan đến tăng huyết áp và mạch nhanh, tiêm bắp ephedrin ổn định tim mạch
hơn tiêm tĩnh mạch trong GTTS mổ lấy thai [11].
- Năm 2001, Ayorinde BT và cộng sự đã khẳng định tiêm bắp dự phòng
phenylphedrin 4mg và ephedrin 45mg giảm tỷ lệ hạ huyết áp nặng và tổng
liều ephedrin tĩnh mạch trong GTTS để mổ lấy thai [12].
- Năm 2002, nghiên cứu của Lee A, Ngan Kee WD, Gin T đã chứng
minh tiêm tĩnh mạch một liều 80mcgphenylephrin sau GTTS để mổ lấy thai
có hiệu quảdự phòng tụt huyết áp và không có tác dụng phụ [13].
- Năm 2003, Ngan Kee WD, Lee A đã chứng minh hiệu quả tương tự
nhau của phenylephrin và ephedrin trong phòng và điều trị biến chứng hạ
huyết áp trong gây tê tủy sống cả khi tiêm hoặc truyền tĩnh mạch [14].


6

- Năm 2004, Ngan Kee WD, Khaw KS đã chứng minh ngay cả khi
dùng liều caophenylephrin (trên 2mg) không liên quan với tác dụng có hại
đến thai nhi được xác định qua chỉ số Apgar và khí máu động mạch rốn sơ
sinh [15].
- Năm 2007, Mercier FJ và cộng sự đã khuyến cáo tụt huyết áp trong
GTTS mổ lấy thai phải được kiểm tra hệ thống, phòng ngừa và điều trị không
trì hoãn. Mối liên quan giữa thuốc co mạch và truyền dịch nhanh khi GTTS là
một chiến lược quan trọng bậc nhất ngày nay [16].
- Năm 2009, Dr. S .Varathan và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 46 sản

thực nghiệm trên súc vật và trên quả tim đã tách rời.
Trong năm 1979, tác giả Albright đã mô tả 6 bệnh nhân tử vong sau khi
tiêm nhầm bupivacain vào mạch máu. Các bệnh nhân này đều bị sốc tim với
nhịp tim quá chậm hoặc loạn nhịp thất [23].
- Tác dụng chủ yếu của bupivacain trên điện thế hoạt động là ức chế
chạy vào nhanh của các ion natri. Mà chính sự di chuyển của ion natri là yếu
tố cơ bản tạo ra sự khử cực của tổ chức dẫn truyền và các tế bào của tâm thất .
- Bupivacain gắn rất nhanh vào các kênh natri khi các kênh này chưa
hoạt động. Thời gian gắn vào kênh natri này sẽ rất lâu do ái tính cao với các
thuốc tê. Sự ức chế kênh natri làm rối loạn dẫn truyền thần kinh và khử cực
của các tế bào tâm thất. Các rối loạn này dễ dẫn đến rối loạn dẫn truyền và rối
loạn nhịp thất như nhịp nhanh thất, rung thất… Ngoài gây ảnh hưởng tới dòng
ion natri nó còn gây ảnh hưởng tới dòng trao đổi khác như canxi và kali [19],
[20], [22], [24].
Độc tính toàn thân của bupivacain phụ thuộc đậm độ thuốc trong huyết
tương và thời gian để đạt tới đậm đó.
Cũng giống như các thuốc tê khác ngưỡng độc của bupivacain cũng bị hạ
thấp khi có toan hóa máu(toan hô hấp hoặc toan chuyển hóa). Toan hóa máu
làm giảm tỉ lệ gắn với protein của thuốc làm tăng tỉ lệ các phân tử thuốc tự do


8

là dạng thuốc duy nhất có thể ngấm được vào các nhu mô của hệ thần kinh
trung ương [19], [20], [22].
Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố nguy cơ khác: Tăng kali máu, hạ
natri máu, hạ thân nhiệt cũng làm tăng tác dụng độc với tim của thuốc. Đại đa
số các trường hợp có tai biến về tim đều xảy ra trong sản khoa. Trong nhiều
nghiên cứu trên động vật có thai cho thấy tai biến tim mạch xảy ra ở đậm độ
bupivacain thấp hơn nhiều so với động vật không có thai. Tính tăng nhạy cảm

dùng liều cao (75 µg/kg). Thuốc không làm mất sự ổn định về trương lực
thành mạch nên không gây tụt huyết áp lúc khởi mê. Vì thế nó được dùng để
thay thế morphin trong gây mê cho phẫu thuật tim mạch, tuy nhiên vẫn chưa
loại bỏ hoàn toàn đau khi cưa xương ức. Fentanyl làm chậm nhịp xoang nhất
là lúc khởi mê, điều trị bằng atropin. Thuốc làm giảm nhẹ lưu lượng vành và
tiêu thụ oxy cơ tim.
Trên hô hấp, thuốc gây ức chế hô hấp ở liều điều trị do ức chế trung tâm
hô hấp, làm giảm tần số thở, giảm thể tích khí lưu thông khi dùng liều cao.
Thuốc gây tăng trương lực cơ, giảm độ đàn hồi của phổi. Khi dùng liều cao và
nhắc lại nhiều lần sẽ gây co cứng cơ hô hấp, co cứng lồng ngực, làm suy thở,
điều trị bằng benzodiazepin.
Các tác dụng khác: gây buồn nôn, nôn (nhưng ít hơn morphin), co đồng
tử, giảm áp lực nhãn cầu khi PaCO 2 bình thường, hạ thân nhiệt, tăng đường
máu do tăng catecholamin, táo bón, bí đái, giảm ho…
1.2.3. Ephedrin
Tên chung quốc tế: ephedrin.
Mã ATC: R01A A03, R01A B05, R03C A02, S01F B02.
Loại thuốc: Thuốc giống thần kinh giao cảm.
Dạng thuốc và hàm lượng
Ống tiêm 30 mg/ml.
Dược lý và cơ chế tác dụng [10], [21], [26], [27].


10

Ephedrin là thuốc giống thần kinh giao cảm có tác dụng trực tiếp và gián
tiếp lên các thụ thể adrenergic. Thuốc có tác dụng lên cả thụ thể alpha và beta,
chủ yếu nhờ giải phóng noradrenalin hệ thần kinh trung ương. So với tác dụng
của adrenalin thì ephedrin có tác dụng yếu hơn nhưng kéo dài hơn. Với liều
điều trị, ephedrin làm tăng huyết áp do tăng lưu lượng tim và co mạch ngoại

Ephedrin có thể làm tăng đái khó ở người bệnh có phì đại tuyến tiền liệt.
Dùng ephedrin thường xuyên hay kéo dài tại niêm mạc mũi có thể dẫn
đến hiện tượng sung huyết mũi hồi ứng.
Dùng ephedrin kéo dài không gây tác dụng tích lũy thuốc nhưng có thể
gây quen thuốc và phụ thuộc vào thuốc, nghiện thuốc.
Vì ephedrin thực tế khi dùng có tác dụng co mạch, tăng huyết áp, tăng
tần số tim nên không dùng với các thuốc chống tăng huyết áp.
Thời kỳ mang thai [28]
Ephedrin đi qua rau thai. Vào lúc sổ rau, nồng độ thuốc trong thai bằng
khoảng 70% nồng độ trong máu mẹ. Ephedrin trong tuần hoàn thai nhi có thể
là nguyên nhân chính làm thay đổi tần số tim thai.
Chưa có bằng chứng là ephedrin có tác dụng gây quái thai ở người,
nhưng không nên dùng trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
Thời kỳ cho con bú
Không nên dùng cho người đang cho con bú.
Tác dụng không mong muốn
Ephedrin có thể gây bí tiểu. Các tác dụng phụ khác có thể xảy ra ngay
với liều thường dùng. Không loại trừ khả năng gây nghiện thuốc kiểu
amphetamin.
Tuần hoàn: Gây đánh trống ngực.
Thần kinh trung ương: Ở người bệnh nhạy cảm, ngay cả với liều thấp
ephedrin cũng có thể gây mất ngủ, lo lắng và lú lẫn, đặc biệt khi dùng đồng
thời với cafein.


12

Tiết niệu: Bí tiểu, đái khó.
Các tác dụng không mong muốn ít gặp:
Toàn thân: Chóng mặt, nhức đầu, vã mồ hôi.

sau khi ngừng dùng thuốc ức chế MAO. Ephedrin có thể làm mất tác dụng hạ
huyết áp của guanethidin, bethanidin và debrisoquin. Cần thận trọng khi phải
gây mê bằng các thuốc mê hô hấp họ halogen. Nếu có thể được thì ngừng
dùng ephedrin vài ngày trước khi gây mê. Cần chú ý là người bệnh đang điều
trị thuốc chống tăng huyết áp nếu dùng thuốc khác có ephedrin thì có thể làm
cho huyết áp tăng lên.
Ðộ ổn định và bảo quản
Bảo quản thuốc trong lọ kín. Tránh ánh sáng.
Tương kỵ
Trong dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch, ephedrin tương kỵ vật lý với
hydrocortison và với bacbiturat.
Quá liều và xử trí [29]
Không có điều trị đặc hiệu đối với ngộ độc và quá liều, chỉ có điều trị
triệu chứng và hỗ trợ. Có thể làm tăng thải thuốc bằng cách toan hóa nước
tiểu. Ở người lớnliều có thể gây tử vong là 50 mg/kg. Ở trẻ em tới 2 tuổi, liều
tối thiểu gây chết bằng đường uống là 200 mg.
Thông tin qui chế
Ephedrin dạng tiêm phải kê đơn và bán theo đơn.
1.2.4. Phenylephrin
* Mã ATC và loại thuốc
C01C A06: Thuốc cường giao cảm α1, co mạch tăng huyết áp (thuốc tiêm).
* Dạng thuốc và hàm lượng
Một bơm tiêm đóng sẵn 10ml có chứa 500 microgam Phenylephrin.


14

* Hãng thuốc: AGUETTANT (Pháp)
* Dược lý và các cơ chế tác dụng [10], [21], [27]
Phenylephrin hydroclorid là một thuốc cường giao cảm α1 (α1adrenergic) có tác dụng trực tiếp lên các thụ thể α1-adrenergic làm co mạch

trên thất, đặc biệt khi người bệnh bị hạ huyết áp hoặc sốc, nhưng một thuốc
kháng cholinesterase tác dụng ngắn (thí dụ edrophonium clorid) thường được
ưa dùng vì an toàn hơn.
* Dược động học [21], [27]
Phenylephrin hấp thu không ổn định qua đường tiêu hóa, vì bị chuyển
hóa ngay trên đường tiêu hóa vì thế để có tác dụng trên tim mạch, thường phải
tiêm.
Sau khi tiêm tĩnh mạch, huyết áp tăng hầu như ngay lập tức và kéo dài
15-20 phút. Sau khi tiêm bắp, huyết áp tăng trong vòng 10-15 phút và kéo dài
từ 30 phút đến 1-2 giờ.
Phenylephrin trong tuần hoàn, có thể phân bố vào các mô, nhưng còn
chưa biết thuốc có phân bố được vào sữa mẹ không.
* Chỉ định [10], [27]
- Điều trị hạ huyết áp khi gây mê và sau gây tê vùng (gây tê tủy sống hoặc
gây tê ngoài màng cứng) đểphẫu thuật ngoại khoa hoặc sản khoa.
- Điều trị dự phòng hạ huyết áp khi gây tê tủy sống để phẫu thuật ngoại
khoa hoặc sản khoa.
* Chống chỉ định [27]
Bệnh tim mạch nặng, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành.
Tăng huyết áp nặng, blốc nhĩ thất, xơ vữa động mạch nặng, nhịp nhanh thất.
Cường giáp nặng hoặc bịGlaucom góc đóng.


16

Dung dịch 10% không dùng cho trẻ nhỏ hoặc người cao tuổi.
Mẫn cảm với thuốc, hoặc mẫn cảm chéo với pseudoephedrin.
* Thận trọng
Ở bệnh nhân bị sốc, dùng phenylephrin hydroclorid không phải là để
thay thế cho việc bổxung máu, huyết tương, dịch và điện giải. Cần phải

trên thai. Vì vậy chỉdùng phenylephrin cho phụ nữ mang thai khi thật cần
thiết, có cân nhắc về tác hại do thuốc gây ra.
* Thời kỳ cho con bú
Một lượng nhỏ Phenylephrin được tiết vào sữa mẹ. Dùng thuốc co mạch
trên người mẹ có thể làm cho con phơi nhiễm với nguy cơ tác dụng tim mạch
và thần kinh. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng một lần duy nhất trong khi sinh thì
vẫn có thể cho con bú mẹ.
* Tác dụng không mong muốn [27]
Thần kinh trung ương: bồn chồn, người yếu mệt, choáng váng, đau trước
ngực, run rẩy, dị cảm đầu chi.
Tim mạch: Nhịp tim chậm phản xạ.
* Hướng dẫn cách xử trí tác dụng không mong muốn
Nhịp tim chậm do phản xạ có thể điều trị bằng atropin.
Tăng huyết áp do tai biến của phenylephrin có thể khắc phục bằng cách
dùng thuốc chẹn alpha giao cảm như phentolamin.
* Liều lượng và cách dùng [10]
- Cách dùng
Bơm tiêm đóng sẵn chỉ sử dụng một lần duy nhất, sau khi sử dụng phải
loại bỏ tất cả các sản phẩm không dùng đến.
Bơm tiêm đảm bảo vô khuẩn khi còn ở trong vỉ chưa mở và chưa bị hư
hỏng, và vì vậy chỉ được lấy ra khỏi vỉ nhựa khi sử dụng.
Bằng kỹ thuật vô khuẩn có thể sử dụng Phenylephrin bơm tiêm đóng sẵn
trên khăn trải vô khuẩn.
- Liều dùng


18

Tiêm tĩnh mạch 50 microgam (1ml) mỗi lần, nhắc lại đến khi huyết áp
trở về huyết áp nền.

19

Monoamixoxidaxe (MAO): Tác dụng kích thích tim và tác dụng tăng
huyết áp của phenylephrin hydroclorid được tăng cường, nếu trước đó đã
dùng thuốc ức chế MAO là do chuyển hóa phenylephrin bị giảm đi. Tác dụng
kích thích tim và tác dụng tăng huyết áp sẽ mạnh hơn rất nhiều, nếu dùng
phenylephrin uống so với tiêm. Vì sự giảm chuyển hóa của phenylephrin ở
ruột làm tăng hấp thu thuốc. Vì vậy, không được dùng phenylephrin
hydroclorid uống phối hợp với thuốc ức chế MAO.
Thuốc chống trầm cảm ba vòng (như imipramin) hoặc guanethidin cũng
làm tăng tác dụng tăng huyết áp của phenylephrin.
Atropin sulfat và các thuốc liệt thể mi khác khi phối hợp với
phenylephrin sẽ phong bế tác dụng chậm nhịp tim phản xạ, làm tăng tác dụng
tăng huyết áp và giãn đồng tử của phenylephrin.
Alcaloid nấm cựa gà dạng tiêm (như ergotamin) khi phối hợp với
phenylephrin sẽ làm tăng huyết áp rất mạnh.
Digitalis phối hợp với phenylephrin làm tăng mức độ nhậy cảm của cơ
tim do phenylephrin.
Furosemid hoặc các thuốc lợi niệu khác làm giảm đáp ứng tăng huyết áp
do phenylephrin.
Với guanethidin: Dùng phenylephrin cho người bệnh đã có một thời gian
dài uống guanethidin, đáp ứng giãn đồng tử của phenylephrin tăng lên nhiều
về huyết áp cũng tăng lên rất mạnh.
Với levodopa: Tác dụng giãn đồng tử của phenylephrin giảm nhiều ở
người bệnh dùng levodopa.
Không dùng cùng với bromocriptin vì tai biến co mạch và tăng huyết áp.
* Quá liều và xử trí [27]
- Triệu chứng: Dùng quá liều phenylephrin làm tăng huyết áp, nhức đầu,
cơn co giật, có thể gây xuất huyết não, đánh trống ngực, ngoại tâm thu, dị
cảm. Nhịp tim chậm thường xảy ra sớm.



21

- Bệnh nhân bị các bệnh tâm thần kinh.
- Bệnh nhân có rối loạn đông máu hoặc đang điều trị chống đông.
- Bệnh nhân có HA động mạch tối đa dưới 100mmHg và trên 180 mmHg.
- Bệnh nhân có bệnh nội khoa: bệnh tim mạch, suy hô hấp, tiểu đường.
- Những trường hợp dị ứng với thuốc tê.
 Những trường hợp gây tê tủy sống thất bại hoặc tác dụng của GTTS
không đủ để phẫu thuật, phải dùng thêm thuốc giảm đau hoặc thuốc mê.

 Chống chỉ định về sản khoa
- Bị bệnh tim nặng hoặc các bệnh nội khoa kèm theo.
- Các sản phụ có huyết áp tối đa dưới 90 mmHg hoặc trên 140 mmHg.
- Những chỉ định cấp cứu sản khoa tức thì như: sa dây rau, suy thai có
nhịp tim thai dưới 80 lần/phút…
- Những bệnh cảnh có nguy cơ chảy máu giảm khối lượng tuần hoàn
như: rau bong non, rau tiền đạo, nghi vỡ tử cung...
• Những sản phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh.
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Chọn cỡ mẫu thuận tiện n = 60, bốc thăm ngẫu nhiên chia làm hai nhóm,
mỗi nhóm 30 bệnh nhân:
* Nhóm E: Điều trị hạ huyết áp sau gây tê tủy sống bằng Ephedrin tiêm
tĩnh mạch liều 6 mg/lần.
* Nhóm P: Điều trị hạ huyết áp sau gây tê tủy sống bằng Phenylephrin
tiêm tĩnh mạch liều 50 mcg/lần.

Giải thích cho sản phụ về phương pháp vô cảm (ưu điểm, các diễn biến
có thể xảy ra khi tiến hành kỹ thuật, một số tác dụng không mong muốn của
kỹ thuật).
Đánh giá và phân loại về nguy cơ theo ASA, kiểm tra những chỉ định,
chống chỉ định của GTTS.
Hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thước đo độ đau VAS (0 - 10).
2.3.4.2. Tiến hành kỹ thuật gây tê tủy sống
- Trước khi gây tê bệnh nhân được theo dõi nhịp tim điện tâm đồ ở
chuyển đạo DII, đo HA động mạch không xâm lấn, SpO2.
- Trình tự tiến hành:
Cả hai nhóm đều được dùng dung dịch Ringer lactate, truyền trước
GTTS với liều 6 - 10 ml/kg.

 Gây tê tủy sống:
- Bệnh nhân lên bàn mổ được theo dõi các thông số:Mạch, HA, SpO 2,
nhịp thở...
- Đặt đường truyền tĩnh mạch bằng catheter 18G, truyền dung dịch
Ringerlactat trước gây tê tủy sống liều 6 - 10 ml/kg.
- Đặt bệnh nhân nằm tư thế nghiêng trái, đầu cúi, lưng cong tối đa, hai
cẳng chân ép vào đùi, hai đùi ép vào bụng.
- Bác sỹ gây mê rửa tay, mặc áo đi găng vô trùng.
- Sát trùng vùng gây tê bằng hai lần dung dịch povidin và một lần
cồn trắng 700.


24

- Trải toan lỗ vào vị trí gây tê.
- Xác định khe đốt sống L2-3.
- Tiến hành chọc kim gây tê vào khoang dưới nhện (xác định bằng có


+ Thông số về các tác dụng không mong muốn: buồn nôn, nôn, đau
đầu, tăng huyết áp phản ứng…
+ Mức độ hài lòng của phẫu thuật viên và bệnh nhân.
+ Tình trạng thai nhi và chỉ số Apgar phút thứ nhất và phút thứ năm
sau sinh.
2.3.4.3. Điều trị tụt huyết áp sau gây tê tủy sống
Tất cả các bệnh nhân trong cả hai nhóm sau gây tê tủy sống đều được
theo dõi sát mạch, huyết áp, và SpO2 1 phút/lần bằng monitoring. Nếu huyết
áp tối đa trên80% huyết áp nền thì theo dõi tiếp. Nếu huyết áp tối đa ≤ 80%
huyết áp nền thì tiến hành điều trị theo từng nhóm:
* Nhóm E: Tiêm tĩnh mạch trực tiếp dung dịch ephedrin liều 6mg/lần. Sau
1 phút đánh giá lại huyết áp, nếu huyết áp chưa trở lại huyết áp nền thì tiêm nhắc
lại liều như trên đến khi huyết áp trở lại huyết áp nền (tổng liều không quá
30mg). Nếu huyết áp vẫn không lên thì phối hợp truyền nhanh dung dịch HES
6%, đẩy tử cung sang trái và lấy thai nhanh.Nếu đã áp dụng các biện pháp mà
không thể nâng được huyết áp lên thì có thể dùng Adrenalin. Nếu có mạch giảm
trên 20% mạch nền thì tiêm tĩnh mạch 0,5mg Atropin.
* Nhóm P: Tiêm tĩnh mạch trực tiếp dung dịch phenylephrin liều
50mcg/lần. Sau 1 phút đánh giá lại huyết áp, nếu huyết áp chưa trở lại huyết
áp nền thì tiêm nhắc lại liều như trên đến khi huyết áp trở lại huyết áp nền.
Nếu huyết áp vẫn không lên thì phối hợp truyền nhanh dung dịch HES 6%,
đẩy tử cung sang trái và lấy thai nhanh. Nếu đã áp dụng các biện pháp mà
không thể nâng được huyết áp lên thì có thể dùng Adrenalin. Nếu có mạch
giảm trên 20%mạch nền thì tiêm tĩnh mạch 0,5mg Atropin.
2.3.4.4. Đánh giá tác dụng ức chế cảm giác và vận động
* Đánh giá tác dụng ức chế cảm giác bằng thử cảm giác đau theo
phương pháp Pin - Prick: dùng kim tiêm 22G đầu tù châm vào da bệnh nhân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status