Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy việt nam - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH


TÔ MINH THU

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIẤY
VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH


TÔ MINH THU

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIẤY VIỆT
NAM
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN

MỤC LỤC........................................................................................................................ii
Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất (Process costing)..................56
Bảng 2.6. Kết quả các thang đo và biến quan sát đảm bảo độ tin cậy......................137
Kết quả ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn tại bảng
2.9 cho thấy, đối với các quan sát được giữ lại thì các biến này đều đạt được mức ý
nghĩa rất cao, tương ứng với P_value
CVP

Cost - Volume - Profit

DNSX
ERP
IMA
KPCĐ
KTQT

Doanh nghiệp sản xuất
Enterprise Resource Planning
Institute of Management Accountants
Kinh phí công đoàn
Kế toán quản trị

NCTT

Nhân công trực tiếp

NVL

Nguyên vật liệu

PXK

Phiếu xuất kho

QLDN


hết sức quan tâm. Tuy nhiên, ngành công nghiệp sản xuất giấy đang phải đối mặt
với một loạt các thách thức để duy trì tính cạnh tranh trong một lĩnh vực mà chi
phí nguyên liệu và năng lượng chiếm một phần rất lớn trong chi phí sản xuất.
Thách thức lớn nhất hiện nay đó là giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả hoạt động
cùng với các phương pháp xanh hơn để sản xuất giấy với chất lượng tốt, đồng thời
tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về môi trường. Mặt khác, ngành công nghiệp
sản xuất giấy nước ta đang có nguy cơ thua ngay trên sân nhà khi Việt Nam tham
gia hội nhập kinh tế ngày càng sâu và rộng với khu vực và thế giới bởi giấy của các
nước trong khu vực như Thái Lan, Indonexia, Malaixia và các nước khác trên thế
giới sẽ tràn vào Việt Nam, đe dọa sự sống còn của các doanh nghiệp sản xuất giấy
nội địa. Để đứng vững và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt
Nam phải có những biện pháp mang tính tổng lực nhằm tận dụng thời cơ và sức
mạnh, đồng thời khắc phục khó khăn và thách thức..................................................1
- Phương pháp lập dự toán từ trên xuống (Top – down budgeting):.................................48
- Phương pháp lập dự toán từ dưới lên (Bottom - up budgeting):.....................................49
Phương pháp xác định chi phí theo công việc (Job costing).....................................55
Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất (Process costing)..................56
Phương pháp xác định chi phí theo chi phí mục tiêu bao gồm 3 giai đoạn:......................60
Bảng 2.6. Kết quả các thang đo và biến quan sát đảm bảo độ tin cậy......................137
2.4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA).................................................................................................140
2.4.3.3. Kiểm tra sự phù hợp của mô hình..................................................................................................142
Tác giả tiến hành đưa toàn bộ thang đo các biến vào một mô hình để đánh giá sự phù hợp của mô hình
này nhằm kiểm tra và có thể loại bỏ các biến quan sát không phù hợp trong mô hình. Kiểm tra các hệ số
hồi quy trên mô hình cho thấy tất cả lớn hơn 0,75 (khá tốt). Kết quả mô hình Model FIT cho thấy: CFI =


v
0,908; TLI=0,916 là tốt; RMSEA = 0,072 (nhỏ hơn 0,08) thỏa mãn điều kiện mô hình phù hợp (phụ lục
1G.3)..............................................................................................................................................................142


- Phương pháp lập dự toán từ dưới lên (Bottom - up budgeting):.....................................49
Phương pháp xác định chi phí theo công việc (Job costing).....................................55
Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất (Process costing)..................56
Phương pháp xác định chi phí theo chi phí mục tiêu bao gồm 3 giai đoạn:......................60


vi
Bảng 2.6. Kết quả các thang đo và biến quan sát đảm bảo độ tin cậy......................137
2.4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA).................................................................................................140
2.4.3.3. Kiểm tra sự phù hợp của mô hình..................................................................................................142
Tác giả tiến hành đưa toàn bộ thang đo các biến vào một mô hình để đánh giá sự phù hợp của mô hình
này nhằm kiểm tra và có thể loại bỏ các biến quan sát không phù hợp trong mô hình. Kiểm tra các hệ số
hồi quy trên mô hình cho thấy tất cả lớn hơn 0,75 (khá tốt). Kết quả mô hình Model FIT cho thấy: CFI =
0,908; TLI=0,916 là tốt; RMSEA = 0,072 (nhỏ hơn 0,08) thỏa mãn điều kiện mô hình phù hợp (phụ lục
1G.3)..............................................................................................................................................................142

Kết quả ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn tại bảng
2.9 cho thấy, đối với các quan sát được giữ lại thì các biến này đều đạt được mức ý
nghĩa rất cao, tương ứng với P_value
sản xuất giấy Việt Nam có trình độ công nghệ lạc hậu, quy mô không lớn, giá giấy cao
trong khi chất lượng giấy thấp chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước. Trong khi đó, giấy
ngoại nhập có sức cạnh tranh rất lớn, giá rẻ, chất lượng lại tốt hơn. Nhiều chuyên gia kinh


2
tế cho rằng đây cũng là khó khăn chung của ngành công nghiệp sản xuất giấy trong nước,
tồn tại từ nhiều năm nay. Vấn đề lớn nhất của các doanh nghiệp nội địa là thiếu vốn cho
đầu tư, nâng cấp trang thiết bị công nghệ, cùng với chi phí đầu vào biến động tăng không
ngừng, dẫn đến sản phẩm có mẫu mã, chất lượng kém, giá thành cao. Do vậy để từng
bước vượt qua khó khăn và phát triển, không còn cách nào khác là phải tận dụng cơ sở hạ
tầng kỹ thuật sẵn có, đẩy mạnh nghiên cứu, sáng tạo nhằm tiết kiệm chi phí, tăng năng
suất, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành để cạnh tranh.
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận quan trọng của hệ thống KTQT doanh
nghiệp, có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí nhằm mục tiêu lập dự toán,
xây dựng định mức, kiểm soát chi phí, ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất kinh
doanh tối ưu,…Để phục vụ tốt hơn cho việc quản trị chi phí ở các doanh nghiệp và đưa ra
các quyết định hợp lý cần có sự hiểu biết đầy đủ, khoa học về bản chất, vai trò và nội
dung của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua khảo sát sơ bộ,
công tác kế toán chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy ở Việt Nam hiện nay mới
chỉ tập trung chủ yếu vào thông tin kế toán tài chính phục vụ cho việc lập các báo cáo tài
chính. Việc cung cấp thông tin kế toán chi phí phục vụ cho việc ra các quyết định hay lập
các kế hoạch sản xuất kinh doanh vẫn đang là vấn đề chưa được quan tâm và đầu tư đúng
mức. Điều này khiến cho các doanh nghiệp giấy ở Việt Nam khó có thể đứng vững trong
môi trường cạnh tranh khu vực và thế giới. Thêm vào đó, trong môi trường cạnh tranh
ngày càng khốc liệt vượt tầm biên giới quốc gia, KTQT chi phí ngày càng thể hiện vai trò
quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà quản trị ra các quyết định hiệu quả. Tăng cường hệ
thống KTQT chi phí trong các DNSX giấy nhằm hỗ trợ thông tin cho các nhà quản trị ra
các quyết định là điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao vị
thế cạnh tranh của các doanh nghiệp. Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố

Theo Nguyễn Quốc Thắng (2011), chi phí trong doanh nghiệp được phân loại theo
nhiều tiêu thức khác nhau: Phân loại theo tính chất kinh tế, nội dung kinh tế ban đầu của
chi phí; phân loại theo chức năng hoạt động; phân loại theo đầu vào của quá trình SXKD;
phân loại theo mối quan hệ của chi phí với khoản mục trên báo cáo tài chính; phân loại
theo mối quan hệ của chi phí và khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi
phí; phân loại theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng hoạt động và phân loại chi phí
phục vụ ra quyết định. Kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp giống cây trồng cho thấy
các doanh nghiệp chỉ phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu của chi phí dưới góc
độ phục vụ công tác kế toán tài chính. Mức độ coi trọng, đầu tư vào công tác phân loại
chi phí phục vụ hạch toán nội bộ chưa cao. Để tăng cường chất lượng thông tin KTQT
chi phí, tác giả đề xuất các doanh nghiệp ngành giống cây trồng áp dụng phân loại chi phí
theo mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt động [37]. Theo Phạm Hồng Hải (2013),
Hoàng Khánh Vân (2017), chi phí có thể được phân loại theo các tiêu thức như phân loại
theo chức năng, phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (theo cách ứng xử của
chi phí), phân loại theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí, phân loại theo sự ảnh
hưởng tới việc lựa chọn các phương án và phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát. Qua
kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp, các tác giả nhận định 100% các doanh nghiệp chỉ
phân loại chi phí theo yếu tố chi phí và theo khoản mục chi phí trong giá thành nhằm
phục vụ cho việc hạch toán chi phí, tính giá thành sản phẩm và lập báo cáo tài chính.
Cách phân loại này chưa thực sự giúp cho việc quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Từ đó
các tác giả đề xuất việc phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động để làm


4
cơ sở cho việc thực hiện các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định quản lý.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất các doanh nghiệp trong ngành nghiên cứu vận
dụng việc phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí để giúp nhà
quản trị có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của từng đối tượng, từ đó đưa ra được các
quyết định phù hợp [22], [44].
2.1.2. Nghiên cứu về xây dựng định mức và lập dự toán chi phí



5
trò của từng loại dự toán này trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Theo đó, dự toán
tĩnh tốt cho việc lập kế hoạch nhưng lại không phù hợp cho việc đánh giá nhà quản lý
kiểm soát chi phí có tốt hay không. Ngược lại, dự toán linh hoạt sẽ có tác dụng cho mục
đích kiểm soát và đánh giá nhà quản lý kiểm soát chi phí, nhưng lại không hữu ích cho
việc lập dự toán ngân sách. Đánh giá thực trạng xây dựng định mức và lập dự toán chi
phí tại các doanh nghiệp khảo sát, tác giả nhận định các doanh nghiệp vừa và lớn có tỷ lệ
xây dựng định mức và lập dự toán chi phí cao hơn doanh nghiệp nhỏ, thực trạng xây
dựng định mức và lập dự toán chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi
có mối liên hệ với quy mô doanh nghiệp [17]. Năm 2014, tác giả Trần Thị Thu Hường
trong nghiên cứu về Xây dựng mô hình KTQT chi phí trong các DNSX xi măng Việt Nam
nhấn mạnh định mức chi phí và dự toán chi phí là bộ công cụ hữu hiệu để kiểm soát chi
phí. Định mức chi phí là cơ sở để lập dự toán, ngược lại, dự toán là cơ sở để đánh giá,
kiểm tra định mức để có biện pháp hoàn thiện định mức. Tác giả phân chia định mức
thành định mức lý tưởng và định mức thực tế. Về xây dựng định mức chi phí, tác giả giới
thiệu hai phương pháp là thống kê kinh nghiệm và kinh tế kỹ thuật. Doanh nghiệp có thể
kết hợp cả hai phương pháp để đem lại hiệu quả cao hơn trong việc xây dựng hệ thống
định mức chi phí. Về dự toán chi phí, tác giả trình bày hai phương pháp lập dự toán chi
phí là lập từ trên xuống và lập từ dưới lên. Kết quả khảo sát tại các DNSX xi măng cho
thấy các doanh nghiệp đã xây dựng định mức chi phí căn cứ vào định mức kinh tế kỹ
thuật của ngành và điều kiện sản xuất riêng của doanh nghiệp. Hệ thống dự toán được lập
dưới dạng dự toán tĩnh. Theo tác giả, để đảm bảo tính linh hoạt, chủ động trong kinh
doanh, các DNSX xi măng cần lập cả dự toán linh hoạt bên cạnh việc lập dự toán tĩnh
[28].
2.1.3. Nghiên cứu về phương pháp xác định chi phí
Đến thập kỉ 80 của thể kỷ XIX, các nghiên cứu về KTQT chi phí bắt đầu phát
triển. Tuy nhiên, ở thời điểm đó thì vấn đề đặt ra cho KTQT chi phí chủ yếu chỉ là tính
toán, xác định được chi phí phát sinh để có biện pháp tiết kiệm chi phí. KTQT chi phí có

định chi phí theo quá trình sản xuất. Nguyễn Hoản (2012), Nguyễn Thanh Huyền (2015),
Lê Thị Minh Huệ (2016) tiếp cận phương pháp xác định chi phí truyền thống bao gồm
phương pháp chi phí trực tiếp, phương pháp chi phí toàn bộ, phương pháp chi phí thực tế
và phương pháp chi phí tiêu chuẩn [25], [29], [27]. Một số tác giả tiếp cận nhóm phương
pháp xác định chi phí truyền thống còn giới thiệu thêm phương pháp chi phí thông
thường. Nhóm phương pháp hiện đại bao gồm phương pháp xác định chi phí theo hoạt
động (ABC), phương pháp chi phí mục tiêu (Target Costing) và phương pháp chi phí
Kaizen (Kaizen costing). Ngoài ra, một số tác giả còn tiếp cận xác định chi phí theo chu
kỳ sống của sản phẩm. Theo Phạm Thị Thủy (2007), KTQT chi phí sẽ áp dụng các
phương pháp xác định chi phí khác nhau trong từng giai đoạn trong chu kỳ sống của sản
phẩm nhằm tăng cường hiệu quả quản trị chi phí trong toàn bộ chu kỳ sống của sản
phẩm, cụ thể: Ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm, tác giả cho rằng phương
pháp xác định chi phí hợp lý nhất là phương pháp chi phí mục tiêu. Ở giai đoạn triển
khai, tăng trưởng, doanh nghiệp phải liên tục cải thiện chi phí thực tế sản xuất sản phẩm
nên phương pháp hợp lý là phương pháp chi phí Kaizen. Cuối cùng, ở giai đoạn bão hòa
và suy thoái, phương pháp chi phí thích hợp là phương pháp chi phí tiêu chuẩn [39].
Nguyễn Thị Mai Anh (2014) chỉ rõ mục tiêu của phương pháp xác định chi phí theo chu
kỳ sản phẩm là xây dựng giá bán sản phẩm có khả năng bù đắp tất cả các chi phí phát


7
sinh trong chuỗi giá trị của sản phẩm đó [11]. Kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp
thuộc các đề tài nghiên cứu của các tác giả về việc áp dụng phương pháp xác định chi phí
cho thấy phương pháp hiện đại hầu như chưa được áp dụng mà chỉ tập trung vào một số
phương pháp truyền thống. Các tác giả đều đề xuất bên cạnh việc sử dụng phương pháp
truyền thống, các doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và quy
trình sản xuất mà kết hợp áp dụng phương pháp xác định chi phí hiện đại phù hợp để
nâng cao chất lượng thông tin chi phí cung cấp cho nhà quản trị thực hiện các chức năng
quản trị doanh nghiệp. Tác giả Lê Thị Minh Huệ (2016) đề xuất các DNSX mía đường
Thanh Hóa với đặc thù sản xuất theo quy trình khép kín, trải qua nhiều công đoạn nên

coi là "Cha đẻ của ngành kinh tế đường sắt" [71].
Trần Thị Dự (2012) tiếp cận phân tích chi phí trên các khía cạnh phân tích biến
động chi phí thông qua phân tích thông tin quá khứ (định mức chi phí, dự toán chi phí);
phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm; phân tích biến động
chi phí thông qua báo cáo giá thành và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; phân tích
thông tin thích hợp cho quá trình ra quyết định và dự báo tương lai. Tác giả giới thiệu các
phương pháp trong phân tích hoạt động kinh doanh như phương pháp so sánh, phương
pháp loại trừ để xác định mức biến động và nguyên nhân gây ra biến động của các nhân
tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu chi phí [17]. Nguyễn Thị Mai Anh (2014) quan tâm đến phân
tích chi phí chênh lệch; phân tích mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận; phân tích,
đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm và phân tích thông tin chi phí
cho việc ra quyết định ngắn hạn như quyết định tiếp tục hay chấm dứt hoạt động của một
bộ phận, quyết định tự sản xuất chi tiết sản phẩm hay mua ngoài, quyết định tiếp tục sản
xuất sản phẩm hoàn chỉnh hay tiêu thụ ngay bán thành phẩm [11]…Hầu hết các nội dung
phân tích trên cũng được tác giả Đào Thúy Hà (2015) tập trung xem xét trong nghiên cứu
về Hoàn thiện KTQT chi phí trong các DNSX thép ở Việt Nam [21]. Nguyễn Phương
Ngọc (2016) với quan điểm coi các trung tâm trách nhiệm chi phí là đối tượng quản trị
chi phí cho rằng việc phân tích thông tin chi phí thể hiện qua hai nội dung: (1) Đánh giá
hiệu quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm chi phí và (2) Phân tích thông tin chi
phí cho việc ra quyết định tương lai. Tuy nhiên, kết quả khảo sát thực tế công tác phân
tích chi phí tại các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch lại phản ánh công tác này chưa
được coi trọng và còn khá đơn giản, chủ yếu dưới dạng so sánh các chỉ tiêu kinh tế giữa
thực tế với kế hoạch. Tác giả đề xuất áp dụng lập báo cáo theo các nhóm định hướng hoạt
động, so sánh kết quả hoạt động và cung cấp thông tin chi phí cho việc ra quyết định để
đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin chi phí cho quản trị doanh nghiệp [33].
2.1.5. Nghiên cứu về báo cáo kế toán quản trị chi phí
Tác giả Alfred D. Chandler Jr. (1977) trong nghiên cứu của mình cho thấy trong
ngành luyện kim, KTQT chi phí được áp dụng từ rất sớm. Andrew Carnegie – Một doanh
nhân lớn của thế kỉ XIX đã áp dụng KTQT để QLDN của mình từ năm 1872. Dựa trên ý
tưởng sử dụng chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau, ông đã chia

phục vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm, trung
tâm trách nhiệm chi phí thông qua hệ thống báo cáo KTQT chi phí. Đây là những báo cáo
được lập theo nhu cầu của nhà quản trị cho từng trung tâm trách nhiệm hoặc từng bộ
phận như phân xưởng, tổ, đội sản xuất, phòng, ban...trong doanh nghiệp. Để phục vụ cho
đánh giá hiệu quả hoạt động của mỗi bộ phận hoặc trung tâm trách nhiệm, trung tâm
trách nhiệm chi phí, báo cáo KTQT chi phí thường được lập theo dạng báo cáo so sánh
phản ánh lãi trên biến phí. Khi lập báo cáo KTQT chi phí cho từng bộ phận chức năng
(báo cáo bộ phận), chi phí cố định được tách thành chi phí cố định trực tiếp và chi phí cố
định chung [33]. Theo Lê Thị Minh Huệ (2016), nội dung và kết cấu của báo cáo KTQT
chi phí phải thể hiện được mục đích và mong muốn của nhà quản trị trong việc theo dõi,
phân tích, đánh giá các hoạt động SXKD của doanh nghiệp, đáp ứng được các yêu cầu về
tính thích hợp, tính kịp thời và tính hiệu quả. Kết quả khảo sát tại các DNSX mía đường
Thanh Hóa cho thấy báo cáo KTQT chi phí trong các doanh nghiệp còn mang tính tự
phát, chưa hệ thống và đồng bộ và điều này làm ảnh hưởng đến thông tin KTQT chi phí


10
cung cấp. Tác giả đề xuất các DNSX mía đường cần lập hệ thống báo cáo KTQT chi phí
theo các nhóm: Báo cáo định hướng hoạt động kinh doanh, báo cáo quản trị phục vụ cho
kiểm soát chi phí và báo cáo quản trị phục vụ cho việc ra quyết định [27].
Các nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu
và trình bày các phương pháp và các mô hình KTQT hiện đại nhằm phục vụ thông tin cho
quản trị chi phí. Những nghiên cứu về DNSX chủ yếu liên quan đến hệ thống quản lý chi
phí và quản lý kiểm soát như phương pháp Activity – Based Cost (ABC) với các nghiên
cứu cụ thể như nghiên cứu của tác giả Henry Quesada-Pineda (2010) - The ABCs of Cost
Allocation in the Wood Products Industry [67], Ali Uyar (2010) - Cost and Management
Accounting Practices: A Survey of Manufacturing Companies [48], Nitin Kumar,
Dalgobind Mahto (2013) - Current Trends of Application of Activity Based Costing
(ABC) [85],…Như vậy, KTQT chi phí đã được các tác giả trên thế giới nghiên cứu từ rất
sớm với nhiều góc độ khác nhau.

chi phí tại các khách sạn thuộc tập đoàn Mường Thanh,…Trong các công trình này, các
tác giả đã hệ thống hóa các nội dung cơ bản về KTQT nói chung và các vấn đề cụ thể của
KTQT chi phí nói riêng, đề xuất phương hướng ứng dụng vào các ngành cụ thể theo
phạm vi nghiên cứu của từng đề tài.
2.2. Các nghiên cứu về các vấn đề kế toán tại doanh nghiệp sản xuất giấy
Bùi Tiến Dũng (2018) nghiên cứu về tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp
sản xuất giấy – Nghiên cứu tại Tổng công ty giấy Việt Nam và các doanh nghiệp liên kết.
Tác giả tiếp cận tổ chức KTQT tại Tổng công ty Giấy Việt Nam và các doanh nghiệp liên
kết dưới góc độ tổ chức KTQT phục vụ cho 5 chức năng của nhà quản trị, đó là lập dự
toán SXKD, quản trị chi phí – giá thành, đánh giá thành quả hoạt động, hỗ trợ việc ra
quyết định và hỗ trợ quản trị chiến lược. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã tiến
hành khảo sát 8 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất giấy thành phẩm là Tổng
công ty giấy Việt Nam và 7 doanh nghiệp liên kết phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung,
Nam. Trên cơ sở khảo sát thực nghiệm, luận án đã đánh giá mức độ áp dụng KTQT tại
các DNSX giấy thuộc phạm vi nghiên cứu, đồng thời xem xét vai trò của KTQT với tư
cách là công cụ hỗ trợ cho quá trình quản lý trong doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho
thấy mặc dù chủ yếu dựa vào các kỹ thuật truyền thống, nhưng các kỹ thuật hiện đại của
KTQT cũng được các DNSX giấy bước đầu áp dụng ở mức độ nhất định trên cả 5 nội
dung cơ bản của tổ chức KTQT, gồm: KTQT chi phí, dự toán SXKD, đánh giá thành quả,
hỗ trợ ra quyết định và hỗ trợ quản trị chiến lược. Về kế toán quản trị chi phí, các đối
tượng được hỏi đã sử dụng các kỹ thuật khác nhau của KTQT chi phí: Về phương pháp
xác định chi phí sử dụng phổ biến là phương pháp xác định chi phí theo quá trình. Về
phương pháp tính giá thành sản phẩm chủ yếu các doanh nghiệp áp dụng phương pháp
toàn bộ. Về hệ thống dự toán SXKD, nhìn chung hệ thống dự toán SXKD đã được tổ
chức áp dụng tại các DNSX giấy, đáng chú ý có dự toán về sản phẩm sản xuất và dự toán
CPSX sử dụng khá phổ biến. Tiếp theo là dự toán bán và dự toán mua. Dự toán báo cáo
tài chính và dự toán lưu chuyển tiền tệ áp dụng khá hạn chế. Các loại dự toán được các
doanh nghiệp lập chủ yếu thực hiện theo phương pháp truyền thống dựa vào dữ liệu quá
khứ là căn cứ để lập, tiếp đó là dự toán tĩnh. Phương pháp lập dự toán hiện đại như dự
toán linh hoạt chưa được quan tâm sử dụng. Nghiên cứu cũng chỉ ra việc đánh giá cao vai

2.3. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị
chi phí trong doanh nghiệp
Đã có những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước chỉ ra mối quan hệ và
ảnh hưởng của một số nhân tố đến việc áp dụng KTQT nói chung cũng như KTQT chi
phí nói riêng trong các doanh nghiệp. Khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp
dụng KTQT chi phí trong doanh nghiệp, tác giả nhận thấy phần lớn các nhà khoa học tập
trung xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng KTQT nói chung. Tác giả cho
rằng, KTQT chi phí là một bộ phận của hệ thống KTQT doanh nghiệp nên các nhân tố
ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT cũng sẽ tác động đến việc áp dụng KTQT chi phí.
Đồng thời, bằng phương pháp định tính và định lượng, các nghiên cứu đã xem xét và


13
đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng KTQT nói chung và KTQT chi phí nói
riêng ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Chenhall, R.H. & Langfield-Smith, K. (1998) trong một nghiên cứu về vận dụng và
lợi ích của thực hành KTQT tại các công ty sản xuất ở Australia đã giải thích lý do các
công ty sản xuất lớn có tỷ lệ vận dụng KTQT hiện đại cao hơn, đó là sự tăng lên về quy
mô tổ chức sẽ dẫn đến sự phức tạp của cơ chế quản lý nên đòi hỏi các doanh nghiệp lớn
vận dụng các kỹ thuật KTQT phức tạp hơn. Các doanh nghiệp quy mô lớn thường có nhu
cầu thông tin quản trị nhiều hơn cũng như có tiềm lực tài chính để tăng cường sử dụng
các phương pháp KTQT phức tạp hơn [56].
Wu, Junjie and Boateng, Agyenim (2010) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự
thay đổi trong thực tiễn KTQT Trung Quốc. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về
các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong thực tiễn KTQT Trung Quốc. Phân tích đa
biến cho thấy quy mô của công ty, đối tác nước ngoài và trình độ hiểu biết của các nhà
quản lý và nhân viên kế toán có ảnh hưởng tích cực đến những thay đổi trong thực tiễn
KTQT của các liên doanh đối tác nước ngoài. Quy mô doanh nghiệp và mức độ kiến thức
của các nhà quản lý cấp cao dường như ảnh hưởng đến những thay đổi trong thực tiễn
KTQT. Tuy nhiên, không có sự hỗ trợ nào được đưa ra cho giả thuyết rằng Chính phủ

thông tin kế toán [89].
Nghiên cứu của Leite, A. A., Fernandes, P. O., & Leite, J. M. (2015) về các yếu tố
ngẫu nhiên ảnh hưởng đến việc sử dụng thực hành KTQT trong lĩnh vực dệt may Bồ Đào
Nha cho thấy sự quan tâm của nhà quản trị đến KTQT có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ
áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp. Nhà quản trị là người trực tiếp sử dụng thông tin
KTQT để ra quyết định, do vậy nhu cầu sử dụng thông tin của nhà quản trị có ảnh hưởng
quan trọng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp. Ngoài nhu cầu thông tin, sự
ủng hộ của nhà quản trị trong việc tiếp cận các kỹ thuật KTQT mới và vận dụng vào
doanh nghiệp cũng là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến sự vận dụng KTQT trong doanh
nghiệp [78].
Anh, D. N. P. (2016) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng và
hiệu quả của thực hành KTQT trong nền kinh tế chuyển đổi đã chỉ ra nhân tố cơ bản ảnh
hưởng đến mức độ áp dụng KTQT của các doanh nghiệp Việt Nam, đó là mức độ cạnh
tranh. Thông qua dữ liệu khảo sát từ 220 doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và lớn,
kết quả nghiên cứu cho thấy có sự ảnh hưởng tích cực của nhân tố mức độ cạnh tranh đến
việc sử dụng các công cụ KTQT hiện đại trong các doanh nghiệp [51].
Lê Thị Hồng (2016) trong công trình nghiên cứu Hoàn thiện hệ thống thông tin
KTQT chi phí trong các doanh nghiệp khai thác chế biến đá ốp lát ở Việt Nam cho rằng
để hệ thống thông tin KTQT chi phí thực sự hiệu quả đối với hoạt động SXKD của đơn
vị, đáp ứng tối đa yêu cầu quản lý, khi xây dựng hệ thống thông tin KTQT chi phí cần
tính đến các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng hệ thống thông tin KTQT chi phí để xây
dựng một cách phù hợp nhất. Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu liên quan, luận án đã
đưa ra nhận định “Hệ thống thông tin KTQT chi phí trong doanh nghiệp chịu tác động
bởi các nhân tố chủ quan và khách quan, trong đó hệ thống thông tin KTQT chi phí chủ
yếu phục vụ cho mục đích quản trị trong đơn vị nên nhân tố chủ quan đóng vai trò quan
trọng và có tính quyết định đến xây dựng cũng như phát triển hệ thống thông tin KTQT
chi phí trong doanh nghiệp”. Theo đó, tác giả tổng kết nhóm nhân tố chủ quan bao gồm:


15

tố sau: Trình độ công nghệ thông tin, hiểu biết của nhà quản trị về công nghệ thông tin và
kế toán, đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý và trình độ nhân viên kế toán. Kết quả nghiên
cứu cho thấy trình độ công nghệ thông tin là nhân tố tác động cùng chiều và tác động
mạnh nhất tới tính hữu hiệu của hệ thống thông tin KTQT chi phí, tiếp theo là nhân tố
hiểu biết của nhà quản trị về công nghệ thông tin và kế toán, đặc điểm cơ cấu tổ chức


16
quản lý, và cuối cùng là trình độ nhân viên kế toán có ít tác động đến hệ thống thông tin
KTQT chi phí tại các khách sạn này [10].
Như vậy, một số công trình khoa học đã xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến nhu
cầu thông tin chi phí của nhà quản trị, nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống thông tin KTQT
chi phí, nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT trong doanh nghiệp, nhân tố gây ra
hạn chế của KTQT chi phí bằng phương pháp nghiên cứu định tính hoặc phương pháp
nghiên cứu định lượng nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu trong phạm vi từng đề tài. Có
thể tổng hợp các nhân tố đã được các nhà nghiên cứu tiền nhiệm phát hiện thông qua kết
quả nghiên cứu trong bảng MĐ.1 như sau:
Bảng MĐ.1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT
trong các công trình nghiên cứu liên quan
TT
1

2
3

Nguồn nghiên cứu
Chenhall, R.H. &
Langfield-Smith, K.
(1998)
Wu, Junjie and Boateng,

- Trình độ hiểu biết của các nhà quản lý
- Áp lực cạnh tranh trên thị trường
- Quy mô DN
- Công nghệ sản xuất
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin
- Sự quan tâm của nhà quản trị đến KTQT
- Sự ủng hộ của nhà quản trị trong việc tiếp cận các
kỹ thuật KTQT mới và vận dụng vào DN
- Sự phân quyền
- Mức độ cạnh tranh
- Các điều kiện về cơ sở vật chất
- Sự ủng hộ của nhà quản trị và nhận thức của nhà
quản trị
- Quy mô DN
- Mức độ cạnh tranh của thị trường
- Yếu tố công nghệ và kỹ thuật sản xuất
- Sự tham gia của nhà quản trị
- Trình độ của nhân viên kế toán
- Trình độ công nghệ thông tin
- Hiểu biết của nhà quản trị về công nghệ thông tin
và kế toán
- Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý


17
- Trình độ nhân viên kế toán
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trong các nghiên cứu tiền nhiệm, các các tác giả hầu như chưa tiếp cận các nhân tố
ảnh hưởng một cách toàn diện và hệ thống mà thường tập trung nghiên cứu vào một vài
nhân tố rời rạc theo mục tiêu của từng đề tài. Mặt khác, nghiên cứu các nhân tố ảnh




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status