BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
PHAN THỊ THU HIỀN
NHËN THøC CñA NH¢N VI£N Y TÕ
VÒ V¡N HãA AN TOµN NG¦êI BÖNH
T¹I BÖNH VIÖN §A KHOA QUèC TÕ VINMEC
TIMES CITY
N¡M 2017
Chuyên ngành
: Quản lý bệnh viên
Mã số
: 60720701
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HUY
HÀ NỘI - 2017
MỤC LỤC
ĐD-HS-KTV
Điều dưỡng viên
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
NV
Nhân viên
KCB
Khám chữa bệnh
LĐ
Lãnh đạo
LS
Lâm sàng
NB
Người bệnh
KHTH
triển nguy cơ này thậm chí còn cao hơn [32].
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, hàng năm có khoảng 230 triệu ca
phẫu thuật, và tử vong trực tiếp liên quan tới phẫu thuật từ 0,4-0,8%; biến
chứng phẫu thuật từ 3-16 % Ngoài ra nhưng tổn thất đằng sau hay hậu quả
của những sự cố y khoa không mong muốn thì có thể vô cùng nặng nề, tốn
kém và kéo dài thời gian nằm viện [19].
Văn hóa an toàn được định nghĩa là “Thái độ, niềm tin, và giá trị được
thừa nhận làm cơ sở để mọi người nhận thức và hành động vì sự an toàn theo
tổ chức của họ”. Tổ chức nào có văn hóa an toàn thì ở đó giá trị công việc
được xây dựng trên sự tin tưởng, mọi người nhận thức được tầm quan trọng
của văn hóa an toàn và độ tin cậy tính hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa
[17], [18].
Ở Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành rất nhiều các Văn bản hướng dẫn
nhằm nâng cao chất lượng và quản lý ATNB. Định hướng ATNB từ góc nhìn
hệ thống, từ quan điểm của người bệnh, của cán bộ y tế thông qua việc cung
7
cấp thông tin dịch tễ về sự cố y khoa, cách phân loại sự cố, tìm hiểu nguyên
nhân và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm ATNB trên cơ sở tổng hợp và
nghiên cứu các khuyến cáo của Tổ chức y tế Thế giới và các nước đi tiên
phong trong lĩnh vực ATNB.
Các Bộ tiêu chuẩn đo lường chất lượng bệnh viện đã được xây dựng,
gần đây nhất, Bộ Y tế đã xây dựng Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Bệnh
viện gồm 83 tiêu chí để áp dụng chung cho toàn hệ thống Y tế Việt Nam với
mục tiêu cao cả là đảm bảo an toàn người bệnh trên cơ sở xây dựng văn hóa
an toàn (VHAT).
Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City đi vào hoạt động từ
7/1/2012 với định hướng chất lượng đạt chuẩn JCI- bộ tiêu chuẩn quốc tế về
hiểm. Các tổ chức có độ tin cậy cao duy trì cam kết về an toàn ở tất cả các cấp
độ, từ các nhà cung cấp dịch vụ trực tiếp tới các nhà quản lý và giám đốc điều
hành. Cam kết này thiết lập một "văn hoá an toàn" bao gồm các đặc điểm
chính : (1) Thừa nhận bản chất nguy cơ cao của hoạt động của một tổ chức và
quyết tâm đạt được các hoạt động liên tục an toàn; (2) Một môi trường không
có lỗi, nơi mà các cá nhân có thể báo cáo lỗi hoặc bỏ sót gần mà không sợ
khiển trách hoặc trừng phạt; (3) Khuyến khích hợp tác qua các cấp bậc và kỷ
luật để tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề an toàn bệnh nhân; (4) Cam kết
tổ chức các nguồn lực để giải quyết các mối quan ngại về an toàn [20].
Cải thiện văn hoá an toàn trong chăm sóc sức khoẻ là một thành phần
thiết yếu trong việc ngăn ngừa hoặc giảm bớt các sai sót và nâng cao chất
lượng chăm sóc sức khoẻ nói chung. Các nghiên cứu đã ghi nhận sự khác biệt
đáng kể trong nhận thức về văn hoá an toàn giữa các tổ chức và mô tả công
việc . Trong các cuộc điều tra trước, các y tá thường phàn nàn về việc thiếu một
môi trường không có lỗi, và các nhà cung cấp ở tất cả các cấp đã ghi nhận những
vấn đề với cam kết của tổ chức đối với việc thiết lập một nền văn hoá an
toàn. Những lý do cơ bản cho nền văn hoá an toàn chăm sóc sức khoẻ kém phát
triển là phức tạp, với sự làm việc theo nhóm và truyền thông kém , " văn hoá của
những kỳ vọng thấp " và các mức độ thẩm quyền đều có vai trò [20].
9
1.1.2. An toàn người bệnh
An toàn người bệnh là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy
hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc [31]. An toàn người
bệnh là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an
toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ
y tế đáng tin cậy (AHRQ, 2004). An toàn người bệnh còn là một thuộc
10
sai sót, sự cố do dùng thuốc xảy ra hàng năm và có tới 7.000 người chết do sai
-
sót dùng thuốc hàng năm [34].
Sự cố y khoa do nhầm lẫn liên quan tới phẫu thuật (nhầm vị trí, nhầm phương
pháp, nhầm người bệnh). Sự cố y khoa do phẫu thuật theo ước tính của WHO:
Cứ 25 người có một người có phẫu thuật, hàng năm có khoảng 230 triệu phẫu
thuật, tử vong liên quan tới phẫu thuật từ 0,4% - 0,8% và biến chứng do phẫu
thuật từ 3% - 16%23. Sự cố y khoa không mong muốn có tần suất cao trên
-
những người bệnh có phẫu thuật (50%)[34],[5].
Sự cố y khoa do nhiễm khuẩn bệnh viện
Sự cố y khoa do người bệnh bị té ngã trong khi đang điều trị tại các cơ sở y tế.
Chú ý: Thông tư số 19 /2013/TT-BYT Hướng dẫn thực hiện quản lý chất
lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện bổ sung thêm nội dung an
toàn người bệnh trong việc sử dụng trang thiết bị y tế.
1.2.2.
Phân loại theo lỗi cá nhân và hệ thống
Trong y tế, các quy trình chuyên môn, các hoạt động của thầy thuốc
như khám bệnh, chẩn đóan, kê đơn, can thiệp thủ thuật, kể cả các hoạt động
hành chính gián tiếp cũng đều có thể gây rủi ro trực tiếp hoặc gián tiếp trên
người bệnh. Vì vậy, thường quy làm việc của các bệnh viện, mọi quy trình
công việc cần được thiết kế sao cho toàn bộ hệ thống có khả năng phát hiện
và phòng ngừa sự cố xảy ra với người bệnh.
a. Yếu tố người hành nghề
Sai sót không chủ định: (1) Do thói quen công việc như một người pha
thuốc và một người tiêm; sao y lệnh thuốc; (2) Do dựa vào trí nhớ như bác sĩ
khám bệnh cho tất cả bệnh nhân sau đó mới ghi bệnh án, điều dưỡng cuối
ngày mới ghi nhận xét vào hồ sơ bệnh nhân…; (3) Do quên như quên không
lấy bệnh phẩm xét nghiệm, quên không bàn giao cho ca trực sau, quên không
cho người bệnh dùng thuốc đúng giờ, ra y lệnh miệng sau đó quên không ghi
bệnh án..; (4) Do tình cảnh của người hành nghề như mệt mỏi, ốm đau, tâm
lý…; (5) Do kiến thức, kinh nghiệm của người hành nghề. Một số trường hợp
sự cố y khoa không mong muốn xảy ra ngay đối với các thầy thuốc có kinh
nghiệm nhất và đang trong lúc thực hiện công việc chuyên môn có trách nhiệm.
Sai sót do cố ý: (1) Cắt xén hoặc làm tắt các quy trình chuyên môn
(chưa tuân thủ vệ sinh tay, mang găng tay..); (2) Vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, lợi ích của người bệnh không được đặt lên hàng đầu dẫn đến lạm
dụng thuốc, lạm dụng kỹ thuật cao và các thiết bị y tế can thiệp trên người
bệnh không bảo đảm chất lượng.
b. Yếu tố chuyên môn
Y học mang tính xác suất và bất định cao. Người bệnh trong các cơ sở
y tế phải trải qua nhiều can thiệp thủ thuật, phẫu thuật, đưa thuốc, hóa chất
vào cơ thể dễ gây phản ứng dẫn đến rủi ro bất khả kháng. Vì vậy, cần nhận
thức không phải sự cố y khoa nào cũng do thầy thuốc thiếu trách nhiệm và
thiếu y đức.
Hạn chế của y học. Những thành tựu y học trong y tế đã giúp phát hiện
sớm bệnh tật và nhiều người mắc bệnh nan y đã được điều trị thành công
mang lại hạnh phúc cho hàng triệu người bệnh. Tuy nhiên, những hạn chế của
y học trong một số trường hợp tạo nên sự cố y khoa nghiêm trọng. Ví dụ, tại
Đài Loan (2012) đã dùng tạng của người bệnh HIV (+) để ghép tạng cho 5
người bệnh khác.
14
1.3. Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại các bệnh viện
Cho đến nay đã có rất ít nghiên cứu trên lĩnh vực văn hóa an toàn người
bệnh tại các bệnh viện ở Việt Nam. Các nghiên cứu nhằm xác định xem văn
hóa an toàn được đánh giá tích cực nhất là trong lĩnh vự nào và kiểm định sự
khác biệt về văn hóa an toàn người bệnh với các yếu tố chức danh nghề
nghiệp, chức vự, thâm niên công tác, mức thu nhập của nhân viên y tế.
Nghiên cứu của tác giả Tăng Chí Thượng và cộng sự (2012) về “Khảo
sát văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2012”. Kết quả
cho thấy tỉ lệ trả lời tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực: làm việc nhóm
trong khoa, hỗ trợ của bệnh viện trong việc khuyến khích ATNB, thông tin
phản hồi và học tập cải tiến liên quan đến ATNB.Trong khi đó, có nhiều phản
hồi không tích cực ở các lĩnh vực như: sự phối hợp giữa các khoa phòng, phối
hợp giữa các khoa trong bàn giao chuyển bệnh, thiếu nhân sự, cởi mở trong
thông tin về sai sót, tần suất báo cáo sự cố và nhất là “hành xử không buộc tội
khi có sai sót” [2].
Nghiên cứu của Trần Nguyễn Như Anh và cộng sự (2015) về “Nghiên
cứu an toàn người bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ” trên 2118 nhân viên bệnh viện.
Văn hóa an toàn người bệnh được đánh giá tích cực nhất là lĩnh vực “Làm
việc theo ê kíp trong khoa/phòng” với điểm số trung bình là 4,18 điểm, tiếp
đến là “Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý”
với điểm trung bình là 4,07; và lĩnh vực nhận phản hồi tích cực thấp nhất,
chỉ khoảng 2,3 điểm là thành phần “Bàn giao và chuyển bệnh” và “Không
trừng phạt khi có sai sót” [3].
Nghiên cứu của Lê Thanh Chiến và cộng sự (2016) về “Khảo sát thực
trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2016” trên
768 nhân viên. Văn hóa an toàn, phản hồi tích cực tập trung ở các lĩnh vực:
trong hệ thống bên cạnh lỗi chủ động đã được phát hiện.
16
Văn hóa buộc tội là cách tiếp cận truyền thống khi có sự cố, tai biến,
sai sót xảy ra. Văn hóa đổ lỗi, văn hóa buộc tội là một cách tiếp cận con
người rất mạnh mẽ và cũng rất tự nhiên [35 ]. Mỗi khi xảy ra tai biến, câu
hỏi đầu tiên thường gặp là “Ai? Ai làm sai?” (Who’s wrong ?), và thường có
khuynh hướng qui trách nhiệm liên quan đến cá nhân, người trực tiếp
chăm sóc người bệnh ở thời điểm gây ra tai biến. Với cách tiếp cận này,
thường sẽ tạo ra tâm lý che giấu sai sót và ngại báo cáo. Hậu quả là các sai
sót có thể lặp đi lặp lại ở các cá nhân khác hoặc ở khoa khác do bệnh viện
không biết và đương nhiên chưa có giải pháp chủ động phòng ngừa. Bên
cạnh đó, xét đến khía cạnh tâm lý của cá nhân liên quan, dù người bị quy
trách nhiệm có vai trò gì trong quá trình dẫn đến sự cố đi chăng nữa, có rất ít
khả năng là hành động của người đó là cố ý gây tổn hại người bệnh mà phần
lớn họ thường rất buồn vì nghĩ rằng hành động của họ hoặc việc họ không
hành động đã có thể góp phần gây ra sự cố. Và điều họ không cần đến nhất là
bị trừng phạt.
Theo cách tiếp cận hệ thống nêu trên, để có thể nhận diện hết những
sai sót liên quan đến tai biến bao gồm sai sót chủ động và sai sót tiềm ẩn, tốt
nhất tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra và vì sao lại xảy ra? Giúp nhận diện
những nguyên nhân hoặc yếu tố có liên quan, từ đó đề xuất các giải pháp
khắc phục. Với cách tiếp cận như vậy, không những làm giảm sự e ngại khi
báo cáo sai sót mà còn giúp bệnh viện chủ động phòng ngừa các sai sót lặp
đi lặp lại.
1.4. Các yếu tố liên quan đến văn hóa an toàn người bệnh
Yếu tố con người trong văn hóa an toàn người bệnh. Ủy ban về an toàn
như sau. Tạo dựng môi trường làm việc tránh dựa vào trí nhớ như xây dựng
phần mềm kê toa điện tử hoặc hình ảnh/sơ đồ hóa các bước trong qui trình;
giúp làm mọi việc trở nên rõ ràng hơn như sử dụng hình vẽ và hướng dẫn về
các bước vận hành trang thiết bị; hay như đơn giản hóa các bước trong qui
trình, càng đơn giản càng tốt, vì quá phức tạp là công thức cho sai sót xảy ra.
Ví dụ giới hạn các loại thuốc sẵn có để kê đơn; hay giới hạn số liều của các
18
loại thuốc sẵn có; và giữ bản kiểm kê các loại thuốc thường được dùng cho
bệnh nhân hay như đơn giản hóa qui trình thông tin liên lạc bằng cách nhắc
lại hai lần, hoặc ISBAR [28]. Chuẩn hoá các qui trình và thủ tục, vì tại bệnh
viện hoặc tại các cơ sở y tế rất dễ dàng quan sát thấy mỗi Khoa/phòng, mỗi
nhân viên thực hiện cùng một công việc với những cách khác nhau. Điều đó
có nghĩa là họ phải học lại cách thực hiện công việc mỗi khi chuyển sang một
lĩnh vực mới. Với phương pháp làm việc tiêu chuẩn hóa các qui trình và thủ
tục sẽ giúp nhân viên đỡ phải dựa vào trí nhớ, hạn chế sai sót, sự cố và giúp
tăng hiệu suất làm việc và tiết kiệm thời gian. Sử dụng bảng kiểm, một công
cụ đơn giản nhưng hiệu quả nếu được tuân thủ nghiêm túc, ví như bảng kiểm
an toàn phẫu thuật của Tổ chức Y tế thế giới [11]. Và hạn chế phụ thuộc vào
khả năng tập trung của con người vì họ dễ bị mất tập trung và cảm thấy chán
khi họ tham gia những hoạt động kéo dài và lặp đi lặp lại.
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay trong công tác chăm sóc
sức khỏe là làm sao để công tác này an toàn hơn nữa trong môi trường y
tế vô cùng phức tạp, đầy áp lực và thay đổi nhanh chóng [31 ]. Thách thức
này được minh chứng một cách rõ nét từ cuối thập niên 1990, từ hai bản Báo
cáo có tầm ảnh hưởng lớn - Nhân vô thập toàn, do Viện Y khoa Mỹ xuất bản
năm 1999 và Một tổ chức của chính phủ Vương quốc Anh công bố năm
2000. Cả hai Báo cáo đều thừa nhận sai sót là chuyện thường gặp trong quá
Năm
Số ca
nhập
viện
Số
tai
biến
Tỉ lệ
tai biến
(%)
Mỹ (New York) (Nghiên cứu thực
hành y khoa - Harvard)
1984
30.195
1.133
3,8
Mỹ (Utah-Colorado) (UTCOS)
1992
14.179
1.499
10,6
Anh
1999 - 2000
1.014
119
11,7
Đan Mạch
1998
1.097
176
9,0
New Zealand
1998
nhiễm khuẩn, cũng như nguồn nhân lực chưa đáp ứng được mong đợi do
thiếu kỹ năng làm việc và tạo động lực thấp (WHO, 2009). Riêng nhiễm
khuẩn bệnh viện, Tổ chức y tế thế giới (2009) ước tính tại các nước đang phát
triển cao gấp 20 lần so với các nước đã phát triển.
Những quan ngại về an toàn người bệnh không chỉ gây tổn hại và đau
đớn về thể chất và tinh thần cho người bệnh và gia đình của họ, mà còn gây ra
những gánh nặng về mặt kinh tế với chi phí y tế do sai sót y khoa gây ra ở
một số nước là từ 6 tỷ đến 29 tỷ đô la Mỹ hàng năm do thời gian nằm viện
điều trị kéo dài, chi phí kiện tụng, khiếu nại, nhiễm khuẩn bệnh viện, mất thu
nhập, tàn phế [14].
Trước tình hình đó, WHO đã đưa ra quan điểm về an toàn người bệnh
nhằm phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá
trình điều trị và chăm sóc, có rất nhiều các giải pháp được đưa ra nhưng hiệu
quả và tính xác thực còn đang là một vấn đề cần phải theo dõi lâu dài.
21
1.5.
Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City đi vào hoạt động từ
7/1/2012, Vimec là thương hiệu trong lĩnh vực y tế do Tập đoàn kinh tế tư nhân
hang đầu Việt Nam - Vingroup đầu tư và phát triển. Bệnh viện Vimec với đội
ngũ y - bác sỹ là các chuyên gia đầu ngành, trình độ chuyên môn cao, tận tụy
và hết lòng vì lợi ích của người bệnh; Dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn
diện, chuyên nghiệp; Hệ thống trang thiết bị hiện đại, hỗ trợ chẩn đoán và điều
trị hiệu quả; Không gian khám chữa bệnh hiện đại, văn minh, sang trọng và tiệt
trùng tối đa; Mô hình quản lý, chia sẻ và kết nối dữ liệu thông tin trực tuyến
2. Lãnh đạo bệnh viện xây dựng và đưa vào văn bản bộ quy tắc ứng xử
và xác định, sửa chữa những hành vi không thể chấp nhận.
3. Lãnh đạo bệnh viện cung cấp đào tạo và thông tin (như văn học và
khuyến cáo) liên quan đến văn hóa an toàn của bệnh viện cho tất cả các cá
nhân làm việc trong bệnh viện.
4. Lãnh đạo bệnh viện xác định phương thức xác định và quản lý các
vấn đề liên quan đến văn hóa an toàn trong bệnh viện
5. Lãnh đạo bệnh viện cung cấp nguồn lực để thúc đẩy và hỗ trợ văn
hóa an toàn trong bệnh viện.
6. Lãnh đạo bệnh viện cung cấp một hệ thống đơn giản, dễ tiếp cận và
bí mật hỗ trợ việc báo cáo các vấn đề liên quan đến văn hóa an toàn trong
bệnh viện.
7. Lãnh đạo bệnh viện đảm bảo rằng tất cả các báo cáo liên quan đến
văn hóa an toàn của bệnh viện được điều tra một cách kịp thời.
8. Bệnh viện xác định hệ thống các vấn đề dễ khiến nhân viên y tế có
các hành vi không an toàn.
9. Lãnh đạo bệnh viện sử dụng các đánh giá tiêu chuẩn để đánh giá và
giám sát các cải tiến được xác định từ quy trình đánh giá.
10. Lãnh đạo bệnh viện thực hiện một quy trình ngăn chặn sự trừng
phạt đối với người báo cáo các vấn đề liên quan đến văn hóa an toàn.
Để đạt được các tiêu chí như vậy, Vinmec đã thực hiện cả quá trình.
Các giải pháp của Vinmec để xây dựng và thúc đẩy văn hóa an toàn [27]:
23
−
−
−
quát về thực trạng Văn hóa an toàn tại Vinmec, để kịp thời can thiệp chuẩn bị
24
cho lần thẩm định tiếp theo vào tháng 5/2018, chúng tôi quyết định thực hiện
nghiên cứu này.
1.6. Khung lý thuyết
Văn hóa An toàn người bệnh
25
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả nhân viên y tế tham gia chăm sóc trực tiếp
và gián tiếp bệnh nhân, trong đó có thể kể đến nhân viên y tế chăm sóc trực
tiếp người bệnh như bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, hộ lý. Nhân viên y tế
không trực tiếp chăm sóc người bệnh nhưng công việc của họ có ảnh hưởng
đến việc chăm sóc người bệnh như dược sĩ, kỹ thuật viên xét nghiệm, kỹ thuật
viên trang thiết bị, nhân viên hành chính và người quản lý. Có thời gian công
tác tại Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vimec từ 6 tháng trở lên và đồng ý tham
gia vào nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu; Nhân viên
y tế là những thành phần khác hoặc đang đi học, nghỉ thai sản, ốm.
2.2.