BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN CẢNH PHONG
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN
CƠ THỂ HOÁ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Chuyên ngành : Tâm thần
Mã số
: CK62722245
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN KIM VIỆT
HÀ NỘI -2018
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả lòng kính trọng và sự biết ơn chân thành, nhân dịp hoàn thành
bản luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng biết sâu sắc tới nhất tới:
Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Bộ môn Tâm Thần trường
Đại học Y Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành
luận văn này.
Đảng ủy, Ban giám đốc, Bệnh viện Lão Khoa Trung ương, Viện Sức
khỏe Tâm Thần – Bệnh viện Bạch Mai đã cho phép và giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện luận văn.
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGSTS. Nguyễn Kim
Việt, Bộ môn Tâm Thần Trường Đại học Y Hà Nội, người thầy đã dìu dắt tôi
trong học tập và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
3.
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,
trung thực và khách quan, đã được sự xác nhận và chấp thuận của
cơ sở nơi nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này.
Hà nội, ngày 24 tháng 09 năm 2018
Học viên
Trần Cảnh Phong
CHỮ VIẾT TẮT
BN
: Bệnh nhân
CTH
: Cơ thể hóa
DSM
: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders
(Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần
của hội tâm thần học Mỹ)
: Tổ chức Y tế thế giới
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU...........................................................3
1.1. Khái niệm và phân loại các rối loạn dạng cơ thể...................................3
1.1.1. Khái niệm rối loạn cơ thể hóa.........................................................6
1.1.2. Cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh.......................................................7
1.1.3. Dịch tễ...........................................................................................11
1.1.4. Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán rối loạn cơ thể hóa...................13
1.1.5. Các trắc nghiệm tâm lý..................................................................16
1.2. Người cao tuổi......................................................................................17
1.2.1. Khái niệm......................................................................................17
1.2.2. Đặc điểm tâm sinh lý người cao tuổi.............................................18
1.3. Đặc điểm lâm sàng rối loạn cơ thể hóa ở người cao tuổi.....................20
1.4. Một số yếu tố liên quan........................................................................23
1.4.1. Tuổi................................................................................................23
1.4.2. Giới................................................................................................24
1.4.3. Đặc điểm văn hóa, xã hội..............................................................24
1.4.4. Nhân cách......................................................................................25
1.4.5. Các stress hay gặp ở người già......................................................26
1.4.6. Các bệnh lý thực thể......................................................................26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............27
2.1. Địa điểm nghiên cứu............................................................................27
2.2. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................27
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu...................................27
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ...........................................................................27
2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu..............................................................................27
3.2.11. Các chuyên khoa cơ thể đã khám................................................43
3.2.12. Đặc điểm điều trị hóa dược.........................................................44
3.2.13. Thời gian nằm viện......................................................................44
3.2.14. Hiệu quả điều trị khi ra viện........................................................45
3.3. Một số yếu tố liên quan tới rối loạn cơ thể hóa....................................45
3.3.1. Mối liên quan giữa tuổi khởi phát và triệu chứng khởi phát.........45
3.3.2. Mối liên quan giữa giới và số triệu chứng cơ thể trung bình........46
3.3.3. Mối liên quan giữa sang chấn tâm lý và tuổi................................46
3.3.4. Mối liên quan giữa bệnh lý cơ thể và giới.....................................47
3.3.5. Đặc điểm tính cách thường gặp ở bệnh nhân................................48
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN..............................................................................49
4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu................................................49
4.1.1. Đặc điểm về tuổi...........................................................................49
4.1.2. Đặc điểm tuổi khởi phát................................................................50
4.1.3. Đặc điểm về giới tính....................................................................51
4.1.4. Đặc điểm về nơi ở.........................................................................51
4.1.5. Đặc điểm về nghề nghiệp trước đây..............................................52
4.1.6. Đặc điểm về trình độ học vấn........................................................52
4.1.7. Đặc điểm về tình trạng hôn nhân..................................................53
4.1.8. Đặc điểm thời gian bị bệnh...........................................................54
4.2. Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu............................................55
4.2.1. Đặc điểm xuất hiện của các triệu chứng cơ thể.............................55
4.2.2. Đặc điểm chung của các triệu chứng cơ thể..................................57
4.2.3. Đặc điểm các vị trí đau..................................................................57
4.2.4. Đặc điểm các triệu chứng dạ dày - ruột.........................................59
4.2.5. Các triệu chứng giả thần kinh........................................................59
4.2.6. Các triệu chứng khác.....................................................................60
4.2.7. Các triệu chứng tâm thần phối hợp...............................................61
Đặc điểm về trình độ học vấn.....................................................34
Bảng 3.4:
Đặc điểm xuất hiện của các triệu chứng cơ thể...........................36
Bảng 3.5:
Đặc điểm chung của các triệu chứng cơ thể................................37
Bảng 3.6:
Các vị trí đau...............................................................................38
Bảng 3.7:
Các triệu chứng giả thần kinh.....................................................39
Bảng 3.8:
Các triệu chứng tâm thần phối hợp.............................................41
Bảng 3.9:
Số triệu chứng trung bình và chỉ số test Beck, Zung..................41
Bảng 3.10: Thái độ của bệnh nhân khi được khám và điều trị chuyên
khoa tâm thần..............................................................................43
quốc (2007), tỷ lệ người già (60 tuổi trở lên) trong dân số đã tăng lên một
cách nhanh chóng, từ 8% năm 1950 lên đến 11% năm 2007, và dự báo lên đến
22% vào năm 2050 [1],[2]. Ngoài những bệnh về thực thể như: tim mạch, tiêu
hóa, cơ xương khớp thì các rối loạn tâm thần cũng là một thách thức không
nhỏ với sức khỏe người cao tuổi. Các rối loạn tâm thần kinh ở người già
chiếm 6,6% tổng số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật (DALYs) ở nhóm tuổi
này; và 15% người trên 60 tuổi mắc phải các rối loạn tâm thần [2].
Tìm hiểu về những triệu chứng của các rối loạn tâm thần thường gặp ở
người cao tuổi sẽ giúp người cao tuổi và gia đình sớm nhận biết bệnh, có kế
hoạch điều trị và hỗ trợ kịp thời, giúp quá trình hồi phục được nhanh hơn và
nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.
Rối loạn cơ thể hóa là một rối loạn tâm thần được biểu hiện chủ yếu
bằng các triệu chứng cơ thể. Các triệu chứng này rất đa dạng, thường xuyên
biến đổi, ít nhiều chịu tác động của các yếu tố căng thẳng tâm lý. Bệnh nhân
luôn tin tưởng mình đang mắc một bệnh cơ thể thực sự, mặc dù đi khám bệnh
và làm xét nghiệm nhiều lần đã đưa đến kết luận không mắc bệnh thực thể. Tỷ
lệ ước tính của rối loạn cơ thể hóa là 1% dân số nói chung, 1 - 6% ở các cơ sở
chăm sóc sức khỏe ban đầu và điều trị nội trú, nữ nhiều hơn nam với tỷ lệ 2:1
đến 6:1, thường khởi phát trước 30 tuổi đến 40 tuổi và kéo dài, được coi như
là một rối loạn suốt đời, gặp nhiều khó khăn khi điều trị [3].
2
Rối loạn cơ thể hóa có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với
người bệnh nếu không được phát hiện sớm và điều trị thích hợp. Bệnh nhân
giảm nhiều chất lượng sống, khó khăn thực hiện các chức năng sinh hoạt hàng
ngày, thường phải giành nhiều thời gian và tiền bạc cho nhiều cuộc khám bệnh,
xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, điều trị nội trú không cần thiết tại các chuyên
khoa khác nhau. Đặc biệt ở người cao tuổi, rối loạn cơ thể hóa kéo dài có thể
có các triệu chứng lo âu và trầm cảm rõ rệt [4].
Các biểu hiện của rối loạn dạng cơ thể phong phú, đa dạng, tái diễn và
kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, đã được khám nhiều lần ở các dịch vụ y tế ban
đầu và các chuyên khoa sâu, nhưng đều không phát hiện được tổn thương thực
thể nào tương xứng.
Trong thời kỳ đầu, các rối loạn dạng cơ thể phát triển dần dần, không rõ
ràng, không thuộc về phạm vi một cơ quan nào, kèm theo biểu hiện cảm xúc lo
âu, trầm cảm mờ nhạt. Do vậy, người bệnh chưa bao giờ đến khám thày thuốc
tâm thần, mà chỉ được các thày thuốc chuyên khoa khác theo dõi. Diễn tiến các
triệu chứng rối loạn dạng cơ thể có xu hướng tiến triển mạn tính và dao động,
dễ hình thành các phản ứng nhân cách bệnh lý khác nhau như nhân cách lo âu
tiến triển, nhân cách nghi bệnh tiến triển, nhân cách suy nhược trầm cảm, nhân
cách trầm cảm ám ảnh… [4].
Tại các bệnh viện, phòng khám đa khoa tại Mỹ, tỷ lệ rối loạn dạng cơ thể
từ 4 - 6%, có nơi lên đến 15%. Nam giới và nữ giới có tỷ lệ mắc các rối loạn
4
dạng cơ thể ngang nhau. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy nữ giới có lời
than phiền về cơ thể nhiều hơn nam giới. Mặc dù bệnh có thể khởi phát ở bất
kỳ lứa tuổi nào, nhưng phổ biến nhất ở lứa tuổi 20 - 30 [5].
Phân loại các rối loạn dạng cơ thể
Theo trường phái tâm thần học Liên Xô (quan niệm truyền thống)
Rối loạn dạng cơ thể được xếp vào các nhóm bệnh tâm căn/tâm sinh
với thuật ngữ là bệnh cơ thể tâm sinh hay bệnh tâm sinh.
- Đây là bệnh do căn nguyên tâm lý, nếu không có căn nguyên tâm lý
thì cá nhân sẽ không bị bệnh.
- Có các triệu chứng cơ thể rõ ràng, cố định theo một hệ thống.
- Ít nhiều có kèm theo tổn thương thực thể
- Yếu tố tâm lý có vai trò quan trọng trong phát sinh, tiến triển mức độ
trầm trọng và sự kéo dài của các triệu chứng
Bao gồm:
- Các rối loạn truyền thống (ICD-10, DSM-IV)
- Các rối loạn mới được xếp loại:
Rối loạn lo âu, trầm cảm…
Rối loạn nghiện chất..
Rối loạn chức năng tình dục
Rối loạn ăn uống, rối loạn giấc ngủ không thực tổn
Các rối loạn dạ dày ruột….
Sự thống nhất các quan niệm
Có vai trò quan trọng (trong khởi phát, tiến triển), đánh giá được vai trò
của các yếu tố stress, vai trò của nhân cách, yếu tố môi trường, các sự kiện cuộc
sống (lạm dụng thể chất, lạm dụng tình dục, các sang chấn thời thơ ấu…).
1.1.1. Khái niệm rối loạn cơ thể hóa
Rối loạn cơ thể hóa là một rối loạn bao gồm các lời than phiền về cơ thể
ở nhiều hệ thống cơ quan, diễn ra trong nhiều năm và kết quả là suy giảm đáng
kể chức năng và chất lượng cuộc sống hoặc phải đi điều trị nhiều lần hoặc cả
hai. Đây là rối loạn mạn tính và có liên quan đến các yếu tố căng thẳng tâm lý,
suy giảm chức năng hoạt động nghề nghiệp và xã hội, và có hành vi liên tục
tìm kiếm sự trợ giúp từ y tế [7].
Lịch sử của thuật ngữ “rối loạn cơ thể hóa” rất phức tạp trải qua nhiều
thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau.
6
Thời Ai Cập cổ đại: Hippocrates mô tả hội chứng Hysteria, được đặc
trưng bởi nhiều phàn nàn cơ thể lặp đi lặp lại, thường được bệnh nhân mô tả một
cách kịch tính mà không giải thích được bởi các rối loạn lâm sàng đã biết [8].
thúc giục bác sĩ thực hiện các lần khám có đơn thuốc hoặc điều trị, khả năng
làm việc giảm sút, tránh các hoạt động thể chất và kể về các triệu chứng cho
các thành viên trong gia đình và những người quan trọng khác biết [12].
Thuyết tập nhiễm cho rằng hành vi học được trong suốt quá trình trải
nghiệm. Khi các hành vi này xuất hiện hoặc nặng lên thì bệnh nhân đạt được
điều mình muốn và ngược lại. Vì thế, rối loạn cơ thể hóa được coi như một
phương thức kém thích nghi của bệnh nhân nhằm đạt được các nhu cầu xã hội.
Một đứa trẻ khi thấy bố mẹ hay anh chị mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh
nặng và mạn tính, có thể học được hành vi đau ốm, lớn lên phát triển thành
rối loạn cơ thể hóa. Những trải nghiệm bệnh tật trước đây cũng là một yếu tố
quan trọng trong bệnh sinh. Người ta cũng thấy rằng bố của những phụ nữ rối
loạn cơ thể hóa có khả năng mắc rối loạn nhân cách chống đối xã hội cao. Sự
ảnh hưởng này là do yếu tố di truyền, yếu tố tâm lý xã hội hay do cả hai vẫn
chưa được biết rõ.
Thuyết phân tâm cổ điển cho rằng các triệu chứng cơ thể là biểu hiện
của các xung đột bản năng dồn nén bên trong. Thuyết phân tâm coi những
xung đột với cha, mẹ hoặc những khó khăn trong việc kiểm soát và điều chỉnh
thái độ công kích (aggression) và tâm trạng bất toại (frustration) đóng vai trò
quan trọng trong nhiều trường hợp rối loạn cơ thể hóa [9].
Thuyết tâm lý động cho rằng rối loạn cơ thể hóa như một cơ chế phòng
vệ. Người bệnh có thể đổ lỗi cho những rối loạn cơ thể đã gây ra những thất
bại trong cuộc sống cho bệnh nhân, hoặc khi bệnh nhân lo lắng về những triệu
chứng cơ thể thì có thể tạm quên đi những căng thẳng tâm lý đang hiện hữu,
8
tránh đối mặt với những xung đột không thể chịu đựng được. Từ đó, người
bệnh có thể tránh được trầm cảm, tránh được việc đổ lỗi cho bản thân. Theo
cách tiếp cận này thì rối loạn cơ thể hóa là là một hoạt động thích nghi nhằm
tăng nhạy cảm với những dấu hiệu của stress, làm trầm trọng thêm các triệu
chứng cơ thể.
1.1.2.3.Yếu tố nhân cách (loại hình thần kinh)
Nhân cách đóng vai trò quan trọng, cùng một phản ứng stress mỗi cá
nhân phản ứng theo những cách khác nhau. Có người thích nghi được không
bị bệnh, có người xuất hiện lo âu, có người xuất hiện trầm cảm, có người xuất
hiện các triệu chứng cơ thể.
Theo học thuyết Paplop một số rối loạn tâm căn xuất hiện trên những
nhân cách đặc biệt: tâm căn Hysteria trên loại hình thần kinh nghệ sĩ yếu, tâm
căn suy nhược tâm thần (Psychasthenia) trên loại hình thần kinh lý trí yếu,
tâm căn suy nhược trên loại hình thần kinh trung gian yếu.
Yếu tố nhân cách có ảnh hưởng tới sự phát sinh rối loạn cơ thể hóa.
Những bệnh nhân mắc rối loạn này thường có rối loạn nhân cách, đặc biệt là
các loại rối loạn nhân cách nhóm B. Những nét nhân cách lệ thuộc - thụ động
(passive - dependent), kịch tính (histrionic) và cảm tính - xâm hại (sensitive
-aggressive) gặp ở bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa cao gấp hai lần ở bệnh nhân
lo âu và trầm cảm. Tỷ lệ mắc rối loạn cơ thể hóa ở bệnh nhân rối loạn nhân
cách ranh giới cũng thấy tương đối cao. Mối liên quan này có thể phản ánh
kiểu mẫu giống nhau trong các tương tác xã hội giữa bệnh nhân rối loạn cơ
thể hóa và bệnh nhân rối loạn nhân cách nhóm B [9].
Yếu tố nhân cách còn liên quan tới bệnh sinh rối loạn cơ thể hóa theo
cách thức khác như trong khái niệm “mù đọc cảm xúc” (Alexithymia), thuật
ngữ này dựa trên quan niệm phân tâm rằng bệnh nhân bị rối loạn cơ thể hoá vì
không thể diễn tả cảm xúc thành lời [9].
1.1.2.4. Yếu tố sinh học, thần kinh
10
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa rối loạn cơ thể hóa và
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả yếu tố di truyền và yếu tố môi
trường đều có ảnh hưởng đến nguy cơ mắc rối loạn nhân cách chống đối xã
hội, rối loạn liên quan sử dụng chất và rối loạn cơ thể hóa. Một người có cha
mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi mắc rối loạn nhân cách chống đối xã hội và rối loạn
liên quan sử dụng chất hay rối loạn cơ thể hóa thì khả năng mắc các rối loạn
này sẽ cao hơn. Theo Z.J. Lipowski (1986), rối loạn cơ thể hóa đã được tìm
thấy phổ biến hơn ở những phụ nữ được nhận làm con nuôi, đặc biệt ở những
người có cha mẹ đẻ mắc rối loạn chống đối xã hội hoặc nghiện rượu [23].
Các nghiên cứu cũng cho thấy các ảnh hưởng văn hóa xã hội cũng rất
quan trọng. Rối loạn cơ thể hóa có xu hướng phổ biến ở những người có trình
độ học vấn và vị thế kinh tế xã hội thấp hơn và đang sinh sống ở những nước
đang phát triển [23]. Mối tương quan cao cũng được tìm thấy giữa rối loạn cơ
thể hóa với giới tính nữ [24].
1.1.3. Dịch tễ
Tỷ lệ rối loạn cơ thể hóa theo DSM ước tính khoảng 2% nguy cơ trong
đời người đối với nữ giới, tỷ lệ ở người Mỹ da trắng và người Mỹ gốc Tây
Ban Nha là 11%, ở người Mỹ gốc Phi là 15% [25]. Theo Kaplan - Sadock, các
nghiên cứu ở Mỹ, Puerto Rico, Đức và Ý cho thấy tỷ lệ trong đời người rối
loạn cơ thể hóa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán từ 0,1% ở Mỹ đến 0,8%
ở Đức, trong khi tỷ lệ trong đời người ở bệnh nhân có rối loạn cơ thể hóa đáp
ứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán từ 5,6% ở Đức đến 19% ở Puerto Rico [26].
Trong một nghiên cứu quốc tế được thực hiện ở 15 trung tâm chăm sóc sức
khỏe ban đầu (n=5438) ở 14 quốc gia, tỷ lệ rối loạn cơ thể hóa theo tiêu chuẩn
ICD-10 là 2,8% [27]. Đa số các tác giả đều nhận định rằng rối loạn cơ thể hóa
chiếm tỷ lệ không cao trong quần thể dân số chung nhưng lại khá phổ biến ở
các cơ sở dịch vụ y tế.
Nghiên cứu của F. H. Creed (2012) trên nhóm quần thể vùng Tây Bắc
nước Anh cho thấy tỷ lệ rối loạn cơ thể hóa có ở 21% dân số [28]. Nghiên cứu
+ Không cắt nghĩa được bằng 1 bệnh cơ thể thực tổn
+ Kèm theo hoặc không kèm theo bệnh cơ thể
+ Có sự khác biệt ở trẻ em và người già
+ Có các triệu chứng nhận thức hành vi kèm theo.
13
1.1.4.1. Các triệu chứng lâm sàng đặc trưng
Các triệu chứng cơ thể thường gặp ở phụ nữ tuổi 30, xuất hiện ít nhiều
liên quan đến các stress, tái diễn thay đổi theo thời gian mà bệnh nhân than
phiền nhiều năm. Các triệu chứng này có thể liên quan đến mọi bộ phận, hệ
thống trong cơ thể.
- Đau:
+ Vị trí: trong quá trình phát triển bệnh, đau xuất hiện thay đổi ở nhiều
vị trí và hoạt động như đau đầu, ngực, lưng, bụng, khớp, đau khi có kinh, đau
khi giao hợp, đau khi đi tiểu...
+ Tính chất: đau thường khó mô tả rõ ràng và không nêu được chính
xác thời điểm khởi phát. Đau thường tản mạn, không khu trú và thay đổi theo
cảm xúc của bệnh nhân. Hơn nữa, đau ở đây thường ít hoặc không thay đổi
khi dùng thuốc giảm đau thông thường nhưng lại giảm hoặc mất đi khi dùng
rượu hoặc thuốc tác động tâm thần.
- Các triệu chứng dạ dày - ruột: Hầu hết các triệu chứng chức năng ở
hệ thống dạ dày - ruột đều có thể gặp ở bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa: ăn
không ngon, đầy bụng khó tiêu, ợ hơi, buồn nôn, nôn, táo bón, ỉa chảy...
- Các triệu chứng hệ sinh dục - tiết niệu:
+ Kinh nguyệt không đều, mất kinh, kinh kéo dài, lãnh đạm, bất lực,
xuất tinh sớm, cường dương...
+ Đái khó, đái dắt, đau vùng thắt lưng kéo dài...
- Các triệu chứng thần kinh:
15
- 1 triệu chứng về hoạt động tình dục, sinh sản: ít nhất 1 triệu chứng về
hoạt động tình dục, sinh sản không phải đau (lãnh đạm, cường dương, xuất
tinh, kinh nguyệt không đều hay kéo dài, nôn nhiều khi có thai...).
- 1 triệu chứng giả các triệu chứng thần kinh: có ít nhất 1 triệu chứng gợi
ý đến bệnh lý thần kinh không phải đau
Các triệu chứng “chuyển di”: rối loạn phối hợp động tác, thăng bằng,
khó nuốt, nuốt nghẹn, mất tiếng, bí tiểu, rối loạn cảm giác sờ hay đau, nhìn
đôi, mù, điếc, co giật...
Các triệu chứng phân ly: quên, lên đồng, ý thức thu hẹp.
C. Có một trong hai biểu hiện sau:
- Khi làm xét nghiệm, các triệu chứng trên không cắt nghĩa được thoả đáng
là do các bệnh nội khoa, thần kinh hoặc hậu quả trực tiếp của rượu, ma tuý...
- Nếu có bệnh nội khoa, thần kinh nào đó có liên quan thì các triệu
chứng trên là quá mức so với đánh giá về lâm sàng và xét nghiệm.
D. Các triệu chứng này không phải do bệnh nhân cố ý hay giả vờ.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD - 10.
Một chẩn đoán xác định đòi hỏi có tất cả các tiêu chuẩn sau:
A. Ít nhất 2 năm có các triệu chứng cơ thể nhiều và thay đổi mà không
tìm thấy một giải thích thoả đáng nào về mặt cơ thể.
B. Dai dẳng từ chối chấp nhận lời khuyên hoặc lời trấn an của nhiều bác
sỹ rằng không cắt nghĩa được các triệu chứng về mặt cơ thể.
C. Một số mức độ tật chứng của hoạt động xã hội và gia đình có thể quy
vào bản chất của các triệu chứng và hành vi đã gây ra.
1.1.5. Các trắc nghiệm tâm lý