1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý động mạch chủ (ĐMC) nói chung, đặc biệt bệnh phình động
mạch (ĐMC) là nguyên nhân gây tử vong phổ biến tại Hoa Kỳ. Mỗi năm có
khoảng 150.000 người người mắc và tử vong, trong đó đoạn động mạch chủ
bụng chiếm 60%, động mạch chủ ngực khoảng 30% [ 1 ]. Các bệnh lý này
thường gặp và rất nguy hiểm ở nhóm người cao tuổi, diễn biến tự nhiên là túi
phình to dần, âm thầm, không có triệu chứng, khi vỡ gây mất máu nghiêm
trọng và tử vong. Nhóm bệnh nhân này thường do không có triệu chứng nên
không được quản lý để điều trị dự phòng. Đối với các nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam, bệnh ĐMC đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng và
đang dẫn đến nhiều thay đổi trong mô hình bệnh tim mạch.
Mặc dù giải phẫu của ĐMC đã được nghiên cứu kỹ lưỡng bằng các kỹ
thuật truyền thống và đã được mô tả khá đầy đủ trong các sách giáo khoa giải
phẫu kinh điển, nhưng để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về hiểu biết giải
phẫu trong chẩn đoán, theo dõi, điều trị và can thiệp bệnh mạch chủ, chúng
vẫn tiếp tục được quan tâm nghiên cứu dựa trên những kỹ thuật hiện hình
ngày càng hiện đại hơn.
Động mạch chủ thường xẩy ra hẹp tắc, phình mạch, bóc tách thành
mạch, và nhiều biến đổi giải phẫu. Nắm vững về đường đi, kích thước từng
đoạn và các biến đổi giải phẫu của ĐMC là cơ sở quan trọng cho bác sĩ lâm
sàng phiên giải (đọc) các films chụp mạch, đo kích thước trên siêu âm, phẫu
thuật hay thực hiện các thủ thuật can thiệp mạch máu một cách đúng đắn và
chính xác nhằm nâng cao hiệu quả điều trị. Trong điều trị can thiệp mạch,
thầy thuốc cần biết rõ các thông tin chi tiết về từng đoạn hay nhánh mạch: vị
trí, kích thước, hướng đi và góc tách các nhánh mạch. Đây là những thông tin
không thể thiếu khi nong hay đặt stent điều trị hẹp, phình ĐMC.
2
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH CHỦ
Động mạch chủ là đoạn mạch có kích thước lớn nhất trong cơ thể, được
tính từ vị trí xuất phát trong thất trái đến ngang mức với đốt sống lưng thứ tư
thì chia thành các động mạch chậu. Trên đường đi động mạch chủ chia thành
các đoạn, động mạch chủ lên, quai động mạch, động mạch chủ ngực, động
mạch chủ bụng.
Hình 1.1. Đối chiếu ĐM chủ lên thành ngực (Gray’s Anatomy 40th edition)
4
1.1.1. Động mạch chủ trên - Asceding Aorta
1.1.1.1. Nguyên uỷ
ĐM chủ lên, đây là đoạn đầu tiên của ĐMC, xuất phát từ tâm thất trái,
ở mặt phẳng ngang qua bờ dưới đầu sụn sườn III trái. Sau khi tách ra ĐM
chạy hướng lên trên, ra trước và sang phải, hướng theo trục của tim, nằm phía
sau và hơi lệch sang nửa phải của xương ức. ĐM đi tới ngang mức mặt phẳng
trên sụn sườn II bên trái thì đổi tên thành quai ĐM chủ [1].
Hình 1.2. Đối chiếu ĐM chủ lên thành ngực Gray’s Anatomy 40th edition
Vị trí gốc xuất phát ĐM chủ giãn rộng, phình ra xung quanh, phần
phình ra này không tròn đều trên toàn bộ chu vi của ĐM mà có ba chỗ thắt lại
để tạo thành ba chỗ phình gọi là các xoang ĐM chủ (Xoang Valsalva), một
phình sang bên phải gọi là xoang chủ phải, một phình sang bên trái là xoang
chủ trái và một phình ra phía sau là xoang chủ sau. Đoạn ĐM ngay phía trên
26 ± 2.3mm. Khi tác giả phân tích trên máy chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc
(máy TOSHIBA X VISSION – GX), có bơm thuốc cản quang (Telebrix) tĩnh
mạch và cắt với chiều dầy 5mm đến 10mm. Với 63 nam và 68 nữ, số liệu
nghiên cứu của tác giả cho thấy, đường kính trung bình đoạn ĐMC lên ở nam
32 ± 5.57mm, ở nữ 31± 5mm.
1.1.2. Quai ĐM chủ - Aortic Arch
1.1.2.1. Nguyên uỷ và đường đi
Là một đoạn mạch máu chuyển tiếp giữa nhánh lên và nhánh xuống của
ĐMC, giới hạn từ đoạn ngang qua mặt phẳng phía trên khớp ức - sườn số II
bên phải, ĐM chạy theo một đường cong hướng lên trên, ra sau, sang trái, sau
đó ĐM lại hướng xuống dưới và ra sau khi tới ngang mức thân đốt sống ngực
số IV thì đổi tên thành ĐMC xuống. Vị trí cao nhất của đoạn cong ĐMC nằm
dưới bờ trên cán xương ức khoảng 25mm, đôi khi lên tới 40mm. Trên đường
đi động mạch có một điểm hẹp sinh lý tại điểm xuất phát của ĐM dưới đòn
trái và nơi gắn của ống ĐM vào quai ĐMC. Vị trí hẹp này được gọi là eo
ĐMC, đoạn eo kéo dài khoảng 1-2cm, bên phải của eo ĐMC giãn rộng có
hình thoi nên được gọi là thoi ĐMC. Đường kính thoi ĐMC thường lớn hơn
eo ĐMC khoảng 3mm.
D/C động
mạch
Hình mô phỏng hẹp eo ĐM
Hình 1.4. Eo động mạch chủ
7
> 60
Đoạn đầu ĐMC lên (level A) (cm)
3.47
3.63
3.91
3.36
3.72
3.50
Đoạn xa ĐMC (level B) (cm)
3.28
3.64
3.80
2.80
3.47
3.68
2.12
2.43
2.98
1.89
2.43
2.40
8
Hình 1.5. Mô phỏng vị trí các vị trí đo đường kính
1.1.2.3. Phân nhánh của quai động mạch chủ
Tại vị trí lồi nhất của quai ĐMC tách ra ba nhánh là thân cánh tay đầu,
ĐM cảnh chung trái, và ĐM dưới đòn trái, các nhánh này có nhiều biến đổi.
Theo Giải phẫu kinh điển có tới 65% số trường hợp có biến đổi về nguyên uỷ
của ba ĐM này, trong đó, 27% ĐM cảnh trái xuất phát từ thân ĐM cánh tay
đầu, 2,5% quai ĐMC cho ra bốn nhánh mà các nhánh này không liên quan tới
nhau, đặc biệt có 1.2% quai ĐMC tách ra hai thân ĐM cánh tay đầu đối xứng
nhau [1]. Theo Lê Văn Cường, quai ĐMC tách ra các nhánh được phân thành
2 dạng là:
+ Quai ĐMC tách ra ba nhánh là thân ĐM cánh tay đầu, ĐM cảnh
chung trái và ĐM dưới đòn trái chiếm 93,5%
Hình 1.6. Các nhánh quai ĐMC
Hình 1.10. Đường đi, phân nhánh của ĐMC
1.1.4. Đường kính
- Theo Nguyễn Quang Quyền, đường kính trung bình của ĐMC ngực
trên người Việt Nam là 15.8mm
- Theo Lê Văn Cường, đường kính trung bình của ĐMC ngực khi đo
trên 64 xác là 15.76mm
11
1.1.5. Phân nhánh
Các nhánh tách trực tiếp từ ĐMC ngực là các nhánh phế quản, đây là
những mạch máu nhỏ, cung cấp máu nuôi dưỡng cho hệ thống phế quản –
phổi, thực quản và hạch bạch huết; mặt khác động mạch này còn góp phần
cân bằng áp lực giữa hai mạch chủ - phổi. Sự phân bố của động mạch phế
quản rất thay đổi, có từ 1 đến 8 động mạch xuất phát từ đoạn xuống của động
mạch chủ ngực (ngang đốt sống ngực 5 và 6), số ít xuất phát cao hơn ngang
đốt sống ngực số 4 hoặc thấp hơn ngang đốt sống ngực 7. Sự phân nhánh gặp
nhiều nhất là 3 động mạch (28%). Trong đó, hai ĐM phế quản ở bên trái và
một ở bên phải, nhưng ĐM phế quản phải thường có một thân chung sau đó
tách ra thành hai ĐM phế quản, đoạn thân chung này còn gọi là ĐM phế quản
chung gian (40%). ĐMC chỉ tách ra hai ĐM phế quản, một nhánh trái và một
nhánh phải trong 21%, hai nhánh trái và hai nhánh phải là 20%.
Hình 1.11 Nguyên ủy của ĐM phế quản
Các động mạch phế quản thường có đường kính 2 -3 mm. Sau khi tách
từ động mạch chủ ngực, ĐM phế quản đi vào cuống phổi, trong cuống phổi,
ĐM phế quản đi giữa các thành phần như ĐM phổi, tĩnh mạch, bạch huyết,
thần kinh và mô liên kết, ĐM phế quản đi phía trước hoặc sau phế quản gốc,
sát phế quản gốc ở trước chỗ phân chia thứ nhất. Trong phổi ĐM phế quản tỏa
13
- Ưu điểm: đây là kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp, có khả năng đánh giá
tương đối đầy đủ về hình thái giải phẫu của ĐM, đồng thời còn đánh giá được
mối tương quan giữa ĐM với các mô xung quanh [33]. Phương pháp còn có
ưu thế vượt trội trong nhận định bản chất các mô bao quanh ĐM, như mô mỡ
hay các sợi cơ.
- Nhược điểm: trong nhận định các mạch nhỏ hay đoạn xa của ĐMC thì
kỹ thuật này bộc lộ những hạn chế. Đặc biệt trong mô tả các biến đổi giải
phẫu của các nhánh mạch. Đồng thời do kết quả được nhận định trên các tiêu
bản xác do đó còn mang nhiều tính hồi cứu, nên tính ứng dụng không cao.
Mặt khác các tiêu bản nghiên cứu thường không được phân loại, sàng lọc
bệnh lý, cũng như các thay đổi do sự tác động bởi hóa chất (làm co ngót) nên
đánh giá kết quả còn có hạn chế.
1.1.6.2. Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính
Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (CT-Computer Tomography) được giới
thiệu lần đầu năm 1972 bởi Godfrey N. Hounsfield và Dr Allan Macleod
Cormack. Hệ thống không ngừng được cải tiến và nâng cấp, nhằm giảm thời
gian chụp và tăng diện tích thăm dò trong mỗi lần chụp. Trong quá trình cải
tiến đã có nhiều thế hệ máy được giới thiệu, các hệ thống máy giai đoạn đầu
được cấu tạo gồm một bóng phát tia để phát tia “X” và một bộ thu tín hiệu
đơn (Detecter). Hệ thống phát tia và hệ thống thu nhận tín hiệu hoạt động
thông qua chuyển động tịnh tiến theo trục (Computed Axial Tomography CAT) với sự quay của bóng phát tia và bộ thu tín hiệu. Hệ thống cho chất
lượng hình ảnh còn hạn chế nên chưa có khả năng khảo sát các tổ chức luôn
chuyển động như tim, mạch máu.
Thế hệ máy chụp cắt lớp vi tính tiếp theo đã thay bóng phát tia thành hệ
thống phát ra là một chùm tia “X” (Narrow fan beam), thông qua ứng dụng
chùm phát tia điện tử (Electron - Beam Computed Tomorgaphy - EBCT) vào
Năm 2002 CT xoắn ốc 16 lớp được giới thiệu với tốc độ cho mỗi vòng
quay giảm xuống chỉ còn 400ms, độ dầy mỗi lớp cắt tăng lên 0,5 - 0,75mm.
Với độ phân giải thời gian được rút ngắn trong mỗi vòng quay nên số lượng
hình ảnh được cải thiện đáng kể, hình ảnh được ví như một cuộc cách mạng
về công nghệ, có thể làm hiện hình được các nhánh có kích thước nhỏ. Tuy
nhiên giá trị của thế hệ công nghệ này trong nhận định các nhánh có độ chính
xác không cao [75],[9].
Năm 2004, 64-MSCT lớp ra đời với tốc độ đạt 350ms/vòng, độ dầy lớp
cắt đạt 8,8mm/vòng quay, kết quả mỗi vòng quay hệ thống ghi được 64 hình,
cùng với phần mềm tái tạo hình ảnh có chất lượng cao. Đây thực sự là một
bước đột phá về công nghệ, đã cho hình ảnh chi tiết và rõ nét trên nhiều bình
diện không gian khác nhau, do đó đã cho phép quan sát tim, mạch máu một
cách toàn diện hơn. Từ khi công nghệ chụp cắt lớp vi tính 64 lớp ra đời đã
được nhiều tác giả tiếp cận nghiên cứu và mô tả hệ thống mạch máu nói
chung, cũng như ĐMC nói riêng [9],[76], [77]. Tuy nhiên khả năng làm hiện
hình các nhánh mạch vành phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phương pháp tái
tạo hình ảnh hay độ nét của hình ảnh.
Đối với hệ thống máy chụp cắt lớp 128 lớp, 256 lớp thì bộ phận thu nhận
tín hiệu đã được tăng lên đáng kể (2000 Detecter), cũng như bề rộng của các
bản thu tín hiệu này nên khả năng quan sát trên mỗi vòng quay đã được tăng
lên 8cm, trên 320 dãy là 16cm. Bởi vậy chỉ cần một vòng quay đã khảo sát
được toàn bộ chiều dài của mỗi đoạn ĐMC, đồng thời mỗi vòng quay chỉ thực
16
hiện trong khoảng thời gian 0,27 giây nên các yếu tố gây nhiễu của hệ thống
chụp cắt lớp vi tính 64 đã được khắc phục như nhịp tim, nhịp thở 78].
Tóm lại với sự tiến bộ không ngừng của hệ thống thu nhận tín hiệu trên
các hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy 4, 16, 32,64, 128, 256 hay 320,
khoảng trống hình ảnh. Với tốc độ di chuyển bàn nhanh cùng với phạm vi bao
phủ của dãy cảm biến lớn nên thời gian một vòng quay chỉ mất 0,25 giây, độ
bao phủ lên tới 16cm [84].
B
A
Hình 1.15. Sơ đồ cấu tạo hệ thống máy DSCT [ 85 ]
Mặt khác hệ thống chụp cắt lớp vi tính hai nguồn năng lượng còn được
thiết kế với hai nguồn năng lượng là hai điện áp khác nhau. Một nguồn với
điện áp 80kv, một nguồn với điện áp 140kv, với sự khác biệt này hình ảnh
mang lại có độ tương phản cao, có khả năng phân biệt giữa các cấu trúc có
mật độ phân tử khác nhau 86].
* Nguyên lý tạo ảnh
Phương pháp tái tạo ảnh đại số học
Quá trình tái tạo hình ảnh được thực hiện dựa trên các đối tượng tạo
ảnh mà đầu thu tín hiệu mang lại gồm nhiều điểm ảnh. Hình ảnh được tạo từ
số lượng hữu hạn điểm ảnh so với tổng số phần tử ảnh mà đầu thu nhận được.
Đây là phương pháp tạo ảnh khá chính xác, nhưng do hình ảnh chỉ được tái
tạo khi đã thu được toàn bộ điểm ảnh từ đầu thu tín hiệu, do đó mà công việc
tái tạo hình ảnh chỉ thực hiện khi quá trình quét đối tượng cần khảo sát đã
hoàn tất nên mất nhiều thời gian [ 87 ]
18
Phương pháp tái tạo ảnh biến đổi tích phân
Với việc chiếu các cơ sở dữ liệu là các điểm ảnh thu được từ đầu thu tín
hiệu vào một hàm số lọc vào ma trận ảnh. Hàm số lọc thực chất là một phần
mềm có khả năng loại bỏ các bóng mờ từ dữ liệu điểm ảnh riêng rẽ trước khi
đưa vào ma trận ảnh để xử lý. Với phương pháp này hình ảnh được sử lý tức
Xử lý
ảnh
n-3
Hình 1.16. Mô phỏng quy trình tạo ảnh trên chụp cắt lớp vi tính 87]
* Các loại ảnh thường được sử dụng [79 ],88].
Hình nhiều mặt phẳng (Multi-planar reformation - MPR)
Hình ảnh tạo ra là một khối thể tích ảo, do các lớp cắt xếp chồng lại với
nhau, các lớp cắt này có thể là lớp cắt ngang, cắt dọc hay các lớp cắt chếch,
19
vậy nên hình ảnh có thể được quan sát ở nhiều mặt phẳng khác nhau trong
không gian ba chiều. Đặc biệt hình ảnh có thể xoay theo đường đi của động
mạch (trục dọc), hay xoay vuông góc với ĐM. Điều này giúp kỹ thuật viên
dựng hình có thể nhận định được toàn bộ chiều dài của đoạn mạch hay
nguyên ủy, đường đi, kích thước cũng như các tổn thương xơ vữa, hẹp tắc.
Hình MIP (Maximum intensity projection) [88 ]
Hình ảnh MIP tương tự như hình ảnh MPR, được tái tạo lại nhờ sự kết
nối bởi nhiều hình ở nhiều mặt phẳng lại với nhau, hình ảnh được tái tạo dùng
hiển thị đậm độ cao nhất từ các thể tích khối của lớp cắt theo các hướng chiều
khác nhau. Với khả năng tạo dựng nhanh nên hình ảnh có thể được quan sát
trực tiếp ngay trên hệ thống máy. Nhưng hình thu được từ ảnh MIP có sự hiển
thị đồng thời cả các cấu trúc xung quanh như xương, tĩnh mạch do đó dẫn tới
những sai lầm khi nhận định các cấu trúc mạch, đặc biệt sẽ khó khăn hơn nếu
có thêm những cử động từ bệnh nhân hay do cử động của tim mang lại.
Hình ảnh bán trong suốt (Volume-rendering technique - VRT)
Kỹ thuật cho phép hiển thị tốt thể tích vật thể dưới dạng bán trong suốt,
các vật thể khác nhau vẫn quan sát được mà không bị che khuất mất nhau trên
x đi qua tổ chức có độ cản quang thấp, dẫn đến chùm tia x đâm xuyên qua tổ
chức nhiều nên đầu thu nhận tín hiệu thu được nhiều tia hơn và ngược lại. Để
có độ tương phản tốt nhất đối với từng tổ chức cần khảo sát thì phải thay đổi
năng lượng bức xạ chùm tia x, bằng việc điều chỉnh trị số điện áp cao thế
(kVp), dòng cao thế (mA) hay thời gian phát tia x (s) cho phù hợp với mỗi mô
khảo sát khác nhau.
Độ phân giải
Độ phân giải của hình ảnh được thể hiện bởi số lượng điểm ảnh trên
cùng một đơn vị diện tích, số lượng điểm ảnh càng cao thì hình ảnh thu được
càng rõ nét và khả năng phân biệt các chi tiết trên ảnh càng cao và ngược lại.
Độ phân giải của hình ảnh phụ thuộc vào nhiều thông số khác nhau như hệ
21
thống máy chụp (kỹ thuật thu nhận ảnh), kỹ thuật hiện ảnh (phim, màn huỳnh
quang…).
Độ sắc nét
Độ sắc nét là khả năng phân biệt rõ các tổ chức liền kề với nhau trên
hình ảnh, độ sắc nét được thể hiện bởi đường biên của các cấu trúc. Một ảnh
được coi là sắc nét khi phân biệt rõ đường biên của cấu trúc này với cấu trúc
khác trên cùng vị trí khảo sát, độ nét của hình ảnh phụ thuộc vào đặc điểm
chùm tia x, chất lượng màn hình, sự chuyển động của đối tượng khảo sát….
* Các nhiễu ảnh thường gặp (11).
Nhiễu ảnh là hiện tượng các ảnh xuất hiện trên hình chụp nhưng lại
không có thật trên cấu trúc mô khảo sát.
Nhiễu ảnh do chuyển động (motion artefacts)
Do trong quá trình khảo sát bệnh nhân có cử động dẫn đến xuất hiện các
hình nhòe, gẫy gập, hay tạo nên các đường bất thường.
Nhiễu ảnh do vôi hóa thành ĐMC
ngực lớn hơn nữ, tất cả các đường kính đều tăng theo tuổi và không phụ thuộc
vào cân nặng, chiều cao, hoặc diện tích bề mặt cơ thể.
Theo J.-M.Garcier và cộng sự (2003) [14] nghiên cứu về đường kính
bình thường của động mạch chủ ngực ở người trưởng thành trên hình ảnh
cộng hưởng từ của 66 bệnh nhân đã thấy rằng đường kính của cung động
mạch chủ qua các lát cắt dọc như sau: lát cắt qua vị trí nguyên ủy của thân
động mạch cánh tay đầu là 29,731±4,736 mm, lát cắt qua vị trí nguyên ủy của
động mạch cảnh chung trái là 28,304±4,478 mm. Với các lát cắt ngang thì ở
vị trí lát cắt ngang qua phần gần của cung động chủ có đường kính là
29,309±5,547mm, lát cắt ngang qua phần xa cung động mạch chủ đo được là
24,967±4,596 mm. Đường kính của động mạch chủ ngực qua lát cắt dọc là
23
23,314±4,527 mm và qua lát cắt ngang qua vị trí động mạch phổi phải là
24,348±4,454 mm.
Michael B. Gotway và cộng sự năm 2003 [15] nghiên cứu về “hình ảnh
động mạch chủ ngực trên MSCT” cho thấy cung động mạch chủ bắt đầu từ
gốc của thân động mạch cánh tay đầu và kết thúc ở chỗ bám của dây chằng
động mạch. Cung động mạch chủ có thể được chia làm hai phân đoạn: phần
gần và phần xa của cung. Phần gần của cung kéo dài từ gốc của thân động
mạch cánh tay đầu cho tới gốc của động mạch dưới đòn trái, và còn cho ra
nhánh của động mạch cảnh chung trái. Phần xa của cung kéo dài từ gốc của
động mạch dưới đòn trái đến dây chằng động mạch và còn được gọi là eo
động mạch chủ. Phần này đôi khi hẹp hơn phần gần của động mạch chủ ngực
đặc biệt là ở trẻ sơ sinh.
Cũng theo nghiên cứu này, động mạch chủ ngực bắt đầu tính từ sau dây
chằng động mạch và kéo dài đến tận lỗ động mạch chủ ở cơ hoành. Đường
kính trung bình của động mạch chủ ngực đo ở phần giữa có giá trị khoảng
biến chứng khi đặt stent động mạch cảnh cho thấy, trong số nhóm bệnh nhân
liên tiếp trải qua phẫu thuật đặt stent động mạch cảnh, có 88,3 % bệnh nhân
có giải phẫu cung ĐMC bình thường và 11,7 % bệnh nhân có các bất thường
về giải phẫu. Các biến đổi giải phẫu bao gồm thân chung của thân động mạch
cánh tay đầu và động mạch cảnh chung trái trong 10, 2% trường hợp; 0,9%
trường hợp có sự phát sinh riêng rẽ của động mạch dưới đòn phải và động
mạch cảnh chung phải; Các trường hợp thất bại là 12% và có biến chứng thần
kinh là 6,5%. Thất bại về mặt kỹ thuật ở nhóm có biến đổi giải phẫu cao hơn
nhóm bình thường, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. ( 86,9 %
và 76, 4%, P= 0,1). Tỷ lệ gặp biến chứng thần kinh ở nhóm có cấu trúc giải
phẫu bất thường cao hơn ( 20% và 5,3%, P= 0,039). Như vậy có thể thấy các
biến đổi giải phẫu của cung ĐMC có mối liên quan với sự tăng nguy cơ các
biến chứng thần kinh có thể gặp trong phẫu thuật đặt stent động mạch, và
những chỉ định cho việc đặt stent động mạch cần được cân nhắc trong những
trường hợp này.
Các nghiên cứu trong nước
25
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về giải phẫu cung động mạch chủ và
động mạch chủ ngực đã có nhưng còn rất ít, như nghiên cứu của tác giả Lê
Văn Cường (1991) đo kích thước của cung động mạch chủ và ĐMC ngực trên
xác ướp formol, nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Vũ (2002) đo đường kính
ngang của động mạch chủ ngực bằng các phương pháp siêu âm tim qua thành
ngực (TE), siêu âm tim qua thực quản (TEE) và chụp cắt lớp xoắn ốc (HCT)
…Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào mô tả đặc điểm giải phẫu và
các biến đổi giải phẫu của cung động mạch chủ và động mạch chủ ngực trên
hình ảnh cắt lớp vi tính 64 dãy.
Khi nghiên cứu về các dạng và dị dạng của động mạch ở người Việt