1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những mục tiêu chính do Hội đồng Liên hợp quốc đề ra tại
Hội nghị cấp cao về phòng, chống HIV/AIDS tháng 6/2011 mà Việt Nam đã
cam kết thực hiện và xác định là một trong những mục tiêu chủ yếu của Chiến
lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 là
“Hướng tới loại trừ trẻ nhiễm HIV từ mẹ vào năm 2015”. Phần lớn trẻ em
dưới 5 tuổi sống chung với HIV là do nhiễm qua đường lây truyền HIV từ mẹ
sang con trong thời gian mang thai, chuyển dạ đẻ hoặc sau sinh. Nếu người
mẹ nhiễm HIV không được phát hiện và phòng lây truyền HIV từ mẹ sang
con (PLTMC) và cho con bú, tỷ lệ lây truyền có thể tới 20 - 45%. Tuy nhiên,
nếu người phụ nữ được áp dụng những can thiệp thích hợp thì nguy cơ lây
truyền mẹ con (LTMC) có thể được giảm đến dưới 2% - tức là loại trừ được
lây truyền HIV từ mẹ sang con [1], [2].
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng để tìm ra các
phác đồ PLTMC theo hướng nâng cao hiệu quả. Các phác đồ PLTMC được
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: World Health Organisation) khuyến cáo cũng
được thay đổi nhiều lần theo hướng ngày càng hiệu quả hơn.
Tại Việt Nam, chương trình PLTMC được bắt đầu từ năm 1999 và cho
đến nay các phác đồ PLTMC đã liên tục được cập nhật theo khuyến cáo của
WHO, đặc biệt trong những năm gần đây. Từ đó đến nay, Bộ Y tế đã có nhiều lần
sửa đổi phác đồ PLTMC với các quyết định như Quyết định số 06/2005/QĐ-BYT,
4361/2007/QĐ-BYT,
3821/2008/QĐ-BYT,
3003/2009/QĐ-
BYT,
III), ARV (AIDS Related Virus) chỉ là một [12]. Hội đồng quốc tế về phân loại
Virus đã thống nhất đặt tên loại Virus này là “Human Immunodeficiency
virus”- HIV và từ đó tên loại Virus này được sử dụng trên toàn cầu [11], [13].
HIV là một virut có tính thay đổi cao, đột biến dễ dàng. Có 2 typ HIV:
HIV-1 và HIV-2. Cả hai typ đều lây qua quan hệ tình dục, qua đường máu và
từ mẹ sang con. Cả hai typ này đều gây bệnh cảnh lâm sàng AIDS khá giống
nhau. Tuy nhiên HIV-2 không dễ lây như HIV-1 và thời gian kể từ lúc mới bắt
đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh dài hơn trường hợp HIV-2. Trên toàn
thế giới HIV-1 là nhóm gây đại dịch AIDS, HIV-2 ít gặp, chủ yếu khu trú tại
Tây Phi, ít khi thấy ở nơi khác [9].
HIV thuộc họ Retrovirus, hạt virut hoàn chỉnh có hình cầu đường kính
80-120 nanomet. Cấu tạo của HIV có nhân là một sợi ARN, chúng có khả
năng tổng hợp thành ADN từ những mã di truyền của ARN nhờ vào một men
đặc biệt gọi là men sao chép ngược. Sự sao mã ngược này thường không hoàn
chỉnh, hay có sai sót so với nguyên bản ban đầu, vì vậy sẽ tạo ra sự thay đổi
kháng nguyên của virut, tạo nên nhiều biến chủng khác nhau giúp virut thoát
khỏi sự tiêu diệt của hệ miễn dịch cơ thể. HIV đánh vào các tế bào miễn dịch,
đặc biệt là lympho T có kháng nguyên bề mặt CD4 [9], [10].
- Tế bào CD4 [14]:
Lympho T có kháng nguyên bề mặt CD4 (gọi tắt là CD4) là một tế bào
của hệ miễn dịch cơ thể.
5
Hình 1.2. Vai trò của CD4 trong miễn dịch
+ Số lượng CD4 là một chỉ số quan trọng đánh giá mức độ miễn dịch của
cơ thể.
+ Số lượng CD4 bình thường ở người lớn từ 1000-1200TB/ml, khi CD4
< 500 là bắt đầu có suy giảm miễn dịch.
- Viêm khoé miệng
- Loét miệng tái diễn
- Phát ban dát, sẩn ngứa
- Viêm da bã nhờn
- Nhiễm nấm móng
•
Giai đoạn lâm sàng 3: triệu chứng tiến triển
- Sút cân nặng không rõ nguyên nhân (> 10% trọng lượng cơ thể)
- Tiêu chảy không rõ nguyên nhân kéo dài > 1 tháng
- Sốt không rõ nguyên nhân từng đợt hoặc liên tục kéo dài > 1 tháng
- Nhiễm nấm Candida miệng tái đi tái lại
- Bạch sản dạng lông ở miệng
- Lao phổi
- Nhiễm trùng nặng do vi khuẩn (viêm phổi, viêm mủ màng phổi,
viêm đa cơ mủ, nhiễm khuẩn xương khớp, viêm màng não, nhiễm
khuẩn huyết)
7
- Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng
- Thiếu máu (Hb< 80g/l), giảm bạch cầu trung tính (< 0,5 G/l),
và/hoặc giảm tiểu cầu mạn tính (< 50 G/l) không rõ nguyên nhân.
•
Giai đoạn lâm sàng 4: triệu chứng nặng
- Hội chứng suy mòn do HIV (sút cân > 10% trọng lượng cơ thể
kèm theo sốt kéo dài > 1 tháng hoặc tiêu chảy kéo dài > 1 tháng
Là phương pháp phát hiện kháng thể kháng HIV để xác định tình trạng
nhiễm HIV. Kháng thể kháng HIV có thể được phát hiện trong máu bệnh nhân
từ 1 -3 tháng sau khi nhiễm virút.
Tùy thuộc vào mục đích xét nghiệm các nhóm đối tượng, điều kiện kinh
tế của từng quốc gia, các xét nghiệm nhiễm HIV được tiến hành theo những
phương cách khác nhau:
Phương cách I (thường sử dụng trong an toàn truyền máu): Mẫu máu
được coi là dương tính với phương cách 1 khi cho phản ứng dương tính với
một trong các thử nghiệm như ELISA hay các thử nghiệm nhanh khác.
Phương cách II (thường sử dụng trong giám sát dịch tễ): mẫu máu được
coi là dương tính với phương cách II khi có kết quả dương tính với cả hai lần
nghiệm bằng hai loại sinh phẩm với nguyên lý hoặc cách chuẩn bị kháng
nguyên khác nhau.
Phương cách III (thường sử dụng trong chẩn đoán nhiễm virut HIV ở
người lớn và trẻ em trên 18 tháng tuổi): mẫu máu đựơc coi là dương tính khi
có kết quả dương tính với cả ba lần xét nghiệm bằng ba lọai sinh phẩm với
nguyên lý hoặc cách chuẩn bị kháng nguyên khác nhau.
b. Phương pháp trực tiếp:
Phương pháp phát hiện trực tiếp tác nhân gây bệnh (hay còn gọi chung là
xét nghiệm virút học): kháng nguyên virút, các axit nucleic, hoặc phân lập virút.
Phương pháp xét nghiệm trực tiếp được dùng để phát hiện nhiễm HIV ở
trẻ dưới 18 tháng tuổi, thường dùng là xét nghiệm PCR (Polymerase Chain
Reaction: phản ứng tổng hợp chuỗi).
Xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV cho trẻ dưới 18 tháng tuổi được thực
9
hiện theo Quyết định 1053/QĐ- BYT ra ngày 2/4/2010 [15].
Phương pháp nuôi cấy phân lập virus rất đặc hiệu nhưng giá thành cao và
nhầy âm đạo hoặc hậu môn
1.1.3.3. Đường lây truyền từ mẹ sang con
Nếu không được phát hiện và không được PLTMC, người mẹ nhiễm HIV
có thể lây truyền HIV cho con qua 3 giai đoạn sau:
-
Khi mang thai (5- 10% số trẻ của bà mẹ bị nhiễm HIV): HIV từ máu của mẹ
nhiễm HIV, qua rau thai để vào cơ thể thai nhi. Hình thức này còn được gọi là
“lây truyền dọc”. Bình thường, mặt bánh rau có cấu tạo đặc biệt, bao gồm
nhiều vách ngăn, các vách ngăn này có chức năng như các “rào cản” bảo vệ,
chỉ cho phép trao đổi chất, ví dụ như chất dinh dưỡng, vitamine, khoáng chất,
kháng thể của người mẹ … đi qua để nuôi dưỡng bào thai. Vì vậy thông
thường, nhờ có bánh rau nên trong nhiều trường hợp mẹ có nhiễm vi rút thì vi
rút bị rau thai ngăn chặn và không truyền qua thai được. Điều này giải thích vì
sao chỉ có đến khoảng 10% thai nhiễm HIV trong giai đoạn này.
-
Khi sinh (15% số trẻ của bà mẹ bị nhiễm HIV): HIV từ nước ối, dịch tử cung,
dịch âm đạo hoặc máu của mẹ (từ các tổn thương cơ quan sinh dục) xâm nhập
vào trẻ khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây xát của trẻ
trong quá trình đẻ).
-
Khi cho con bú (5- 15% số trẻ của bà mẹ bị nhiễm): HIV có thể lây qua sữa
hoặc qua các vết nứt ở núm vú người mẹ.
HIV trong máu mẹ có thể thẩm thấu vào các nang sữa và tồn tại trong
sữa mẹ nên khi bú HIV có thể xâm nhập qua niêm mạc miệng, lưỡi, lợi và
đường tiêu hóa của trẻ và lây nhiễm cho trẻ, nhất là trong trường hợp trẻ
- Giai đoạn lâm sàng HIV/AIDS của người mẹ càng muộn thì tỷ lệ lây
truyền mẹ con càng cao.
- Phụ nữ mang thai nhiễm HIV cấp tính có tỷ lệ lây truyền HIV cho con
rất cao vì giai đoạn này tải lượng virut HIV huyết thanh tăng cao.
1.2.2. Các yếu tố sản khoa
- Thai phụ nhiễm HIV đồng nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình
dục có loét làm tăng lượng HIV trong các dịch ở đường sinh sản, làm tăng
nguy cơ lây truyền mẹ con.
13
- Thai phụ nhiễm HIV có thói quen tình dục không an toàn với nhiều bạn
tình, sử dụng ma tuý… tăng tỷ lệ lây truyền mẹ con.
- Thời gian vỡ ối: Nguy cơ lây truyền mẹ con tăng tỷ lệ thuận với thời
gian từ khi vỡ ối đến khi sinh, nguy cơ tăng 2% cho mỗi giờ vỡ ối.
- Tuổi thai: trẻ sơ sinh non tháng có nguy cơ lây nhiễm cao hơn trẻ đủ tháng.
- Viêm màng ối: tăng nguy cơ lây truyền mẹ con
- Can thiệp sản khoa: cắt tầng sinh môn, forceps, ventoux làm tăng nguy
cơ lây nhiễm cho con.
- Riêng 2 yếu tố: mổ lấy thai và sử dụng ARV có thể làm giảm đáng kể
tỷ lệ lây truyền mẹ con.
1.2.3. Nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con bằng sữa mẹ làm tăng tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Nguy cơ lây truyền HIV qua bú sữa mẹ sẽ tăng lên nếu:
•
Mẹ nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS (nồng độ HIV trong máu mẹ
cao) hoặc mẹ mới nhiễm HIV sau khi sinh con hay vào thời kỳ cho con bú mẹ
mới bị nhiễm HIV (vì trong thời kỳ mới nhiễm HIV, nồng độ HIV trong máu
của mình [17].
Cộng đồng quốc tế cũng đã tiếp thêm sức lực cho cuộc đấu tranh chống
đại dịch HIV qua một cam kết tiếp cận phổ cập với các dịch vụ dự phòng,
chăm sóc và điều trị HIV/AIDS. Các nước thành viên của WHO trong Hội
nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc gần đây đã tái khẳng định hoàn toàn cam kết
của mình để thực hiện tất cả các mục tiêu trong Tuyên bố Cam kết UNGASS
năm 2010- 2011, trong đó có việc giảm tỷ lệ trẻ nhiễm HIV xuống dưới 5%
vào năm 2015 và hướng đến một thế giới không còn HIV/AIDS.
Ở Việt Nam, theo các báo cáo, các chương trình điều trị, PLTMC hiện tại
đang được thực hiện với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế nhưPEPFAR,
GFATM, FHI, UNICEF,… Năm 2006, 107 trong tổng số 506 cơ sở cung cấp
dịch vụ chăm sóc trước sinh, cung cấp gói dịch vụ cơ bản về PLTMC
(UNGASS 2007). Số lượng các cơ sở cung cấp các dịch vụ này tăng lên 223
trong năm 2009 (UNGASS 2010) và chú trọng cung cấp các dịch vụ PLTMC
toàn diện hơn. Đến 2009, cả nước có 96 địa điểm cung cấp các dịch vụ toàn
diện PLTMC, 127 địa điểm cung cấp dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện
(VCT) và dịch vụ chuyển tuyến (UNGASS 2010).
15
1.3.1. Các thành tố trong phòng lây truyền mẹ con
Theo WHO, một chiến lược dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
một cách toàn diện cần phải bao gồm 4 thành tố [5],[18]:
1. Dự phòng nhiễm HIV tiên phát ở phụ nữ không nhiễm HIV;
2. Dự phòng có thai ngoài ý muốn ở phụ nữ đã nhiễm HIV;
3. Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con nếu phụ nữ nhiễm HIV
muốn sinh con;
4. Chăm sóc, điều trị và hỗ trợ tiếp tục đối với các bà mẹ nhiễm HIV,
những đứa con và gia đình của họ.
lây truyền mẹ con sẽ giảm được tỷ lệ nhiễm HIV ở trẻ.
Xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai là tự nguyện và được khuyến cáo
lồng ghép với các xét nghiệm sàng lọc khác như viêm gan B, giang mai[5].
Đánh giá giai đoạn lâm sàng và làm XN CD4 là cần thiết để đưa ra
phác đồ điều trị cũng như dự phòng HIV/AIDS[5].
1.3.2.2. Sử dụng thuốc kháng vi rút
* Mục đích sử dụng ARV[17]:
- Giảm số lượng virus HIV nhân lên trong cơ thể người bệnh:
•
Giảm sự tấn công của vi rút vào hệ miễn dịch,
•
Giảm tải lượng virút.
- Tạo cơ hội cho hệ thống miễn dịch của người bệnh phục hồi:
•
Giúp làm tăng số lượng tế bào CD4
- Cải thiện chất lượng sống của người bệnh.
Các thuốc ARV làm giảm sự nhân lên của vi rút, đồng thời có tác dụng
trong phòng lây truyền từ mẹ sang con.
Các thuốc ARV hiện đang dùng ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm
chủ yếu [17]:
a, Nucleoside/Nucleotid RTI (NRTI)
Nhóm thuốc này ức chế tổng hợp ADN của HIV bởi enzyme sao
chép ngược.
Hb < 70 g/l
- Điều trị kéo dài NPV có thể gây độc tính ở gan.
- TDF gây độc tính cho thận.
Do đó, trong nghiên cứu này, về các xét nghiệm của sản phụ, tôi chỉ mô
tả một số chỉ số như số lượng Hb, SGOT, SGPT, Creatinin.
Tuy nhiên, nếu dùng ARV đúng chỉ định và phác đồ thì tính an toàn của
thuốc rất cao và nếu thai phụ dùng thuốc càng sớm thì hiệu quả PLTMC càng
cao [21], [22].
Tiêu chuẩn điều trị ARV từ 2005- 2014 đã có 3 lần thay đổi, hiện nay tại
các cơ sở y tế áp dụng theo quyết định 4139/2011/QĐ-BYT:
+ Số lượng tế bào CD4 ≤ 350, không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng;hoặc
18
+ Giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4, không phụ thuộc số lượng tế bào CD4.
1.3.2.3. Xử trísản khoa cho sản phụ nhiễm HIV[8], [23], [24], [25]
* Mục đích chính của xử trí sản khoa là giảm đến mức tối thiểu sự phơi
nhiễm của thai nhi với HIV từ các dịch cơ thể của người mẹ, giảm thiểu các
yếu tố nguy cơ lây truyền mẹ con. Vì vậy trong thực hành sản khoa nên tránh
một số can thiệp tổn thương cho mẹ hoặc con như:
- Tránh bấm ối sớm: ối vỡ sớm là yếu tố thuận lợi lây nhiễm HIV cho con,
vì vậy chỉ bấm ối khi cổ tử cung mở hết.
- Cắt tầng sinh môn: chỉ cắt tầng sinh môn khi đầu lọt thấp sẽ giảm bớt sự
chảy máu mẹ và giảm tải lượng HIV ở dịch âm đạo.
- Tránh forceps và ventoux: nếu buộc phải can thiệp, chỉ nên thực hiệnkhi
đủ điều kiện và đúng kỹ thuật để tránh tổn thương mẹ và con.
* Xử trí sản khoa có thể là:
- Theo dõi cho đẻ đường dưới: tuân thủ sinh lý cuộc chuyển dạ. Giữ
đầu ối đến cùng. Chỉ cắt tầng sinh môn khi cần và đầu lọt thấp.
PLTMC. Nhìn chung, xu hướng chuyển từ phác đồ 1 thuốc sang phác đồ 3
thuốc, áp dụng với thời gian dài ngày hơn và từ tuổi thai ngày càng sớm hơn.
- Năm 1994, nhóm các thử nghiệm lâm sàng AIDS Nhi khoa (PACTG)
076 đã chứng minh rằng cho sớm dự phòng AZT kéo dài trong thời kỳ mang
thai (TKMT) và dùng đường tĩnh mạch trong khi đẻ đối với người mẹ và
dùng trong 6 tuần đối với con làm giảm nguy cơ lây truyền dọc từ 25% xuống
8%[29]. Phác đồ AZT PACTG 076 đã nhanh chóng được triển khai trong thực
hành ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng nó đắt và quá phức tạp. Vì vậy các phác
đồ ARV ngắn hơn và đơn giản hơn đã được đánh giá trong các thử nghiệm ở
các nước thu nhập thấp và trung bình.
20
- Vào cuối những năm 1990, một nghiên cứu trên những phụ nữ không
NCBSM ở Thái Lan [30] thấy rằng các phác đồ AZT bắt đầu lúc cuối TKMT
và cho trong khi chuyển dạ cùng với hoặc không dự phòng cho con hoặc một
tuần dự phòng cho mẹ thì có hiệu quả trong việc giảm LTMC.
Một vài thử nghiệm lâm sàng khác và những nghiên cứu quan sát trên
các quần thể không NCBSM cũng như NCBSM đã khẳng định hiệu quả của
nhiều phác đồ ARV khác nhau trong đó có phác đồ AZT đơn thuần [1], [31],
hai thuốc AZT + 3TC [32],[33], [34]; Sd-NVP [32] và rất gần đây là kết hợp
AZT + Sd-NVP[2], [35], [36] hoặc AZT và 3TC + Sd-NVP [36].
- Từ khoảng năm 1998, các kết hợp ba thuốc ARV ngày càng được dùng
trong phòng ngừa LTMC; hiện nay đa số phụ nữ mang thai sống chung với HIV
ở châu Âu và Bắc Mỹ được dùng những phác đồ như vậy [37], [38]. Gần đây
hơn, các phác đồ dự phòng ba thuốc ARV để phòng LTMC đã được khuyến cáo
và sử dụng rộng rãi ở Brazil và các nước Nam Mỹ khác, với mức độ hiệu quả
ngang với những gì quan sát được ở các nước thu nhập cao [39], [40].
Nguy cơ LTMC trong thử nghiệm ở một quần thể không NCBSM ở
thì tỷ lệ lây nhiễm cho con ít hơn 1%. Đó là tỷ lệ thật lý tưởng mà mỗi người
làm công tác điều trị cho những sản phụ nhiễm HIV/AIDS mong đợi.
Mổ lấy thai không dùng thuốc dự phòng tỷ lệ LTMC là 15,3%, khi kết
hợp với điều trị thuốc dự phòng và mổ lấy thai tỷ lệ LTMC là 4,2% [44], [45].
1.4.2. Ở Việt Nam
1.4.2.1. Các phác đồ PLTMC
Tháng 3 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức ký phê duyệt
Chiến lược Quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và
tầm nhìn 2020. Dựa trên Chiến lược quốc gia, Bộ Y tế đã xây dựng một
Chương trình Hành động quốc gia về PLTMC giai đoạn 2006-2010. Mục tiêu
chung của Chương trình Hành động này là kiểm soát làm giảm tỷ lệ lây
22
truyền HIV từ mẹ sang con xuống còn dưới 10% cho đến năm 2010. Chương
trình Hành động cũng đưa ra mục tiêu cụ thể là cung cấp các dịch vụ tư vấn
cho 90%, xét nghiệm HIV tự nguyện cho 60% phụ nữ mang thai cũng như
điều trị PLTMC cho 100% các trường hợp xét nghiệm HIV dương tính.
Các phác đồ này đã được cập nhật, sửa đổi theo từng thời kỳ, một phần
lớn dựa trên khuyến cáo của các tổ chức quốc tế lớn như WHO.
Năm 2005, phác đồ PLTMC đầu tiên được Bộ Y tế ban hành thành văn
bản pháp quy theo quyết định 06/2005/QĐ - BYT “Hướng dẫn Chẩn đoán và
Điều trị nhiễm HIV/AIDS”[3] với ba phác đồ khác nhau là:
(1) AZT từ tuần thai 28 + SD-NVP khi chuyển dạ;
(2) SD-NVP khi chuyển dạ;
(3) Phác đồ ba thuốc AZT/d4T + 3TC + NFV/SQV/r từ tuần thai 36.
Trong các phác đồ này, phác đồ ba thuốc được ngừng sử dụng từ cuối
năm 2007 (quyết định 4361/2007/QĐ- BYT) sau khi có khuyến cáo thu hồi
NFV toàn cầu của WHO và nhà sản xuất [4].
Theo quyết định 3047/2015/QĐ-BYT, để hướng đến chẩn đoán sớm để
điều trị sớm, việc tư vấn- xét nghiệm HIV sớm cần được chú trọng và xu
hướng các phác đồ hiện nay được áp dụng điều trị sớm hơn; phụ nữ có thai
nhiễm HIV có thể điều trị và bắt đầu sử dụng phác đồ phòng lây truyền mẹ
con ở bất cứ tuổi thai nào.
1.4.2.2. Tình hình dịch vụ PLTMC tại Việt Nam
Qua một số đánh giá về PLTMC gần đây cho thấy tỷ lệ phụ nữ mang thai
nhiễm HIV tại các bệnh viện phụ sản lớn đã tăng nhanh: từ 0,21% đến 0,55%
tại BVPSTW, từ 0,22% đến 0,84% tại Bệnh viện Hùng vương trong 8 năm
qua (2000-2008) [46], tuy nhiên tỷ lệ này đang có xu hướng chững lại trong
thời gian gần đây. Lý do là dịch HIV/AIDS vẫn đang âm ỉ phát triển và tập
trung vào những nhóm nguy cơ thấp mà PNMT sẽ là nhóm bị ảnh hưởng
chính, ngoài ra việc mở rộng chương trình sàng lọc HIV miễn phí cho các thai
phụ và nhận thức của người dân về HIV/AIDS ngày càng được nâng cao do
đó ngày càng phát hiện được nhiều thai phụ nhiễm HIV [47],[48].
Khi đánh giá chương trình phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại
Bệnh viện Hùng Vương năm 2005-2008, tác giả Vũ Thị Nhung cho biết tỷ lệ sản
phụ nhiễm HIV sinh con là 0,81%. Trong những sản phụ nhiễm HIV: 91,5% sản
phụ được sử dụng thuốc PLTMC, tỷ lệ trẻ nhiễm HIV từ mẹ là 5,15%[49].
Một đánh giá của dự án LIFE-GAP khi tổng kết các trường hợp sản phụ
nhiễm HIV sinh con từ 2004- 2009 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Hải
Phòng, Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh và An Giang cho thấy tỷ lệ phát hiện
nhiễm HIV trong chuyển dạ chiếm 57%, 84% sản phụ nhiễm HIV được sử
dụng thuốc PLTMC, 98% số trẻ phơi nhiễm được sử dụng thuốc ARV, 75,2%
trẻ được làm xét nghiệm PCR hoặc kháng thể[16].
24
1.4.2.3. Một số nghiên cứu liên quan PLTMC tại BVPSTW
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những sản phụ nhiễm HIV đẻ tại BVPSTW
trong thời gian từ 1/1/2010 đến 31/12/2014.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Các sản phụ nhiễm HIV- được khẳng định bằng phương cách III của Bộ
Y tế - thỏa mãn tất cả các điều kiện sau:
•
Đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 1/1/2010 đến 31/12/2014.
(Theo tiêu chuẩn này, tất cả các sản phụ nhiễm HIV dù có nơi cư trú
tại Hà Nội hay không; quản lý thai tại BVPSTW hay không; chuyển
dạ hay chưa chuyển dạ nhưng sinh con tại BVPSTW trong khoảng
thời gian trên tôi đều lấy vào nghiên cứu).
•
Tuổi thai ≥ 22 tuần (Tính theo kinh cuối cùng hoặc siêu âm 3 tháng
đầu).
•
Trẻ đẻ ra sống.
(Tiêu chuẩn trẻ đẻ ra sống phục vụ cho mục tiêu nhận xét về việc
trẻ sơ sinh đẻ ra tại viện có được tiếp cận với các dịch vụ PLTMC
hay không trong nghiên cứu này).
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Các trường hợp sau đều được loại khỏi nghiên cứu:
•