đặt vấn đề
Trong đời sống xã hội loài người từ xưa đến nay, vô sinh là nguyên
nhân của nỗi buồn và sự thất vọng của nhiều gia đình. Vô sinh luôn nhận
được nhiều sự quan tâm ở trên thế giới còng nh ở Việt Nam. Vô sinh không
chỉ đơn thuần là một bệnh lý phô khoa mà còn là một vấn đề lớn về mặt xã
hội học.
Theo WHO, quyền được sinh sản là quyền bình đẳng của mỗi con
người dù giàu hay nghèo, hay ở bất cứ vị trí nào trong xã hội. Do đó, bên
cạnh công tác kế hoạch hóa gia đình, đảm bảo quyền sinh sản của mỗi người
là nhiệm vụ của nghành y tế nói riêng và xã hội nói chung.
Năm 1985 một nghiên cứu tại nhiều trung tâm của WHO cho biết tỷ lệ
VSTP cao hơn hẳn VSNP: tại Tangiania (Châu Phi) VSNP chỉ chiếm 5%
trong khi đó VSTP chiếm 30%; Brazil (Châu Mỹ): VSNP chiếm 2%, VSTP
chiếm 30%. Tại Việt Nam, VSNP chiếm 2%, VSTP chiếm 15% [15].
Ở nước ta khi lĩnh vực chẩn đoán và điều trị vô sinh được quan tâm
qua nhiều nghiên cức thực tế nguời ta thấy nhu cầu khám và điều trị vô sinh
đang có xu hướng ngày một gia tăng, chỉ riêng tại Bệnh Viện Phụ Sản Trung
Ương mỗi năm đã có từ 2500-3000 cặp vợ chồng đến khám và điều trị vô
sinh [23], trong đó các trường hợp VSTP chiếm tỷ lệ khá cao.
1
Nghiên cứu của Vũ Văn Chức (1990) VSTP chiếm 15,6% [5]
Nguyễn Xuân Bái (2002) VSTP chiếm 38% [2]
Nguyễn Đức Mạnh (2002) VSTP chiếm 40,6 % [16]
Phạm Như Thảo (2004) VSTP chiếm 48,9 % [22]
Tất cả các nghiên cứu trước về vô sinh đều đi đến kết luận: nguyên
nhân chính cuả VSTP là có sự phối hợp của nhiễm khuẩn phụ khoa. Những
nhiễm khuẩn này có thể tránh được khi ta ý thức được chúng và có biện pháp
dự phòng.
Có rất nhiều yếu tố liên quan đến VSTP, nghiên cứu đặc điểm và một
số yếu tố liên quan đến VSTP để có cái nhìn tổng thể về VSTP, từ đó góp
phần đề xuất một số giải pháp phòng và điều trị VSTP.
phần lớn thoái hoá và tiêu đi. Noãn nguyên bào trong nang noãn phân bào và
phát triển thành noãn bào loại I, noãn bào loại II và cuối cùng là noãn trưởng
thành. Quá trình phát triển từ noãn nguyên bào thành noãn bào loại II ở trong
giai đoạn trước tuổi dậy thì. Noãn bào loại II phát triển thành noãn trưởng thành
chỉ xảy ra trong khi chuẩn bị phóng noãn.
Khi noãn và tinh trùng gặp nhau tại 1/3 ngoài của vòi tử cung thì quá
trình thụ tinh sẽ xảy ra và một hợp tử được tạo thành, tiếp theo hợp tử sẽ di
chuyển về phía buồng tử cung. Cùng với sự di chuyển đó phôi sẽ được tạo
sau lần phân cắt đầu tiên và tiếp tục các lần phân cắt nữa để tạo thành phôi
dâu rồi phôi nang, tương ứng khoảng ngày 4- 5 sau thô tinh. Lúc này phôi đã
di chuyển về tới buồng tử cung và chuẩn bị làm tổ {}.
Khi niêm mạc tử cung đã phát triển đầy đủ để chuẩn bị nhận trứng
làm tổ. Nơi làm tổ thường là ở vùng đáy tử cung, mặt sau nhiều hơn mặt
trước. Các bước làm tổ bao gồm: Dính, bám rễ, qua líp biểu mô và nằm sâu
trong líp đệm.
Vì vậy, bất thường một hay nhiều yêú tố trên đều ảnh hưởng đến quá
trình thụ tinh, làm tổ của trứng và có thể dẫn đến vô sinh.
1.2. Định nghĩa và tình hình vô sinh.
1.2.1. Định nghĩa:
4
Vô sinh là tình trạng không có thai sau thời gian một năm chung sống
vợ chồng, không dùng một biện pháp tránh thai nào, đồng thời tần suất giao
hợp Ýt nhất 2 lần trong một tuần.
VSNP (hay còn gọi là VS1) là chưa có thai lần nào, còn VSTP (hay
còn gọi là VS2) là đã từng có thai Ýt nhất 1 lần, nay chưa có thai lại.
Vô sinh nam là trường hợp mà nguyên nhân vô sinh hoàn toàn do
người chồng, người vợ hoàn toàn bình thường. Vô sinh nữ là trường hợp mà
nguyên nhân vô sinh hoàn toàn do người vợ, người chồng hoàn toàn bình
thường. Vô sinh không rõ nguyên nhân là trường hợp làm các xét nghiệm
thăm dò hiện có mà không có nguyên nhân nào [4] [7].
1.3.1. Định nghĩa:
VSTP là trong tiền sử đã từng có thai Ýt nhất một lần, nay chưa có
thai lại.
1.3.2. Tình hình vô sinh thứ phát trên thế giới.
Những phụ nữ vì một lý do nào đó đã có thai một lần, thậm chí vài
lần, nhưng do không muốn có con nên họ bỏ thai, hoặc do sẩy thai, hoặc
6
muốn kế hoạch để có thai sau nên họ đã hoãn việc có con lại. Đối với một số
người, khi muốn có thai trở lại là vô cùng khó khăn. Thậm chí sự tiến bộ của
y học nhiều khi cũng không thể giúp họ được.
Theo kết quả nghiên cứu của WHO thực hiện trên 8500 cặp vợ chồng
trong thời gian từ 1980- 1986 thuộc 25 quốc gia, và năm 1985 có thêm
nghiên cứu về tỷ lệ vô sinh của một số nước như Ên Độ, Pakistan, Thái Lan,
Việt Nam…
Dưới đây là các số liệu trích dẫn từ nghiên cứu này về tỷ lệ VSNP và
VSTP năm 1985 [15]
Tỷ lệ VSNP và VSTP năm 1985
VSNP VSTP
Châu Phi
Benin
31% 10%
Camezoo
n
12% 33%
Kenyza 4% 7%
Tanjania 5% 25%
ChâUXTC mỹ
Brazil
2% 30%
Colombia 4% 4%
Vũ Văn Chức{5} 199
0
84,4% 15,6%
Nguyễn Xuân Bái{2} 200
2
62% 38%
Nguyễn Đức Mạnh{15} 200
2
59,4% 40,6%
Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ{26} 199
9
16,57% 83,43
%
Phạm
Nh
Thảo{22} 200
4
51,1% 48,9%
Về nguyên nhân gây VSTP ở Việt Nam: theo Nguyễn Xuân Bái
(2002) tỷ lệ tinh dịch đồ bất thường là 53,7%. Trong đó tỷ lệ không có tinh
trùng là 1,85%, tỷ lệ tinh trùng yếu là 26%. Theo Nguyễn Khắc Liêu (1998)
8
tỷ lệ VSTP là 36,2%, trong đó 75,4% có tắc vòi tử cung, 22,9% không phóng
noãn. Còn theo Nguyễn Đức Mạnh (1998) tỷ lệ VSTP là 40,6%, trong đó
56,7% có tắc vòi tử cung, trong VSTP có tắc vòi tử cung thì 21,18% sau sẩy,
14,77% sau đẻ, 11,82% sau nạo và 2,95% sau khi đặt dụng cụ tử cung. Theo
một nghiên cứu khảo sát nguyên nhân gây vô sinh thực hiện tại Bệnh viện
Phụ sản Từ Dũ năm 1999 thì VSTP chiếm 84,43% nguyên nhân vô sinh do
nữ, trong đó 60% có tiền căn nạo phá thai [26] .
1.4. Nguyên nhân ảnh hưởng đến vô sinh thứ phát nữ.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự năm 1998 tại
BVPSTƯthì tỷ lệ không phóng noãn ở VSNP là 33,6%; ở VSTP là 22,9%
[12].
Tỷ lệ vô sinh không phóng noãn trong tổng số vô sinh nữ là 20% [9].
1.4.2. Do tử cung.
10
- Do các dị dạng bẩm sinh của tử cung: có nhiều kiểu dị dạng bẩm
sinh tử cung như tử cung 2 sõng, 2 tử cung kèm hai âm đạo, hai tử cung một
cổ tử cung, tử cung có vách ngăn… các dị dạng tử cung thường được phát
hiện ngẫu nhiên sau sẩy thai hoặc có tiền sử sẩy thai liên tiếp, đẻ non, rất
hiếm dị dạng tử cung gây vô sinh nguyên phát.
- Tử cung kém phát triển: là nguyên nhân của sẩy thai liên tiếp và vô
sinh.
- Tư thế bất thường của tử cung: Tử cung gập sau kèm theo viêm dính
quanh tiểu khung, vòi tử cung gập hoặc tắc cả hai bên gây vô sinh. Tại Việt
Nam
, tỷ lệ tử cung gấp sau chiếm 70% tổng số người đến khám phụ khoa
[28].
- U xơ tử cung: tỷ lệ UXTC có thể gặp 20% phụ nữ trong lứa tuổi sinh
đẻ, UXTC có thể làm ngăn cản sự cung cấp máu đến niêm mạc tử cung, là
nguyên nhân cơ giới làm tắc hai lỗ vòi tử cung hoặc ngăn cản sự làm tổ của
phôi [28].
- Dính buồng tử cung: Thường sau thủ thuật
nh
sẩy, sau nạo, sau đẻ.
Nạo buồng tử cung vì các lý do có thể gây dính buồng tử cung, do thủ thuật
nạo đến líp đáy niêm mạc Tử cung. Ngoài ra dính buồng tử cung còn có thể
do lao. Chẩn đoán bằng cách chụp tử cung- vòi tử cung cho thấy buồng tử
cung biến dạng hoặc không nhìn thấy buồng tử cung. Soi buồng tử cung nhìn
thấy niêm mạc nhợt nhạt, hoặc vài dải xơ bắt chéo trong buồng tử cung.
Tắc vòi 1 bên 48 9 32 9,6 80 9,2
Tắc vòi 2 bên 60 11,2 143 44,
4
203 24
Dính buồng tử cung 8 1,5 11 3,3 19 32
Ứ nước vòi tử cung 32 6 41 12,
3
73 8,4
Tổng sè 148 27,7 232 69,
6
380 43,
8
(Trích số liệu nghiên cứu của Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự năm
1995)
Bảng 1.2. Vô sinh do tắc vòi TC tại Viện BVBMTSS năm 1998
Loại vô sinh
Loại tắc
VSNP
(n = 638)
VSTP
(n = 362
Tổng
sè
( n = 1000)
n % n % n %
Tắc vòi 1 bên 20 3,1 10 2,8 30 3
Tắc vòi 2 bên 164 25,7 244 67,4 408 40
,8
Dính buồng tử
cung
loạn chức năng vòi tử cung trong sù bắt nang noãn, vận chuyển noãn, tinh trùng,
phôi…
- Cơ chế miễn dịch tế bào: Phản ứng viêm và gia tăng đại thực bào:
người ta thấy ở những bệnh nhân LNMTC có sự gia tăng dịch trong ổ bụng,
tăng số lượng đại thực bào, khả năng thực bào của các tế bào này cũng gia
tăng. Đồng thời với hoạt động này là sự gia tăng nồng độ các chất tiết do đại
thực bào tiết ra. Môi trường ổ bụng với các yếu tố nêu trên có thể làm thay
đổi chức năng vận chuyển của vòi tử cung, ảnh hưởng đến sự di động của
tinh trùng, quá trình thụ tinh giữa noãn và tinh trùng, chất lượng và sự sống
còn của giao tử, phôi và khả năng làm tổ của phôi.
Tăng nồng độ Prostaglandins trong dịch phóc mạc còng có thể ảnh
hưởng đến chức năng vận chuyển của vòi tử cung và sự làm tổ của phôi.
- Rối loạn chức năng về nội tiết dưới đồi và buồng trứng: Tăng LH,
tăng Prolactin, hội chứng hoàng thể hóa nang noãn không có phóng noãn, rối
loạn quá trình sinh nang noãn, rối loạn giai đoạn hoàng thể.
- Có thể miễn dịch thể dịch: người ta thấy rằng LNMTC có thể liên
quan đến một số hiện tượng tự miễn và miễn dịch thể dịch. Ví dụ: kháng thể
15
kháng nội mạc tử cung, hội chứng kháng Phospholipid…. ảnh hưởng lên sự
làm tổ của phôi và có thể gây sẩy thai sớm.
1.4.5. Các nguyên nhân khác.
Các nguyên nhân gây vô sinh do vô kinh thứ phát (VKTP). Những
nguyên nhân phổ biến của VKTP là do vùng dưới đồi 78%, tuyến yên 2%,
buồng trứng 8%, ở ngoài bộ phận sinh dục 7%.
- VKTP nguyên nhân vùng dưới đồi: do yếu tố tâm thần, tâm lý do
sang chấn tâm thần hoặc do tổn thương thực thể như viêm não, sang chấn sọ
não làm ảnh hưởng đến chức năng vùng dưới đồi.
- VKTP nguyên nhân tuyến yên: gặp trong hội chứng Sheehan và
bệnh Simmonds do thùy trước tuyến yên bị hủy hoại.
- VKTP do nguyên nhân buồng trứng: buồng trứng suy tàn sớm, khối
Trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Mạnh [15] thì tỷ lệ vô sinh do vòi
tử cung tăng theo thời gian vô sinh.
1.4.8. Tuổi vô sinh thứ phát.
Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của phụ nữ có nhiều thay đổi, họ
có xu hướng lập gia đình muộn hơn. Người ta đã xác định rằng tuổi phụ nữ
càng cao thì tỷ lệ có thai tự nhiên càng giảm. Tỷ lệ có thai trung bình của một
17
phụ nữ dưới 35 tuổi là 0,19 ± 0,13 cho mỗi tháng; còn đối với một phụ nữ 35
tuổi trở lên thì tỷ lệ có thai chỉ còn 0,1 0,12 cho mỗi tháng [54].
1.4.9. Tần suất giao hợp giữa 2 vợ chồng cũng ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ
có thai tự nhiên.
Người ta tổng kết rằng: giao hợp 3 lần mỗi tuần cho một tỷ lệ có thai
cao nhất vì tần suất này bao gồm được 3 ngày trước và mét ngày sau khi
phóng noãn. Nếu giao hợp mỗi ngày thì số lượng tinh trùng và thể tích tinh
dịch đều giảm. Nang noãn còn thụ thai 12- 24 giê sau khi phóng noãn, còn
tinh trùng vẫn có thể gây thụ tinh được 48 giê sau khi đến vòi tử cung [9].
1.5. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến vô sinh nam.
- Nguyên nhân vô sinh ở nam giới chia làm 2 loại:
+ Nguyên nhân trước tinh hoàn.
+ Nguyên nhân tại tinh hoàn.
- Nguyên nhân sau tinh hoàn: những rối loạn gây cản trở sự di chuyển
tinh trùng và những rối loạn về chức năng hoạt động tình dục.
Nhìn chung vô sinh nam có thể do các nguyên nhân sau:
1.5.1. Vô sinh do hóa trị và xạ trị.
Hóa trị liệu ung thư có thể làm tổn thương đến tế bào mầm, chức
năng tinh hoàn bị tổn thương. Các tế bào mầm đặc biệt mẫn cảm đối với tia
xạ, tiếp xúc với liều càng cao thì tế bào mầm càng dễ bị tổn thương và khó
hồi phục.
1.5.2. Vô sinh do viêm tinh hoàn.
Bệnh giang mai có thể ảnh hưởng điến tinh trùng và mào tinh hoàn
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các trường hợp vô sinh thứ phát đến
khám và điều trị tại BVPSTƯ năm 2011.
2.1.1. Tiêu chuẩn lùa chọn.
Các trường hợp vô sinh thứ phát thỏa mãn đầy đủ các thông tin sau:
- Tuổi.
- Sè năm vô sinh.
- Tiền sử: Những lần có thai trước, viêm nhiễm sinh dục, ngoại
khoa…
- Khám lâm sàng để phát hiện các bất thường: vách ngăn âm đạo, dị
dạng tử cung, viêm nhiễm đường sinh dục…
- Xét nghiệm tinh dịch đồ.
- Chụp tử cung- vòi tử cung, nghiệm pháp Cotte.
- Siêu âm tử cung phần phụ.
- Định lượng Hormone sinh dục bằng phương pháp miễn dịch phóng
xạ (RIA) hay phương pháp miễn dịch men (EIA).
- Nạo sinh thiết niêm mạc tử cung (BE): nếu có.
- Soi ổ bụng (nếu có): có bơm Xanh methylen vào buồng tử cung khi
soi ổ bụng để kiểm tra vòi tử cung có thông hay không.
20
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những trường hợp VSTP có nguyên nhân do triệt sản.
- Những trường hợp VSTP đã có 2 con sống.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.
Nghiên cứu mô tả tiến cứu các trường hợp đến khám và điều trị vô
sinh thứ phát tại BVPSTƯ năm 2011.
2.2.2. Cỡ mẫu.
Áp dông theo công thức tính cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong
một quần thể.
n = Z
Đánh giá tình trạng cổ tử cung, tử cung.
Đánh giá tình trạng vòi tử cung: tắc hay thông.
+ Siêu âm tử cung phần phụ: buồng trứng đa nang, có phóng noãn hay
không?
+ Kết quả sinh thiết niêm mạc tử cung (BE) đánh giá xem có phóng noãn hay
không?
22
+ Kết quả xét nghiệm tinh dịch đồ: tiêu chuẩn tinh dịch bình thường
theo WHO (1999) [69].
Thể tích
≥
2ml
Độ ly giải < 60 phót
pH 7,2- 8
Mật độ
≥
20.10
6
/ml
Tổng sè tinh trùng
≥
40.10
6
/1 lần xuất tinh
Di động: A: di động tiến tới
nhanh
A
≥
25%
B: di động tiến tới
Có thể kết hợp vừa tinh trùng yếu, Ýt, dị dạng.
23
+ Định lượng Hormone: FSH, LH, prolactin, estradiol, progesteron,
testosteron bằng phương pháp RIA và EIA xét nghiệm được làm tại khoa xét
nghiệm BVPSTƯ.
- Kết quả soi ổ bụng.
- Khám phụ khoa: Đánh giá tình trạng âm hộ- âm đạo, cổ tử cung, tử
cung, 2 phần phụ.
2.3.2. Tiến hành nghiên cứu:
Tiến hành thu thập số liệu tại phòng khám vô sinh có đủ tiêu chuẩn
lùa chọn.
2.3.3. Xử lý số liệu.
Các kết quả được sử lý theo phương pháp thống kê Y học bởi chương
trình SPSS 16.0.
Tính tỷ lệ %.
Kiểm định
χ
2
để xác định mức độ khác nhau có ý nghĩa khi so sánh
hai tỷ lệ với p < 0,05.
2.3.4. Đạo đức nghiên cứu.
- Tất cả các hoạt động tiến hành trong nghiên cứu này đều tuân thủ
quy định và nguyên tắc chuẩn mực về đạo đức nghiên cứu Y sinh hoạc của
Việt
Nam
và quốc tế.
- Mẫu nghiên cứu bao gồm các câu hỏi về tiền sử, bệnh sử, thăm
khám lâm sàng, các xét nghiệm cơ bản được thực hiện theo các nguyên tắc
cho phép áp dụng thường quy tại Việt
Nam