Rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ mầm non 4 5 tuổi tại trường mầm non văn khê mê linh hà nội - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

PHẠM THỊ LINH

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG
CHO TRẺ MẦM NON 4-5 TUỔI
TẠI TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊMÊ LINH- HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em

Hà Nội, 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

PHẠM THỊ LINH

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
VỆ SINH CÁ NHÂN VÀ DINH DƯỠNG
CHO TRẺ MẦM NON 4-5 TUỔI
TẠI TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊMÊ LINH- HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em
Người hướng dẫn khoa học

TS. Nguyễn Thị Việt Nga

nghiệp là trung thực hoàn toàn không trùng với kết quả của tác giả khác.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm với lời cam đoan này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2019.
Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Linh


DANH MỤC VIẾT TẮT

STT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

1

VSCN

Vệ sinh cá nhân

2

DD

Dinh dưỡng

3


1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ....................................................................... 5
1.1.1. Trên thế giới ......................................................................................... 5
1.1.2. Ở Việt Nam .......................................................................................... 6
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. ...................................................... 9
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản....................................................................... 9
1.2.1.1. Khái niệm: Thói quen vệ sinh cá nhân ............................................... 9
1.2.1.2. Khái niệm: Kỹ năng vệ sinh............................................................. 11
1.2.1.3. Một số khái niệm dinh dưỡng .......................................................... 12
1.2.2. Đặc điểm tâm- sinh lý của trẻ 4-5 tuổi ................................................ 13
1.2.3. Đặc điểm rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh
dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi .................................................................................. 15
1.2.4. Vai trò của việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và
dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non .......................................... 16


1.3. Thực trạng rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh
dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Văn Khê- Mê Linh- Hà Nội. ....... 18
CHƯƠNG 2. RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VỆ SINH CÁ
NHÂN VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON 4-5 TUỔI TẠI
TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊ- MÊ LINH- HÀ NỘI. ........................... 22
2.1. Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua
họat động học tập ......................................................................................... 22
2.1.1. Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua
bữa ăn hàng ngày. ........................................................................................ 23
2.1.2. Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua
các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. .............................................................. 24
2.1.3. Rèn luyện và phát triển kỹ năng VSCN và DD cho trẻ thông qua
các hoạt động vui chơi.................................................................................. 25
2.2. Một số phương pháp giáo dục rèn luyện và phát kỹ năng VSCN và
DD cho trẻ mầm non 4-5 tuổi tại trường mầm non Văn Khê- Mê LinhHà Nội.......................................................................................................... 26


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết Bác Hồ đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành,
biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan” câu nói tuy ngắn gọn nhẹ nhàng
nhưng chứa đựng đầy đủ tình cảm của Bác với thế hệ mai sau.
Một trong những quyền của trẻ em là quyền được chăm sóc. Để đảm bảo
cho sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ thì chăm sóc và vệ sinh cũng như dinh
dưỡng cho trẻ phải hợp lý. Khi mà chăm sóc và dinh dưỡng của trẻ không đầy
đủ thì trẻ rất dễ bị mắc các virut hay những bệnh mà ta không lường trước
được. Trẻ mà bị mắc các căn bệnh như suy dinh dưỡng, bệnh chân tay miệng,
viêm da, mắt… là gánh nặng của gia đình và cả xã hội, ảnh hưởng đến nòi
giống và sự phát triển thế hệ tương lai của đất nước.
Trên thực tế trẻ em được chăm sóc tốt, rèn luyện uốn nắn ngay từ nhỏ,
việc hình thành những kỹ năng vệ sinh và dinh dưỡng cần thiết từ nhỏ sẽ tạo
thành nền móng vững chắc cho tương lai của trẻ. Là một giáo viên Mầm non
tương lai, tôi thấy còn rất nhiều điều mà người giáo viên cần phải có về kỹ
năng chăm sóc vệ sinh cũng như dinh dưỡng để giúp trẻ lớn lên khỏe mạnh và
hạnh phúc.
Với trẻ 4-5 tuổi, lúc này các cơ quan bộ phận của trẻ đã hoàn thiện. Trẻ
có thể tự mình vệ sinh cá nhân như đánh răng rửa mặt và có thể tự tắm mà
không cần nhờ đến người lớn. Trẻ cũng có thể biết được những món ăn nào
tốt cho cơ thể và những món ăn nào có hại cho sức khỏe. Quá trình tâm lý của
trẻ cũng ổn định, trẻ đã có tư duy trực quan hình tượng. Trẻ bắt chước rất
nhanh các hành động của người lớn, trẻ tò mò ham học, biết cái nào nên làm
hay không nên làm. Đây là thời điểm vô cùng thuận lợi để rèn luyện và phát
triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho trẻ.
Hiện nay việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh

1


của người khác.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các cơ sở lý thuyết của việc rèn luyện và phát triển các kỹ
năng VSCN và DD cho trẻ MGN.
“Nghiên cứu các tài liệu liên quan làm cơ sở lý thuyết cho đề tài. Thu
thập, chọn lọc, tổng hợp và khái quát hóa tài liệu có liên quan đến lý luận và
thực tiễn của vấn đề nghiên cứu làm cơ sở lý luận cho đề tài”.
6.2 Phương pháp quan sát.
Quan sát việc thực hiện rèn luyện kỹ năng VSCN và DD của trẻ ở trường
mầm non.
Trao đổi với giáo viên và phụ huynh của trẻ về vấn đề rèn luyện kỹ năng
VSCN và DD ở trường cũng như ở nhà.
- Phương pháp trực quan, làm mẫu thực hành: sử dụng các phương tiện
trực quan cho trẻ quan sát và thực hành trên mẫu vật.
- Phương pháp dùng lời: đàm thoại, giảng giải.
6.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Tìm hiểu việc tổ chức các hoạt động nhằm rèn luyện và phát triển các kỹ
năng VSCN và DD cho trẻ.
Tìm hiểu các biện pháp nhằm giúp cho việc rèn luyện và phát triển các
kỹ năng VSCN và DD cho trẻ đạt được kết quả cao.
6.4 Phương pháp thực nghiệm.
Tiến hành khảo sát việc thực hiện các kỹ năng VSCN và DD của trẻ ở
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
Tổ chức các hoạt động nhằm hình thành và phát triển các kỹ năng VSCN
và DD cho trẻ tại lớp thực nghiệm.


7. Phạm vi nghiên cứu

Trong Công ước về “Quyền trẻ em” cho ta thấy những quyền và lợi ích
trẻ có được.
TS. Doushqau Erlihs, Nhà di truyền học Pháp cho biết [11]: “Mỗi
chúng ta mang trên mình khoảng 2kg vi khuẩn, chúng thường trú trên da,
trong miệng và ruột. Ngoài việc ảnh hưởng tới sức khỏe, vi khuẩn còn ảnh
hưởng tới cả hành động và suy nghĩ của chúng ta. Vì vậy, cần phải có cách vệ
sinh thân thể một cách khoa học”.
Tổ chức Y tế Thế Giới đã đưa ra “các bước rửa tay bằng xà phòng, các
bước rửa mặt sao cho đúng cách và đảm bảo vệ sinh nhất”.
Ngay từ trước công nguyên, cả hai nền y học cổ truyền phương Đông và
phương Tây đều chú trọng đến vấn đề dinh dưỡng .
Năm 1905, Hopkins nhận ra rằng thực phẩm không chỉ gồm 3 chất:
Dlucid- Protid- Lipid mà còn có các chất dinh dưỡng khác. Những năm 50 và
60 của thế kỷ trước, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến sự phổ biến của
SDD.
Như vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về các thói quen văn hóa vệ sinh và
dinh dưỡng đã được các nhà nghiên cứu chắc hẳn sẽ không dừng lại ở đây mà


sẽ quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn
nữa.
1.1.2. Ở Việt Nam
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng việc nghiên cứu về các
vấn đề liên quan đến vệ sinh và dinh dưỡng trẻ em được rất nhiều các tác giả
quan tâm. Tiêu biểu có thể thấy được một số các nghiên cứu sau:
Theo tác giả Hoàng Thị Phương với giáo trình “ Vệ sinh trẻ em” [6] “đã
tập trung nghiên cứu về các vấn đề vệ sinh cho trẻ. Tác giả đã chỉ ra đối
tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của Vệ sinh trẻ em đã xây dựng
hệ thống các biện pháp nhằm củng cố sức khỏe của trẻ, phát triển cơ thể một
các toàn diện, cân đối và tổ chức giáo dục trẻ hợp lý và chỉ ra được các kiến

hóa cho trẻ em dưới 6 tuổi” [8] đã chỉ ra rằng “giáo dục hành vi văn hóa là
một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Giáo dục mầm non. Hành vi
văn hóa vừa mang ý thức đạo đức bên trong vừa thể hiện thẩm mĩ bên ngoài,
nên không thể là hành vi bẩm sinh, tự nhiên mà có mà phải trải qua một quá
trình giáo dục và rèn luyện lâu dài, sự hình thành hành vi văn hóa ở mỗi
người cần phải bắt đầu từ lúc còn bé”.
- “Viện chiến lược và chương trình giáo dục - Trung tâm nghiên cứu
chiến lực và phát triển chương trình giáo dục mầm non” đã nghiên cứu và đưa
ra cuốn sách “ Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo
chủ đề” [5] (dành cho trẻ từ 24 tháng tuổi tới 6 tuổi). “Cuốn sách đã sưu tầm
rất nhiều bài hát, bài thơ, những câu truyện góp phần giáo dục cho trẻ những
hành vi văn hóa tốt đẹp”.
Vấn đề dinh dưỡng được quan tâm từ rất sớm cùng với sự phát triển của
khoa học dinh dưỡng. Năm 1980 Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã được thành
lập, từ đó đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu Viện Dinh dưỡng đã


góp phần đáng kể vào việc chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.
“ Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam 2006”
[11] được Bộ trưởng Bộ Y tế chính thức phê duyệt để sử dụng chính thức
trong nghành Y tế và các ngành có liện quan nhằm phục vụ sự nghiệp chăm
sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe trẻ nhỏ cũng như của cộng đồng. Khuyến
nghị về nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng theo lứa tuổi, giới tính,
loại hình lao động và tình trạng sinh lý.
Theo tác giả Lê Thị Mai Hoa- Lê Trọng Sơn với giáo trình “Dinh dưỡng
trẻ em” [2] đây là cuốn giáo trình “nhằm cung cấp một số kiến thức cơ bản,
những kỹ năng cần thiết giúp sinh viên sau khi ra trường có thể áp dụng vào
việc tổ chức dinh dưỡng tốt cho trẻ ở tất cả các đối tượng mầm non ở các độ
tuổi khác nhau”. Từ những kiến thức được trang bị, sinh viên sẽ biết phát hiện
và có biện pháp phòng tích cực một số bệnh do dinh dưỡng không hợp lý gây

hành động của cá nhân được diễn ra trong điều kiện ổn định về thời gian,
không gian và quan hệ xã hội nhất định”.
Tác giả Hoàng Lan- Hà Sơn cho rằng: “Thói quen là những hành vi lặp
đi lặp lại trong cuộc sống đã trở thành thông lệ”.
Thói quen có nội dung “tâm lí ổn định và thường gắn với nhu cầu cá
nhân. Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên cố định, cân
bằng và khó loại bỏ”.
Thói quen vệ sinh được hình thành từ kỹ xảo: “Trên cơ sở nghiên cứu
về vận động có chủ định của Sechenôv và Palôv, kỹ xảo được coi là kết quả tự
động hóa của các hành động trong một hoạt động nào đó”. Như vậy, “Kỹ xảo
là những hành động tự động hóa, nhưng trong quá trình thực hiện phải có sự
tham gia của ý thức. Trong quá trình hoạt động, kỹ xảo dần được củng cố và
hoàn thiện” [6,tr185].


- Giai đoạn hình thành thói quen vệ sinh [6,tr185,186].
Giai đoạn I: Hiểu cách làm.
“Trẻ cần hiểu mỗi hành động cần những thao tác nào? Các thao tác đó
diễn ra theo trình tự như thế nào? Và cách tiến hành mỗi thao tác cụ thể”.
Giai đoạn II: Hình thành kỹ năng.
“Trẻ cần biết vận dụng các tri thức đã biết để tiến hành một hành động
cụ thể nào đó. Việc tiến hành các hành động ở giai đoạn này đòi hỏi sự tập
trung chú ý, có nỗ lực về ý chí và biết vượt qua khó khăn”.
Giai đoạn III: Hình thành kỹ xảo.
“Trẻ cần biến các hành động có ý chí thành các hành động tự động hóa
bằng cách luyện tập nhiều lần để giảm tới mức tối thiểu sự tham gia của ý
thức vào hành động”.
Như vậy, có thể thấy “kỹ xảo vệ sinh là những kỹ xảo hướng tới việc bảo
vệ và củng cố sức khỏe cho trẻ.Việc giúp trẻ rèn luyện và phát triển kỹ năng
vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng giúp trẻ có thể tự phục vụ được bản thân mà

Theo tác giả Đặng Thành Hưng [3], “kỹ năng là một dạng hành động
được thực hiện tư giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và
những điều kiện sinh học- tâm lí khác của cá nhân (chủ thể của kỹ năng đó)
như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân… để đạt được kết quả theo
mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy
định”.
Nói tóm lại kỹ năng là thể hiện hoạt động của con người vận dụng những
kiến thức đã thu thập được để thực hiện công việc đạt được mục đích hay tiêu
chí đã đặt ra một cách nhanh và khoa học.
* Khái niệm “Kỹ năng vệ sinh”.
Kỹ năng vệ sinh cá nhân là khả năng vận dụng những kiến thức thu thập


được trong những tiết học về vệ sinh, vệ sinh cá nhân. Qua kết quả thu được,
ta có thể đánh giá được kỹ năng của người thực hiện đã đạt được những điểm
mạnh và điểm yếu nào. Từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục phù hợp để
người thực hiện phát triển kỹ năng một cách tốt nhất.
Ví dụ: Để rèn luyện kỹ năng vệ sinh thân thể - kỹ năng rửa tay thì trước
tiên trẻ phải nắm được những kiến thức như: Trẻ biết ý nghĩa của việc rửa tay,
khi nào thì rửa tay, trẻ biết các thao tác rửa tay. Trong quá trình thực hiện trẻ
đã tự rút ra những kỹ năng thiết thực để đạt được kết quả nhanh và đúng nhất .
1.2.1.3. Một số khái niệm dinh dưỡng
* Khái niệm “Dinh dưỡng” [2,tr7].
Dinh dưỡng là “nhu cầu sống hàng ngày của con người, trẻ em cần dinh
dưỡng để phát triển thể lực và tri thức, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự
sống và làm việc, hay nói cách khác, dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát
triển của cơ thể. Mà đặc trưng cơ bản của sự sống là sinh trưởng, phát triển,
sinh sản, cảm ứng, vận động, trao đổi chất và năng lượng”. Trong đó quan
trọng nhất là trao đổi chất và năng lượng vì nó chi phối tất cả các đặc trưng
khác và nó là điều kiện tồn tại và phát triển của cơ thể sống.

đến trẻ”.
Đời sống tình cảm và ngôn ngữ của trẻ cũng có sự phát triển rõ nét:
“Trẻ rất cần yêu thương của mọi người, biết đồng cảm chia sẻ với mọi
người xung quanh, trẻ nói được câu dài và đầy đủ, biết nói lời hay, nói lễ
phép”.
“Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã trở nên nhiều mùa, nhiều vẻ:
Động cơ tự khẳng định mình, động cơ nhận thức, muốn khám phá thế giới
xung quanh, động cơ thi đua, động cơ xã hội….”
“Trẻ muốn được tự khẳng định mình, muốn được sống và làm việc như


người lớn, muốn nhận thức sự vật và hiện tượng xung quanh… nhưng vì bản
thân trẻ chưa đủ khả năng để tự thực hiện điều đó nên trẻ thường tham gia vào
trò chơi đóng vai theo chủ đề và làm các công việc như người lớn.
Trẻ muốn làm những việc mang lại niềm vui cho người khác và muốn
giúp đỡ người khác, hòa nhập với cộng đồng, vui chơi đoàn kết với bạn bè và
thể hiện tình cảm với mọi người xung quanh một cách đúng mực.
Trẻ biết thi đua giữa mình với các bạn, giữa tổ mình với tổ bạn, thi xem
“ Ai nhanh hơn”….
Trẻ biết nói những câu dài, nói lời hay, thích ca hát, nghe hát, nghe
nhạc biết bộc lộ cảm xúc trước vẻ đẹp của sự vật hiện tượng xung quanh”.
b. Đặc điểm sinh lý [10].
Gia đoạn này trẻ biến đổi nhiều hơn về mặt số lượng hơn là về mặt chất
lượng, “sự phát triển cơ thể diễn ra chậm hơn giai đoạn trước. Chiều cao trung
bình hằng năm tăng được từ 5cm- 8cm, cân nặng trung bình tăng từ 1kg1,5kg. Ở độ tuổi này là thời gian thuận lợi nhất để củng cố những kiến thức
và kỹ năng rèn luyện chăm sóc vệ sinh cá nhân cũng như dinh dưỡng cần cho
trẻ. Trẻ ở độ tuôi này cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng vận động
còn hạn chế”.
Các chức năng cơ thể dần hoàn thiện, nhất là “chức năng vận động kết
hợp động tác. Trẻ có thể làm được những động tác khéo léo hơn, gọn gàng

như: viêm họng, viêm phế quản, các bệnh dị ứng , hen, thấp, mề đay…”
1.2.3. Đặc điểm rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh
dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi
Ở độ tuổi này trẻ đã có thể có những đặc điểm rèn luyện và phát triển kỹ
năng như:
Thứ 1: Kỹ năng tự phục vụ bản thân:


Biết cách tự sắp xếp chăn gối khi ngủ dậy, tự vệ sinh cá nhân, tự ăn, tự
mặc quần áo,…mới đầu trẻ chưa quen nhưng cứ để trẻ kiên nhẫn và dần dần
sẽ trở nên tốt hơn.
Thứ 2: Kỹ năng tự bảo vệ bản thân:
Trẻ cần biết phân biệt nguy hiểm, bị ngã thì nên làm thế nào, tay bẩn thì
làm gì, cơm rơi xuống bàn xử lý như thế nào, có nên ăn những đồ ăn bị hư
hỏng hay không, những đồ ăn gì thi tốt cho độ tuổi của mình.
Thứ 3: Tạo dựng kỹ năng tự lập.
Người lớn, ông bà, cha mẹ và thầy cô không phải lúc nào cũng ở bên trẻ
mãi được. Vì vậy cần dạy cho trẻ những kỹ năng cần thiết, dạy cho trẻ tự
chuẩn bị đồ dùng trước khi đến trường hay đi đâu mà không cần nhờ đến
người lớn. Trẻ tự vệ sinh cá nhân khi không có người lớn bên cạnh, trẻ có thể
tự làm được những công việc đơn giản.
1.2.4. Vai trò của việc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và
dinh dưỡng cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non
Viêc rèn luyện và phát triển kỹ năng vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng cho
trẻ 4-5 tuổi nói chung và cho trẻ 4-5 tuổi tại Trường Mầm non Văn Khê nói
riêng có vai trò vô cùng quan trọng:
Rèn luyện kỹ năng vệ sinh cá nhân là “một loại thói quen lao động tự
phục vụ đơn giản. Việc rèn luyện giúp trẻ phát huy khả năng giữ gìn, bảo vệ
sức khỏe cho trẻ và phòng tránh được nhiều bệnh tật. Ngoài ra nó còn có ý
nghĩa quan trọng trong việc giáo dục con người mới phát triển toàn diện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status