1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu răng là một trong những bệnh răng miệng phổ biến nhất ở Việt
Nam cũng như trên thế giới, theo thống kê của WHO năm 1997 khoảng 90%
dân số mắc bệnh sâu răng [1].
Mặc dù y học ngày càng phát triển, các phương tiện chẩn đoán cũng
như điều trị bệnh sâu răng ngày càng hiện đại nhưng tỷ lệ sâu răng vẫn còn
cao, đặc biệt là sâu răng ở trẻ em. Theo nghiên cứu của Trần Văn Trường và
cộng sự (2001) trên toàn quốc sâu răng sữa xuất hiện thường đạt tỷ lệ cao nhất
lúc 6 - 8 tuổi rồi giảm dần do có sự thay thế sang răng vĩnh viễn, tỷ lệ sâu răng
sữa ở trẻ 6 - 8 tuổi là 84,9%, trẻ 9 - 11 tuổi là 56,3% [2]. Năm 2010, kết quả
điều tra của viện đào tạo Răng Hàm Mặt - trường đại học Y Hà Nội tại 5 tỉnh
thành trong cả nước cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa của học sinh 4 - 8 tuổi 81,6%
[3]. Như vậy tỷ lệ sâu răng, đặc biệt là sâu răng sữa vẫn rất cao và chưa có sự
thay đổi đáng kể, gây ra những hậu quả mà khắc phục lại khó khăn.
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn, có thể gây đau, ảnh hưởng đến ăn
uống, học hành, giao tiếp, vui chơi của trẻ, gây tốn nhiều thời gian và tiền
bạc, nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến những biến chứng nguy
hiểm [4].
Sâu răng không những ảnh hưởng tới sức khỏe toàn thân mà còn là
nguyên nhân gây ra các bệnh nội khoa nghiêm trọng, trong đó có bệnh tim
mạch, đặc biệt là tim bẩm sinh. WuT đã giải thích sâu răng gây ra các yếu tố
viêm, tạo thuận lợi hình thành cục máu đông, là nguyên nhân gây bệnh tim
mạch [5]. Các nghiên cứu còn cho thấy Streptococcus viridians đặc biệt là
sanguis, mitior, mutans là nguyên nhân gây viêm nội tâm mạc thông qua
đường máu từ môi trường miệng [6], [7], [8], [9]. Mà Streptococcus mutans và
2
Lactobacillus là vi khuẩn chủ yếu gây sâu răng đã được chứng minh [10]. Đa
đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần
hữu cơ của mô cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng
lý hóa liên quan đến sự di chuyển của ion bề mặt giữa răng và môi trường
miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ
của vật chủ [10].
1.1.2. Bệnh căn bệnh sâu răng
Sâu răng được cho là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi khuẩn
đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn
uống nhiều đường, vệ sinh răng miệng không tốt, tình trạng khấp khểnh của
răng, chất lượng men răng kém, nhất là môi trường nước ăn có hàm lượng
Fluor thấp (hàm lượng Fluor tối ưu là 0,7 - 1,2 ppm/lít) đã tạo điều kiện cho
sâu răng phát triển [14], [15], [16], [17].
Từ sau năm 1975, White đã giải thích bệnh căn bệnh sâu răng bằng sơ
đồ White [14].
Bệnh căn bệnh sâu răng được tóm tắt qua sơ đồ White (1975):
• Răng: tuổi, Fluoride, hình thái
răng, các vi tố, độ khoáng hóa,
dinh dưỡng …
• Vi khuẩn: mảng bám răng,
Streptococcus Mutans …
• Chất nền: VSRM, sử dụng
Fluoride, chế độ ăn đường…
• Nước bọt và độ pH.
4
Hình 1.1: Sơ đồ White 1975 [14]
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh của bệnh sâu răng
Sinh lý bệnh quá trình sâu răng là do quá trình hủy khoáng chiếm ưu
thành lỗ sâu, là giai đoạn mới chớm của tổn thương ở lớp men. Tổn thương có
thể phát hiện bằng mắt là các vết trăng đục khi răng ướt hoặc khi thổi khô bề
mặt. Giai đoạn này tổn thương có thể hồi phục hoàn toàn bằng tái khoáng hóa
men răng [10].
Sâu răng giai đoạn đã hình thành lỗ sâu, là tổn thương ở lớp ngà. Tổn
thương có thể gặp ở tất cả các mặt răng, tùy thuộc vào độ tuổi hay loại răng [10].
1.1.4.2. Đặc điểm sâu răng trên bộ răng sữa và răng hỗn hợp
Có nhiều nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ sâu răng ở hệ răng sữa, tỷ lệ ở tuổi
trước khi đến trường được quan tâm nhiều nhất do mức độ và hậu quả nên cần
được giải quyết ngay [17].
Kiểu phân bố sâu răng của hệ răng sữa rất đa dạng tùy theo tuổi, loại
răng và mặt răng của bệnh nhân. Trình tự sâu răng giảm dần như sau: răng
hàm sữa và răng cửa sữa hàm trên, hiếm hơn là nhóm răng cửa sữa hàm dưới
hoặc mặt ngoài và mặt trong của các răng sữa, trừ trường hợp sâu răng lan nhanh
hoặc sâu răng do bú bình. Phân tích tính nhạy cảm tương đối của các mặt bên
răng ở hệ răng sữa, tỷ lệ sâu răng có khuynh hướng chung là tăng về phía xa.
Chú ý rằng sâu răng mặt tiếp cận tiến triển nhanh vào tủy hơn sâu răng mặt nhai
nhiều lần [17].
Tại thời kỳ răng hỗn hợp, từ 6 - 12 tuổi, sâu răng vĩnh viễn tiến triển với
tốc độ nhanh và ổn định. Thời kỳ này trẻ vừa có sâu răng sữa vừa có sâu răng
vĩnh viễn, sâu răng vĩnh viễn giai đoạn này phụ thuộc và chịu ảnh hưởng của
những điều kiện như răng sữa. Giải phẫu học bề mặt răng có tính quan trọng
trong tính nhạy cảm sâu răng tại các mặt răng. Răng cửa giữa và bên hàm trên
ít nhạy cảm sâu răng hơn các răng khác, răng cửa dưới ít bị sâu trừ trường
6
hợp sâu răng lan nhanh [17].
Vì có sự khác biệt ở hai hệ răng nên trong nghiên cứu em chia nhóm đối
triển của chăm sóc đặc biệt đã cải thiện việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân
tim bẩm sinh [19]. Ở trẻ em bị bệnh tim các vấn đề sức khỏe chung sẽ ảnh
hưởng tới sức khỏe răng miệng. Ví dụ: trẻ gặp khó khăn trong vấn đề dinh
dưỡng trong những năm đầu đời. Nôn là một vấn đề phổ biến, để bù đắp cho
điều này trẻ ăn thường xuyên và bữa ăn đêm là cần thiết để duy trì năng lượng
mức độ chấp nhận được. Ngoài ra, một số loại thuốc cho bệnh tim chứa
đường (sucrose) cùng với thuốc lợi tiểu có thể gây khô miệng [20].
Nhiễm trùng thường kéo dài hơn so với trẻ em bình thường khiến nhu
cầu năng lượng gia tăng, bắt buộc phải bổ sung dinh dưỡng, đôi khi vào ban
đêm, khi mà dòng chảy nước bọt thấp làm tăng các nguy cơ bệnh răng miệng.
Sâu răng không được điều trị và tỷ lệ sâu răng cao hơn so với trẻ em khỏe
mạnh đã được chứng minh ở trẻ bị bệnh tim bẩm sinh trong những ngiên cứu
trong quá khứ [21], [22], [23].
Nghiên cứu trước cũng chỉ ra tương quan đáng kể giữa số tháng bệnh
nhân tim bẩm sinh sử dụng digoxin và giá trị sâu - mất - trám mặt răng sữa.
Digoxin được bảo quản trong sucrose dạng si rô, vì vậy nó là nguyên nhân
gây sâu răng ở trẻ em bị bệnh mạn tính [24], [25].
Như vậy, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng trẻ bị tim bẩm sinh có
tỷ lệ sâu răng cao hơn nhóm trẻ không bị tim bẩm sinh.
1.2.2.2. Ảnh hưởng của sâu răng lên bệnh tim bẩm sinh
Nhiều giả thiết được đưa ra để giải thích mối liên hệ giữa sâu răng lên
bệnh tim mạch.
Năm 1992, Creighton cho rằng mối quan tâm chính của nha sĩ khi điều
trị trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh là phòng ngừa nguy cơ viêm nội tâm mạc
8
[26]. Sức khỏe răng miệng kém làm tăng nguy cơ nhiễm trùng dẫn tới viêm
nội tâm mạc. Năm 1993, Smith và Adams đã khẳng định có mối quan hệ giữa
10
1.3. Dịch tễ học sâu răng
1.3.1. Dịch tễ học sâu răng trên bệnh nhân tim bẩm sinh
1.3.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ sâu răng trên trẻ
em mắc bệnh tim bẩm sinh.
Tỷ lệ sâu răng trên trẻ em tim bẩm sinh được ghi lại theo bảng 1.1 dưới
đây với các lứa tuổi khác nhau.
Bảng 1.1. Tỷ lệ sâu răng ở trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh giai đoạn 1978 - 2008
Tác giả, năm
Berger, 1978 [27]
Urquyart và
Blinkhorn, 1990 [29]
Quốc
gia
Úc
Cỡ mẫu
Tuổi
Kết quả
TBS = 57 8 - 10 TBS có sr, SR, MR cao hơn
smtr/4 - 6 là 3,3
Điển
Tasioula, 2008 [31]
Anh
Rai K, 2009 [32]
Ấn
Độ
NC = 41
TBS = 76
NC = 47
3- 19
2 - 15
smtmr 5,2 ± 7,0 và 2,1 ± 3,4
SMTMR 0,9 ± 1,9 và 0,3 ± 0,6
smtr1,6 ± 3,0 và 0,8 ± 1,4
SMTR 1,8 ± 3,6 và 0,4 ± 1,2
TBS = 170 1 - 16 42% sâu răng
Năm 1992, theo nghiên cứu của Hallet trên 39 trẻ bệnh tim và 33 trẻ
bình thường cho thấy chỉ số sâu - mất - trám răng sữa ở nhóm trẻ bệnh tim là
11
12
1
2
3
4
6,4
20
35
49
0,18
0,70
1,35
2,36
Theo nghiên cứu của Mahejabeen R và cộng sự trên 1500 trẻ 3 - 5 tuổi
ở Hubli - Dharwad Ấn Độ năm 2006 có tỷ lệ sâu răng theo bảng [4]:
Bảng 1.3. Tỷ lệ sâu răng ở trẻ từ 3 - 5 tuổi theo Mahejabeen R
Tuổi
3
4
5
Tỷ lệ sâu răng (%)
42,6
50,7
60,9
1,5
1,4
1.3.1.2. Việt Nam
Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc của Trần Văn Trường và
cộng sự năm 2000 thì tỷ lệ sâu răng và số trung bình sâu - mất - trám là [2]:
Bảng 1.5. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo nhóm tuổi từ 6 - 17 tuổi theo Trần
Văn Trường và cộng sự
Tuổi
Sâu răng (%)
SMTR
6-8
84,9
5,4
13
9 - 11
56,3
1,96
12 - 14
84,9
5,40
12,98
9 - 11
56,3
1,96
4,60
Năm 2010, theo kết quả điều tra của Viện đào tạo Răng Hàm Mặt trường Đại Học Y Hà Nội tại 5 tỉnh thành trong cả nước cho thấy tỷ lệ sâu
răng sữa trẻ 4 - 8 tuổi là 81,6% [3].
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa Nội nhi - bệnh viện Tim
Hà Nội, khoa Tim mạch nhi - bệnh viện Nhi Trung Ương, khoa Tim mạch nhi
- bệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán xác định tim bẩm sinh.
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân được chẩn đoán bị tim bẩm sinh từ 1 tuổi tới 12 tuổi.
- Bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa.
Nội, khoa Tim mạch nhi - bệnh viện Nhi Trung Ương, khoa Tim mạch nhi bệnh viện Bạch Mai, trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2016 tới tháng 4
năm 2016.
Thực tế khám được 89 bệnh nhân tại khoa đủ tiêu chuẩn.
2.3.3. Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin
2.3.3.1. Các bước tiến hành nghiên cứu
- Liên hệ bệnh viện, khoa phòng, xin phép khoa và bệnh viện được lấy
số liệu tại khoa.
- Lập phiếu khám và phiếu phỏng vấn phù hợp với đối tượng và mục
đích nghiên cứu.
- Tập huấn điều tra viên về cách khám, phỏng vấn và ghi phiếu đánh
giá, tập huấn theo hệ số Kappa.
16
- Xin phép bác sĩ tại khoa và cha mẹ của trẻ xin được khám trẻ và
phỏng vấn cha mẹ theo bộ câu hỏi phỏng vấn, đồng thời cha mẹ điền thông tin
vào bản cam kết đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu.
- Khám phát hiện sâu răng ghi theo phiếu điều tra (phụ lục 1).
- Phỏng vấn theo bộ câu hỏi (phụ lục 2).
- Tổng kết các phiếu khám, phiếu phỏng vấn.
2.3.3.2. Phương tiện, dụng cụ và điều kiện phục vụ cho nghiên cứu
- Áo, mũ, khẩu trang, găng tay.
- Khay khám: gương, gắp, thám trâm.
- Que đè lưỡi, bóng thổi khô.
Hình 2.1. Dụng cụ khám
- Bông, cồn.
- Phiếu khám và phiếu phỏng vấn: tự thiết kế phù hợp với đối tượng
(phụ lục 1 và phụ lục 2).
18
2.4.1. Biến số nghiên cứu phục vụ theo mục tiêu
Bảng 2.1. Biến số nghiên cứu
Mục
tiêu
1
2
Tên biến số
Loại
biến số
Giá trị biến
Phương
pháp thu
thập
Phỏng vấn
Phụ lục 2
Khám
Phụ lục 1
Liên tục 9th - 12 tuổi
Tuổi
Nhị phân Nam, Nữ
thêm, ăn đêm, lần ăn đêm, có
VSRM sau ăn thêm.
Nhị phân Có, không
Khám RHM
Nhị phân Có, không
Điều trị RHM
Nhị phân Có, không
Thái độ cha mẹ: có cần đi
khám RHM định kỳ, nhớ tên
bệnh tim, nhớ tên thuốc của
con.
Yếu tố liên quan khác: điều
kiện kinh tế gia đình, số con,
thành viên khác có bệnh mạn
tính, nghề nghiệp của cha
mẹ, cha mẹ đã tốt nghiệp, tư
vấn RHM cho cha mẹ.
2.4.2. Chỉ số nghiên cứu
19
- Chỉ số sâu răng theo nhóm tuổi, giới.
- Tỷ lệ sâu răng.
- Chỉ số DI-S.
- Chỉ số smtr, smtmr, SMTR, SMTMR.
2.5. Một số khái niệm và chỉ số răng miệng
2.5.1. Chỉ số Sâu - Mất - Trám Răng
Chỉ số SMTR dùng để xác định tình trạng sâu răng vĩnh viễn trong quá
• TMR (trám mặt răng): tất cả các mặt răng đã bị trám và không bị
sâu tái phát.
- Chỉ số SMTMR là tổng số các mặt răng Sâu + Mất + Trám của răng
vĩnh viễn chia cho tổng số răng được khám [36].
2.5.4.Chỉ số sâu - mất - trám mặt răng sữa
Chỉ số smtr ghi nhận tổng bề mặt răng sữa sâu, mặt răng mất, mặt răng
trám. Tiêu chuẩn đánh giá gồm tương tự như răng vĩnh viễn nhưng đối tượng
là răng sữa [37].
* Đánh giá mức độ tổn thương và đã được điều trị
Để đánh giá mức độ trẻ được điều trị, em tính thêm một số tỷ lệ sau đây:
- S/SMT: tỷ lệ răng sâu không được điều trị.
- (M+T)/SMT: tỷ lệ răng sâu được điều trị.
21
* Tiêu chuẩn chẩn đoán sâu răng:
Các tiêu chuẩn đánh giá và ghi nhận sâu răng dựa trên tiêu chuẩn khám
lâm sàng theo ICDAS [38].
* Nguyên tắc chung:
Dùng bông ướt lau mặt răng, bóng thổi khô để làm khô mặt răng.
Khám và ghi nhận 5 mặt răng của tất cả các răng tại hai trạng thái khô
và ướt.
Mã số ghi từ 0 - 6 tùy thuộc mức độ trầm trọng của tổn thương.
Khám và ghi nhận riêng: mặt nhai, mặt gần và xa, mặt ngoài và trong,
sâu răng kết hợp miếng trám.
Bảng 2.2. Tiêu chuẩn phát hiện sâu thân răng nguyên phát theo ICDAS
(International Caries Detection and Assessment System)
Mã số
các răng có 5 mặt: cắn, gần, xa, má, lưỡi và thống nhất cách ghi như sau:
22
Mã số 0: Tươngứng với ICDAS mã số 0, răng lành mạnh, không có lỗ
sâu, sau khi thổi khô răng 5 giây không thấy có đốm trắng đục hay nghi ngờ
có đốm trắng đục.
Hình 2.3. Răng lành mạnh mã số 0
Mã số 1: Tương ứng ICDAS mã số 1: khi răng ướt không thấy đổi màu,
nhưng sau khi thổi khô 5 giây thấy có đốm trắng đục hay sự đổi màu nâu và
ICDAS mã số 2: khi răng ướt thấy có đốm trắng đục hay màu nâu vàng.
Hình 2.4. Sâu răng mã số 1
23
Mã số 3: Tương ứng ICDAS mã số 3 và 4, sâu răng đã hình thành lỗ
sâu nhưng chưa lộ ngà.
Hình 2.5. Sâu răng mã số 2
Mã số 4: Tương ứng ICDAS mã số 5 và 6, lỗ sâu đã lộ ngà.
Hình 2.6. Sâu răng mã số
* Phân biệt sâu răng:
Phân biệt với các khiếm khuyết do phát triển trong giai đoạn hình thành
răng. Có nhiều nguyên nhân có thể gây khiếm khuyết men hoặc toàn bộ răng
Đánh giá theo thang điểm
0,0 - 0,6: tốt.
0,7 - 1,8: trung bình.
1,9 - 3,0: kém.
Hình 2.9. Cặn bám
25
2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần
mềm Stata 12.0.
- Phân tích số liệu: thống kê mô tả và thống kê suy luận.
+ Thống kê mô tả: sử dụng bảng và biểu đồ mô tả tỷ lệ bệnh sâu răng
theo giới, tuổi, các yếu tố liên quan khác.
+ Thống kê suy luận: Các test có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 .
• Test khi bình phương: để so sánh các tỷ lệ bệnh sâu răng với một
số yếu tố liên quan.
• Tỷ suất chênh OR: phân tích một số yếu tố liên quan tới tình
trạng sâu răng.
2.7. Sai số và cách khắc phục
2.7.1. Sai số
* Sai số hệ thống:
- Nhập số liệu sai.
- Trong quá trình làm nghiên cứu, chưa đảm bảo đúng quy trình tiến
hành nghiên cứu.
- Sai sót trong thăm khám, đánh giá tình trạng sâu răng, tình trạng bong
miếng trám…
2.7.2. Cách khắc phục