Thực trạng quản lý và một số yếu tố liên quan đến đái tháo đường týp 2 tại phòng khám bệnh viện chí linh 2013 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ những năm 90 của thế kỷ 20, các chuyên gia y tế đã dự báo “Thế kỷ
21 là thế kỷ của các bệnh rối loạn chuyển hóa”.
Đái tháo đường là căn bệnh mạn tính, phổ biến, dễ mắc phải và điều trị
tốn kém. Đái tháo đường ảnh hưởng đến hàng triệu người, cả nam và nữ, ở
mọi lứa tuổi và trình độ. Đái tháo đường đang trở thành gánh nặng đối với sự
phát triển kinh tế và xã hội vì sự phổ biến và các hậu quả nặng nề của nó.
Gánh nặng bệnh nhân đái tháo đường đang tăng lên trên toàn cầu, đặc biệt là
ở các nước đang phát triển.
Theo nghiên cứu về Gánh nặng bệnh tật toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO) năm 2004 và theo Sarah Wild và CS [61], tỷ lệ mắc bệnh đái tháo
đường ở các nhóm tuổi trên toàn thế giới là 2,8% vào năm 2000 và ước tính là
4,4% vào năm 2030. Tổng số người bị bệnh đái tháo đường tăng từ 171 triệu
người trong năm 2000, dự kiến lên 366 triệu người vào năm 2030. Bệnh đái
tháo đường nếu phát hiện muộn hoặc kiểm soát kém sẽ gây ra các biến chứng
cấp và mạn tính, làm ảnh hưởng tới chất lượng sống của người bệnh.
Khi mà các quốc gia trên thế giới đang mải tập trung đối phó với dịch
cúm gà và căn bệnh HIV/AIDS, bệnh tiểu đường "ung dung" phá hủy ngầm.
"Nó thực sự đã lọt qua khỏi tầm kiểm soát", giáo sư Paul Zimmet, Giám đốc
Trung tâm nghiên cứu bệnh tiểu đường của WHO cho biết: "Tỷ lệ mắc bệnh tiểu
đường ở châu Á hiện nay đã vượt xa châu Âu, nơi vốn được xem là ổ bệnh.
Việt Nam không phải là nước có tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường cao,
nhưng là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh nhất thế giới. Đái tháo
đường phát hiện muộn trong cộng đồng cao, chiếm 64,5%. Thường khi phát
hiện khoảng 20% bệnh nhân đã có tổn thương thận, 8% có tổn thương võng
mạc, 9% có tổn thương thần kinh và 50% đã có bệnh tim mạch [8].


2

Xác định một số yếu tố liên quan đến công tác quản lý bệnh đái tháo
đường týp 2 tại Phòng khám Bệnh viện Chí Linh Hải Dương năm 2013.


3

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa, tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đƣờng
1.1.1.Định nghĩa bệnh đái tháo đường
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), thì đái tháo đường “Là một hội
chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc
thiếu/hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu
trong bài tiết và hoạt động của insulin”.
Ngày nay người ta cho rằng đái tháo đường là một rối loạn của hệ
thống nội tiết; bệnh có thuộc tính là tăng glucose máu. Mức độ tăng glucose
máu phụ thuộc vào sự mất toàn bộ hay một phần khả năng bài tiết hoặc khả
năng hoạt động của insulin hoặc cả hai.
Tháng 1 năm 2003, các chuyên gia thuộc “Ủy ban chẩn đoán và phân
loại bệnh đái tháo đường Hoa Kỳ” đã đưa ra một định nghĩa mới về đái tháo
đường “Đái tháo đường là một nhóm các bệnh chuyển hoá có đặc điểm là
tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin, khiếm khuyết
trong hoạt động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường
kết hợp với sự huỷ hoại, rối loạn chức năng và suy yếu chức năng của nhiều
cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [2], [10].
1.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường, được Hiệp hội đái
tháo đường Mỹ kiến nghị năm 1997 và được nhóm chuyên gia về bệnh đái
tháo đường của Tổ chức Y tế thế giới công nhận vào năm 1998, tuyên bố áp
dụng vào năm 1999, gồm 3 tiêu chí [2]:

bệnh Đái tháo đường týp 2 sau này.


5

- Các thể đặc biệt khác:
+ Thể MODY
+ Bệnh lý gen tổng hợp insulin
+ Bệnh lý tuỵ ngoại tiết: Viêm tuỵ, xơ tuỵ, sỏi tuỵ.
+ Bệnh lý nội tiết: Cushing, to đầu chi, cường giáp.
+ Thuốc hoặc hoá chất: thiazide, T3, T4.
+ Nhiễm trùng
+ Hội chứng đột biến gen: Down, Huntington… [12]
1.2. Biến chứng và phòng chống biến chứng bệnh đái tháo đƣờng
1.2.1. Biến chứng bệnh đái tháo đường
ĐTĐ gắn liền với các biến chứng nguy hiểm và là nguyên nhân hàng
đầu gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy thận giai đoạn cuối, mù lòa…
Các biến chứng này cùng với các stress về tâm lý không chỉ làm chất
lượng cuộc sống của người bệnh giảm đi mà còn làm hao tổn cả tuổi thọ. Do
đó, ĐTĐ được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.
Giống như ung thư hay HIV, những nguy hiểm mà bệnh tiểu đường gây
ra cho người bệnh không thể hiện rõ ràng và ngay lập tức mà mang tính chất
“âm ỉ”, đến khi thấy triệu chứng thì đã quá muộn. Thông thường, những hậu
quả khủng khiếp nhất mà người bị tiểu đường gặp phải đến trực tiếp từ những
biến chứng nguy hiểm mà căn bệnh này gây ra.
Đái tháo đường nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh
sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính. Bệnh
nhân có thể tử vong do các biến chứng này [6].
1.2.1.1. Biến chứng cấp tính
Biến chứng cấp tính thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm

tổ chức như cơ, xương và ở tất cả các tổ chức bị thiếu ôxy trầm trọng. Mặc dù
được điều trị tích cực, tỷ lệ tử vong rất cao (>50%).


7

- Hạ glucose huyết: là một trong những biến chứng cấp tính rất nguy
hiểm ở bệnh nhân ĐTĐ, có thể dẫn tới tử vong nhanh chóng nếu không được
phát hiện và điều trị kịp thời. Ở các bệnh nhân cao tuổi và có bệnh tim mạch
từ trước, biến chứng này có thể làm phức tạp thêm bệnh cảnh và góp phần
tăng tỷ lệ tử vong. Hạ đường huyết rất hay gặp ở bệnh nhân ĐTĐ và hầu hết
bệnh nhân ĐTĐ đều bị hạ đường huyết. Điều quan trọng là phải biết cách
phát hiện và xử trí, nếu không cấp cứu kịp thời, đúng phương pháp bệnh nhân
có thể tử vong hoặc bị tổn thương não không hồi phục.
Mức đường máu (glucose máu) bình thường khoảng 4,0 - 5,6 mnol/l.
Trong đa số các trường hợp các triệu chứng hạ đường huyết xảy ra khi đường
huyết thấp hơn 3mnol/l. Tuy nhiên, trong một số trường hợp các triệu chứng
có thể xảy ra ở mức đường máu cao hơn, hoặc ngược lại chỉ xuất hiện ở mức
đường máu thấp hơn nữa, thậm chí không có triệu chừng hạ đường huyết. Hạ
đường huyết có thể xảy ra do nhiều yếu tố tác động độc lập hoặc phối hợp với
nhau. Các nguyên nhân có thể dẫn đến hạ đường huyết gồm: quá liều thuốc
(đặc biệt là đối với Insulin), ăn muộn hoặc bỏ bữa, vận động quá mức....
1.2.1.2. Biến chứng mạn tính
Biến chứng mạn tính do ĐTĐ thường hay gặp, thậm chí các biến chứng
này có ngay tại thời điểm bệnh được phát hiện ở người mắc bệnh ĐTĐ týp 2.
Đây là nguyên nhân không chỉ làm tăng gánh nặng kinh tế của mỗi cá nhân,
của cộng đồng, mà còn là lý do chủ yếu làm giảm chất lượng cuộc sống của
người mắc bệnh ĐTĐ.
* Biến chứng thận do đái tháo đường
Biến chứng thận do ĐTĐ là một trong những biến chứng mạn tính hay

Đái tháo đường là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh lý tim mạch, đặc
biệt là bệnh mạch vành. Người bị ĐTĐ có nguy cơ tử vong vì bệnh tim mạch
cao gấp 3-4 lần, nguy cơ bị suy tim sung huyết cao gấp 3 lần so với người
không bị ĐTĐ.


9

Người bị ĐTĐ thường bị nhồi máu cơ tim cấp, sau nhồi máu thường xuất
hiện suy tim sung huyết nặng, góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong sau nhồi máu.
Bệnh ĐTĐ làm tăng nguy cơ bị bệnh mạch vành gấp 2 lần ở nam và
gấp 3 lần ở nữ so với người không bị ĐTĐ. Mức độ tổn thương động mạch
vành ở bệnh nhân ĐTĐ nặng hơn, lan rộng và đa dạng hơn nhiều so với người
không bị ĐTĐ [12].
* Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường
Bệnh lý bàn chân là một biến chứng mạn tính thường gặp ở bệnh nhân
ĐTĐ. Đây là một trong những biến chứng nặng mà hậu quả là loét bàn chân
khiến bệnh nhân phải vào viện điều trị.
Ở Mỹ, hàng năm có tới 50.000 trường hợp cắt cụt chi dưới ở bệnh nhân
ĐTĐ, trong đó 24% cắt cụt ngón chân, 6% cắt cụt nửa bàn chân, 30% cắt cụt
dưới gối, 21% cắt cụt 1/3 dưới đùi.
Một thống kê 3 năm cho thấy tỷ lệ bệnh lý bàn chân ở người bệnh ĐTĐ
tại Hà Nội là 7,6%.
Mặc dù có nhiều tiến bộ trong phương pháp điều trị cũng như các biện
pháp phòng ngừa tích cực, nhưng vẫn có khoảng 10-15% số bệnh nhân ĐTĐ
phải cắt cụt chi trong suốt cuộc đời họ [12].
* Viêm da dây thần kinh do đái tháo đường
Viêm da dây thần kinh do ĐTĐ là một biến chứng muộn thường gặp.
Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng và tiềm ẩn nên ít được chú ý khám xét để chẩn
đoán, do đó điều trị thường muộn [12].

da của người không bị ĐTĐ.
Hội chứng bàn tay ĐTĐ: thường gặp ở trẻ em và người bị ĐTĐ, kèm
theo hạn chế vận động các khớp.
- Xơ cứng bì: là biến chứng gặp, da cứng lại không bấu lên được, mất độ
mềm của da. Thường gặp ở da sau gáy, phần bả vai hai bên, phần lưng trên.
- Loét chân.


11

- Nhiễm trùng da, nhiễm nấm da,…
* Bệnh lý thần kinh tự chủ do đái tháo đường
Hay gặp ở cả hai thể ĐTĐ (týp 1 và týp 2). Tỷ lệ mắc bệnh thần kinh tự
chủ tăng lên theo thời gian bị bệnh ĐTĐ và theo nồng độ glucose máu.
* Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân đái tháo đường
Nhiễm khuẩn là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, chiếm 50 –
60% và luôn là nguy cơ cao đe doạ cuộc sống người bệnh.
Nhiễm khuẩn tiết niệu, lao, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm nấm candida,
nhiễm khuẩn phổi do vi khuẩn đều không phải là các nhiễm khuẩn đặc biệt
cho bệnh ĐTĐ nhưng luôn xảy ra với tần suất cao ở người bệnh ĐTĐ.
* Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường
Rối loạn lipid máu phần lớn là nguyên nhân di truyền, tuy nhiên, các
yếu tố môi trường nhất là dinh dưỡng cũng làm ảnh hưởng đến rối loạn
chuyển hoá lipid máu.
* Tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường
Tăng HA ở bệnh nhân ĐTĐ rất thường gặp là yếu tố làm tăng mức độ
nặng của bệnh ĐTĐ. Tăng HA ở bệnh nhân ĐTĐ làm tăng nguy cơ bị bệnh tim
mạch, bệnh mạch vành và đột quỵ gấp 2-3 lần so với ở người không bị ĐTĐ.
1.2.2. Phòng chống biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường
Nội dung phòng bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) bao gồm nhiều vấn đề:

1.3. Điều trị và quản lý điều trị bệnh đái tháo đƣờng
1.3.1. Điều trị đúng – phương pháp dự phòng tích cực nhất cho bệnh nhân
đái tháo đường týp 2
1.3.1.1. Chế độ ăn, uống
- Chế độ ăn phải đạt được mục đích duy trì cân nặng lý tưởng; bệnh
nhân thừa cân, béo phì cần phải giảm cân.


13

- Một chế độ ăn thích hợp phải đáp ứng được các yêu cầu:
+ Đủ calo cho hoạt động sống bình thường
+ Tỷ lệ thành phần đạm, mỡ, đường cân đối
+ Đủ vi chất
+ Chia bữa ăn phù hợp
- Phối hợp với thuốc điều trị (nếu có) [1].
1.3.1.2. Chế độ luyện tập
- Phải coi luyện tập là một biện pháp điều trị, phải thực hiện nghiêm túc
theo trình tự được hướng dẫn.
- Luyện tập phải phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ và sở thích
cá nhân.
- Nên tập những môn rèn luyện sự dẻo dai bền bỉ hơn là những môn
cần sử dụng nhiều cơ lực [3].
1.3.1.3. Thuốc điều trị trong đái tháo đường týp 2
- Dùng thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và luyện tập.
- Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn pilid,
duy trì HA hợp lý, chống rối loạn đông máu.
- Khi cần thiết phải dùng insulin [1].
1.3.2. Quản lý điều trị người bệnh đái tháo đường týp 2
Theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (American Diabetes Association ADA)

Chỉ số

Giá trị bình thường

HbA1C

4- 6%


người bệnh, nhằm giảm thiểu nguy cơ cho người bệnh [17].
1.4. Lịch theo dõi và các chỉ tiêu cần đánh giá của ngƣời bệnh đái tháo đƣờng
1.4.1. Theo dõi thường quy
- Theo dõi định kỳ về sinh hoá để điều chỉnh các chỉ số glucose, lipid,
đông máu cho người bệnh ĐTĐ.
+ Glucose máu lúc đói: lúc đầu 1tháng/1lần, khi đã ổn định có thể 3
tháng/1 lần.
+ Creatinin, urê máu: thường cùng làm với glucose máu lúc đói.
+ Các thăm dò chức năng gan nên được tiến hành trước, trong và sau
một thời gian sử dụng một loại thuốc mới.
+ HbA1C: là chỉ số đánh giá kết quả quản lý lượng glucose máu trung
thành nhất. Buộc phải làm 3 tháng/1 lần, nếu không có điều kiện thì 6
tháng/1lần. Những cơ sở chưa có HbA1C có thể thay bằng theo dõi lượng
glucose máu. Trong trường hợp này, glucose máu lúc đói phải luôn ≤ 6 mmol/l.
+ Microalbumin niệu: phải được thăm dò ngay khi mới phát hiện bệnh
ĐTĐ. Sau đó hàng năm phải được kiểm tra tuỳ theo chỉ định của thầy thuốc.


16

+ Độ ngưng tập tiểu cầu: được theo dõi khi có chỉ định dùng các thuốc
như aspirin và các thuốc chống đông máu khác, thường 3 tháng/1lần.
+ Các chỉ số về lipid máu: 3 – 6 tháng/1lần. Trường hợp đặc biệt chỉ
định theo tình trạng của người bệnh và nhu cầu điều trị.
- Đánh giá hệ thống hormon đối lập: thường 1năm/1lần.
- Những thăm khám định kỳ khác:
+ Khám bàn chân: Khám lần đầu, sau đó 3-6 tháng/1lần.
+ Khám đáy mắt: Khám lâm sàng 6tháng/1lần với người phát hiện
bệnh

năm 1995 (triệu người)

năm 2025 (triệu người)

Ấn Độ

19,4

57,2

Trung Quốc

16,0

37,6

Mỹ

13,9

21,9

Nga

8,9

12,2

Nhật Bản


3,6

8,8

Tên nước

Theo Manjula S. (2007), khu vực Đông Nam Á có hơn 45 triệu người
mắc bệnh ĐTĐ. Hơn 95% số này là ĐTĐ týp 2, chiếm 20 % tổng tỷ lệ mới
mắc trên toàn thế giới. Ấn Độ có số người mắc bệnh ĐTĐ cao nhất thế giới
(hơn 40 triệu người) [53].
Cortez – Dias N và cộng sự (2010) nghiên cứu trên 16.856 người có
tuổi trung bình là 58,1 ±15,1, 61,6% là nữ giới, với 3.215 người mắc bệnh


18

ĐTĐ. Kết quả cho thấy trong nhóm người bệnh ĐTĐ, 90,2% được điều trị
bằng các thuốc hạ đường huyết và 51,7% có nồng độ HbA1C
dùng thuốc giảm huyết áp không hợp lý là yếu tố liên quan đến tăng huyết áp
ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 người dân tộc Malaysia.
Umegaki H và cộng sự nghiên cứu yếu tố nguy cơ liên quan đến giảm
nhận thức ở người già Nhật Bản đái tháo đường týp 2 cho thấy bệnh nhân mắc
thêm bệnh thận, tăng huyết áp, tăng triglycerid máu liên quan đến giảm nhận
thức ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 ở Nhật [68].
1.5.2. Tình hình quản lý bệnh đái tháo đường tại Việt Nam
Năm 2010, Việt Nam có 5 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, trong đó có đến
65% người bệnh không hề biết mình mắc bệnh. Với tỉ lệ bệnh nhân tăng từ 8 10% /năm, Việt Nam trở thành nước có tỉ lệ gia tăng ĐTĐ nhanh nhất thế giới.
Theo Hoàng Kim Ước, hiện chưa có thuốc chữa khỏi bệnh ĐTĐ, nhưng
bệnh có thể điều trị và kiểm soát được. Để quản lý bệnh ĐTĐ, trước tiên cần
đưa được đường huyết của người bệnh trở về mức bình thường hoặc gần bình


20

thường thông qua các liệu pháp phối hợp giữa dinh dưỡng, thuốc hạ đường
huyết, và hoạt động thể lực. Cùng với kiểm soát đường huyết, người bệnh cần
được kiểm soát tốt tình trạng rối loạn mỡ máu, tăng HA, tình trạng đông máu,
bỏ thuốc lá và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác (nếu có). Những điểm mấu
chốt trong quản lý bệnh là người bệnh phải lập được kế hoạch bữa ăn phù hợp
(với sự tư vấn của các chuyên gia dinh dưỡng) và thực hiện. Tập thể dục đều
đặn, sử dụng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Chú ý cách dùng thuốc và thời
gian dùng thuốc, biết cách tự theo dõi và quản lý bệnh, kiểm tra định kỳ tại
các cơ sở y tế. Bác sĩ cần động viên người bệnh rằng những điều người bệnh
thực hiện ở nhà hàng ngày có ảnh hưởng đến đường máu của họ nhiều hơn là
điều bác sĩ có thể làm được cho họ khi họ đến khám định kỳ [17].
Theo Nguyễn Vinh Quang và cộng sự (2006), việc quản lý và điều trị
bệnh ĐTĐ ở Nam Định và Thái Bình trong năm 2003 chưa tốt, kiểm soát
đường huyết còn rất kém (65,06% kiểm soát kém đường huyết khi đói,

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
+ Toàn bộ bệnh nhân ĐTĐ týp 2 đang được quản lý, điều trị ngoại trú
tại Phòng khám Bệnh viện Chí Linh trong thời gian nghiên cứu.
+ Cán bộ quản lý chung công tác khám và điều trị bệnh ĐTĐ tại Phòng
khám Bệnh viện Chí Linh.
+ Người trực tiếp khám, điều trị và quản lý bệnh nhân ĐTĐ týp 2 tại
Phòng khám Bệnh viện Chí Linh.
*Tiêu chuẩn loại trừ
+ Những bệnh nhân ĐTĐ từ chối tham gia nghiên cứu.
+ Những bệnh nhân ĐTĐ già yếu, không có khả năng nghe và nói.
2.1.2. Địa điểm tiến hành nghiên cứu:
Tại Phòng khám Bệnh viện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
2.1.3. Thời gian tiến hành nghiên cứu:
Từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 10 năm 2013.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp giữa định lượng và định tính.
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
- Đối với nghiên cứu định lƣợng:
+ Cỡ mẫu: Nghiên cứu định lượng tiến hành trên toàn bộ bệnh nhân
ĐTĐ týp 2 đang được điều trị ngoại trú tại Phòng khám bệnh viện Chí Linh
và bệnh án ngoại trú của họ trong thời gian từ tháng 12 năm 2012 đến tháng
10 năm 2013.


23


- Xây dựng và thử nghiệm bộ câu hỏi: Phiếu thu thập thông tin người
bệnh (nghiên cứu định lượng) và bộ Hướng dẫn phỏng vấn sâu (nghiên cứu
định tính) được soạn thảo và soạn thảo riêng cho các đối tượng nghiên cứu.
Bộ công cụ được thử nghiệm, chỉnh sửa và hoàn thiện dựa trên kết quả của
thử nghiệm và ý kiến đóng góp của giáo viên hướng dẫn.
* Thu thập số liệu qua Phiếu thu thập thông tin bệnh nhân
- Nghiên cứu viên báo cáo và xin ý kiến cuả lãnh đạo Bệnh viện Chí
Linh, được sử dụng bệnh án ngoại trú của bệnh nhân.
- Phiếu thu thập thông tin sẽ được kiểm tra tính đầy đủ và logic ngay
sau khi thu thập. Nếu phiếu nào thiếu thông tin hoặc thông tin không hợp lý
sẽ được thu thập lại.
- Vào sáng thứ 5 hàng tuần (ngày dành riêng để khám bệnh ĐTĐ),
nghiên cứu viên sẽ trực tiếp phỏng vấn bệnh nhân theo câu hỏi thiết kế sẵn
trong phiếu thu thập tại Phòng khám theo hẹn. Các thông tin sẽ được thu thập
thêm tại gia đình bệnh nhân (nếu cần).
* Thu thập số liệu qua bộ Hướng dẫn phỏng vấn sâu người quản lý chung và
người trực tiếp khám và điều trị bệnh nhân.
- Học viên trực tiếp phỏng vấn:
+ Phó giám đốc bệnh viện- kiêm Trưởng phòng KHNV phụ trách công
tác khám chữa bệnh ngoại trú.
+ Bác sỹ-Trưởng phòng khám bệnh
+ Bác sỹ trực tiếp khám và điều trị
+ Điều dưỡng viên- người trực tiếp theo dõi, ghi chép hồ sơ bệnh án
ngoại trú của bệnh nhân ĐTĐ.
- Các cuộc phỏng vấn được xin phép ghi âm.


25

* Thu thập số liệu qua Thảo luận nhóm:

Phân bố bệnh nhân đái tháo đường theo tuổi và
giới

Bệnh án,
Ghi chép

Phân bố bệnh nhân đái tháo đường theo nghề
nghiệp

Bệnh án,
Ghi chép

Phân bố bệnh nhân đái tháo đường theo trình độ Bệnh án,
học vấn
Ghi chép
Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường theo kinh tế hộ
gia đình và tình trạng sống (14)

Phỏng vấn,
Ghi chép

Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường được quản lý tốt Bệnh án,
Ghi chép
Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường được quản lý tốt Bệnh án,
theo giới
Ghi chép
Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường theo nhóm tuổi Bệnh án,
và thời gian mắc bệnh
Ghi chép


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status