Hoi dap ve phuong phap day tieng Viet - Pdf 56

Hoµng D©n
Hái - §¸p vÒ kiÕn thøc
vµ ph¬ng ph¸p d¹y häc TiÕng ViÖt THCS
Hµ Néi, 2008
1
Lời v ào sác h
Sau một vòng thực hiện việc dạy học theo nội dung, chơng trình SGK Ngữ văn THCS mới,
chúng tôi nhận đợc nhiều ý kiến trao đổi của các bạn giáo viên THCS và sinh viên ở các trờng
CĐSP trong cả nớc. Các ý kiến trao đổi thờng tập trung vào một số đơn vị kiến thức mới và phơng
pháp tổ chức dạy học các đơn vị kiến thức ấy.
Trớc hết, chúng ta cần phải chú ý đến quan điểm tích hợp thể hiện trong việc thiết kế các
đơn vị bài học ở SGK Ngữ văn THCS, đây là một trong những cơ sở quan trọng để lí giải một số
hiện tợng nhập nhằng giữa các đơn vị kiến thức thuộc phần Tiếng Việt và giữa Tiếng Việt với
Tập làm văn (cụm bài về Bố cục, mạch lạc và liên kết văn bản chẳng hạn).
Sau đó, chúng ta cần bám sát vào mục Ghi nhớ để lần lợt giải đáp từng vấn đề cụ thể ở mỗi
bài học và tránh mở rộng quá mức cần thiết vì việc này dễ dẫn đến tình trạng khó hoá những
đơn vị kiến thức vốn đợc trình bày rất đơn giản trong SGK.
Cuốn sách của chúng tôi tập hợp 60 câu hỏi về dạy học Tiếng Việt, trong đó có những câu
hỏi về kiến thức, có những câu hỏi về phơng pháp và có cả những câu hỏi vừa yêu cầu lí giải về
kiến thức vừa yêu cầu định hớng cách dạy kiến thức ấy. Sẽ có bạn băn khoăn về cách trình bày
này, bởi hình nh lại có sự nhập nhằng giữa kiến thức và phơng pháp? Nhng, tha các bạn, nh ng-
ời ta thờng nói: Trớc hết là tri thức, sau đó mới là phơng pháp. Không có phơng pháp tối u nào
thay thế cho sự dốt nát!. Không có một nền tảng tri thức cơ bản, hệ thống và vững chắc, thật khó
mà đủ sự tự tin khi triển khai các phơng pháp dạy học. Và vì vậy, có nhiều câu hỏi chúng ta còn
phải tiếp tục suy nghĩ thêm nữa thì mới mong giải đáp thấu đáo đợc. Tuy nhiên, sau một thời gian
lắng nghe, trao đổi và su tầm tài liệu, chúng tôi vẫn mạnh dạn công bố cuốn sách này với tinh
thần sai đâu sửa đấy, vừa sửa vừa hoàn thiện dần để sao cho nội dung cuốn sách ngày càng gần
với chân lí hơn.
Với cuốn sách nhỏ này, chúng tôi hi vọng sẽ giúp các bạn giáo viên THCS có thêm một tài
liệu tham khảo hữu ích. Song, nh đã nói, cuốn sách khó tránh khỏi những sai sót, nhầm lẫn hoặc
những kiến giải chủ quan. Rất mong nhận đợc sự góp ý của bạn đọc gần xa!

ớng dẫn cho HS:
- ý thức hoá quá trình sử dụng tiếng mẹ đẻ để nói, viết theo những chuẩn mực ngôn ngữ.
- Tận dụng vốn ngôn ngữ sẵn có để phát triển lời nói trong môi trờng giao tiếp mới (môi trờng giao
tiếp trớc khi đi học: gia đình, môi trờng giao tiếp khi bắt đầu đi học: nhà trờng và xã hội).
3. Đề nghị giải thích ngắn gọn về các thuật ngữ âm, con chữ, chữ, tiếng, từ.
Đáp:
I. Âm là gì?
Âm là cách gọi tắt của thuật ngữ âm vị. Âm vị là đơn vị âm thanh nhỏ nhất của ngôn ngữ,
không thể chia cắt đợc nữa. Chúng đợc biểu thị bằng các kí hiệu ghi âm quốc tế.
Ví dụ: /a/, /u/, /t/, /n/, /d/, /h/...
* Lu ý:
Hệ thống âm vị tiếng Việt lại đợc chia thành:
1. Âm vị nguyên âm (gọi tắt là nguyên âm). Nguyên âm lại bao gồm nguyên âm đơn và
nguyên âm đôi.
2. Âm vị phụ âm (gọi tắt là phụ âm)
3. Âm vị bán âm (gọi tắt là bán âm)
II. Con chữ là gì?
Con chữ là các kí hiệu (các chữ cái) dùng để ghi âm vị. Lẽ ra cứ tơng ứng với một âm vị là
một con chữ thì vấn đề chính tả sẽ khá đơn giản, nhng vì có một số âm vị đợc ghi bằng nhiều con
chữ khác nhau hoặc phải dùng một tổ hợp con chữ mới ghi đợc một âm vị nên chúng ta phải chú ý
phân biệt âm và con chữ.
Ví dụ:
3
1. Trờng hợp tơng ứng một âm một con chữ:
a. Các nguyên âm đơn:
/ e/ ghi là ê; /u/ ghi là u; /o/ ghi là ô; /a/ ghi là a; /ă/ ghi là ă...
b. Các phụ âm:
/m/ ghi là m; /n/ ghi là n; /t/ ghi là t; /h/ ghi là h; /z / ghi là r...
2. Trờng hợp không tơng ứng một âm một con chữ:
a. Các nguyên âm đơn:

a. Các nguyên âm đôi:
+ / /:
- Viết là iê: miền, tiếm, chiên, kiêng, niên, khiếp, việt, điển...
- Viết là ia: chia, mía, địa, thìa, tía, nia...
- Viết là yê: tuyết, luyến, khuyết, quyên...
- Viết là ya: khuya, đuya-ra, xanh-tuya-rông, phéc-mơ-tuya...
+ / /:
- Viết là uô: muốn, chuồn, tuôn, chuột, vuông, ruộng, thuổng, cuốc...
- Viết là ua: mua, chúa, của, thua, tua, vua, đua...
+ / /:
- Viết là ơ: mợn, cớp, tơm, vợt, nờm nợp...
- Viết là a: ma, chứa, xa, ca...
b. Các phụ âm:
+ /k/:
4
- Viết là c: ca, cốc, cử, cất, cớp, cong, cũ, cờ...
- Viết là k: kính, kiến, kẻ, kệ, kiếm, kèn, kết...
- Viết là q: quả, quanh, quang, quất, quở, quạch...
+ / /:
- Viết là g: gà, gò, gợng, gật, gù, gừ, gỗ...
- Viết là gh: ghi, ghét, ghế, ghiền, ghì, ghìm...
+ / /:
- Viết là ng: nga, ngố, ngó, ngu, ngơ, ngất, ngợng, nguồn...
- Viết là ngh: nghèo, nghỉ, nghe, nghển, nghiệp, nghịch...
+ /z /: ghi bằng con chữ r: rạo rực, rối rít, rung rinh, rào rào...
+ /z/:
- Viết là d: dào dạt, dí dỏm, da dẻ, dành (cho em), dữ dội, dăng (hàng)...
- Viết là gi: giữ gìn, gian giảo, gia giảm, giành giật, giăng (trăng)...
* Các trờng hợp không bắt lỗi chính tả:
dòng sông giòng sông, dòng kẻ giòng kẻ, dậm nhảy giậm nhảy, dông tố giông tố,

* Lu ý:
Nếu âm là cách gọi tắt của thuật ngữ âm vị thì tiếng là cách gọi tắt của thuật ngữ âm tiết
(âm = âm vị, tiếng = âm tiết), do đó cũng có thể nói câu trên có 9 âm tiết.
IV. Chữ là gì?
Chữ là hình thức văn tự của tiếng. Nói cách khác, mỗi tiếng đợc ghi bằng một chữ.
5
Ví dụ:
- Chữ nhẫn nh tiếng chuông vàng
Ngời mà càng nhẫn thì càng sống lâu
(Ca dao)
- Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!
- Chữ tài liền với chữ tai một vần!
(Nguyễn Du)
- Em chỉ cầu mong cho anh hai chữ bình yên!
- Xin bác đánh cho hai chữ đại xá!
* Lu ý:
- Mỗi tiếng đợc cố định hóa trên văn bản thành một chữ
- Mỗi chữ trên văn bản khi đợc đọc lên sẽ tạo thành một tiếng
V. Từ là gì?
Hiểu một cách thật đơn giản thì:
1. Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ (giống nh đồng là đơn vị cơ bản của tiền tệ), ngời ta có thể
tập hợp các đơn vị từ vào những cuốn từ điển lớn nhỏ khác nhau (một nghìn từ, ba nghìn từ, một
vạn từ, ba vạn từ...).
2. Từ là đơn vị trực tiếp tạo nên cụm từ và câu (âm, tiếng không có chức năng này).
3. Từ có thể do một tiếng hoặc hai tiếng trở lên tạo thành.
4. Từ gồm:
- Một thành phần ngữ âm nhất định (khi đọc lên thì phát thành các tiếng).
- Một thành phần ngữ pháp nhất định (khi nghe có thể nhận ra đợc là từ đơn hay từ phức,
khi cố định hóa trên văn bản thành chữ cũng có thể nhận diện đợc là từ đơn hay từ phức)
- Một thành phần ngữ nghĩa nhất định (thành phần này chỉ ra mối liên hệ giữa từ với các sự

hình thái), do đó việc phân biệt tiếng và hình vị là không thể thực hiện đợc. Có ngời cho rằng,
trong tiếng Việt có hiện tợng 1 đơn vị 3 chức năng (một thể ba ngôi), tức là hiện tợng tiếng
trùng với hình vị và từ đơn, ví dụ: nhà vừa là tiếng, vừa là hình vị và cũng là từ, khi ta nói:
- Tiếng nhà có thể ghép với tiếng nào để tạo thành từ ghép?
- Trong từ ghép nhà cửa có hai hình vị gốc là nhà và cửa.
- Các từ đơn nh: nhà, bàn, đi, chạy, xanh, đỏ...
Nói nh vậy để thấy rằng, lấy tiếng làm đơn vị để phân loại cấu tạo từ là một Giải pháp
s phạm trong việc dạy học tiếng Việt ở nhà trờng phổ thông hiện nay.
4. Hiện nay chơng trình, SGK tiếng Việt THCS chọn đơn vị nào làm căn cứ để phân loại từ
theo cấu tạo? Ưu điểm và nhợc điểm của việc lựa chọn đơn vị ấy? Nêu những vấn đề cần lu ý khi
dạy phân loại từ theo cấu tạo ở THCS.
Đáp:
Hiện nay chơng trình, SGK tiếng Việt THCS căn cứ vào đơn vị tiếng để phân loại từ theo
cấu tạo.
I. Ưu điểm và nhợc điểm:
1. Ưu điểm:
- Phù hợp với đặc điểm đơn lập của tiếng Việt.
- Phù hợp với khả năng nhận biết, ghi nhớ, viết chính tả của ngời bản ngữ.
- Phù hợp với đặc điểm t duy cụ thể của HS THCS.
2. Nhợc điểm:
- Gây khó khăn trong việc phân loại một số từ nh: từ vay mợn tiếng ấn-Âu (ra-đi-ô, pê-ni-xê-lin,
ma-két-tinh), từ ghép ngẫu kết (mặc cả, bồ hóng, bù nhìn, bồ kết, tắc kè, ễnh ơng), từ láy giả
(ba ba, chuồn chuồn, thuồng luồng, cào cào)
II. Những vấn đề cần lu ý:
1. Không đa các từ ghép ngẫu kết và từ vay mợn làm ngữ liệu để hình thành khái niệm khi dạy
học. Ví dụ: bồ kết, bồ hóng, bù nhìn, mặc cả, tắc kè, ễnh ơng, mắc cọt, ác là, chão chuộc, chèo
bẻo, bồ các, mồ hôi, a-pa-tít, pô-pơ-lin, in-tơ-nét, ma-két-tinh, ra-đi-ô
2. Nếu các tiếng trong từ vừa có quan hệ về âm, vừa có quan hệ về nghĩa thì u tiên nghĩa, gọi là từ
ghép. Ví dụ: đi đứng, tơi tốt, buôn bán, mặt mũi, hốt hoảng, nhỏ nhẹ, học hỏi, hoa hồng, cá cơm,
cá cảnh, đền đài, đất đai, ruộng rẫy, chùa chiền

trong việc rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh. Ví dụ:
- Phơng ngữ Bắc Bộ: không phân biệt các cặp phụ âm đầu s/x, ch/tr, r/d/gi hoặc ngọng l/n
- Phơng ngữ Nghệ Tĩnh: không phân biệt thanh điệu hỏi/ngã
- Phơng ngữ Nam Bộ: không phân biệt cặp phụ âm đầu v/d hoặc các cặp phụ âm cuối n/ng, c/t...
+ Biện pháp khắc phục: Luyện phát âm các từ lệch chuẩn trong câu, thờng xuyên luyện tập bằng
nhiều hình thức, vai trò làm mẫu của GV, rèn HS viết đúng chuẩn chính tả và những kinh nghiệm
riêng của GV
7. Tại sao trong tiếng Việt có nhiều hiện tợng nhập nhằng nh vậy? Nêu cách khắc phục
hiện tợng ấy?
Đáp:
Trớc hết cần phải nói rằng, hiện tợng lỡng khả (nhập nhằng: vừa là A, vừa là B hoặc khi là
A, khi là B) là một trong những nhân tố làm nên vẻ đẹp của ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói
riêng. Tuy nhiên, đối với học sinh phổ thông (tiểu học và THCS) thì hiện tợng này có gây ra những
khó khăn trở ngại nhất định. Chẳng hạn việc phân biệt giữa từ đơn đích thực với từ đơn đa âm, giữa
từ láy đích thực với từ láy giả, giữa từ láy với từ ghép, giữa từ ghép với cụm từ tự do, giữa thực từ
(danh từ, động từ, tính từ) với các h từ (trợ từ, thán từ, tình thái từ), giữa thành phần chính với các
thành phần phụ, thành phần biệt lập của câu không phải bao giờ cũng tờng minh theo kiểu hai
năm rõ mời; do đó SGK Ngữ văn luôn nhắc nhở chúng ta là phải dựa vào văn cảnh và hoàn cảnh
giao tiếp để xử lí thoả đáng các hiện tợng đó. Nói xử lí thoả đáng tức là muốn nói đến một giải
pháp s phạm vận dụng trong một tiết học, bài học, lớp học, bậc học cụ thể; giải pháp s phạm ấy
có thể tạm thời vi phạm nguyên tắc khoa học, nhng trớc mắt, nó lách qua tính hàn lâm rắc rối
để đạt tới sự giản dị, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của lứa tuổi học sinh. Ví dụ: các từ ba ba, cào
cào, chuồn chuồn, chôm chôm, thuồng luồng vốn không phải là từ láy, thậm chí nó rất xa lạ với
từ láy (thực chất nó chỉ là những từ định danh nh: nhà, xe, biển, trời, tàu, thuyền); nhng giải
pháp s phạm cho phép coi chúng là từ láy, sau này học cao lên, học sinh sẽ hiểu bản chất của vấn
đề. Hoặc các tổ hợp tổ ong, tai voi, vi tính đợc coi là từ ghép thì cũng phải thừa nhận các
tổ hợp than tổ ong, quạt tai voi, máy vi tính là từ ghép thôi! Nếu bắt bẻ tổ ong chỉ là cụm từ,
trong đó tổ là danh từ trung tâm, còn ong là định ngữ (giống nh: tổ kiến, tổ chim, tổ mối) thì
chúng ta sẽ đẩy học sinh vào một cái mê hồn trận hàn lâm bế tắc tuyệt đối! Hoặc câu Khi mặt
trời lặn, chúng tôi lên đờng, chúng ta thừa nhận đây là câu đơn có trạng ngữ nh sau:

Từ trong tiếng Việt không biến đổi về hình thức ngữ âm (dù chúng nằm trong từ điển, trong
cụm từ, trong câu, trong đoạn văn, trong văn bản; hay giữ chức vụ ngữ pháp gì trong câu), tức là
bất biến về hình thái; do đó muốn phân biệt tiếng với từ đơn bắt buộc phải dựa vào ngữ
cảnh. Ví dụ, khi ta nói:
- Ghép tiếng bàn với tiếng ghế, ta có từ ghép bàn ghế/Nghĩa của từ ghép bàn ghế khái
quát hơn nghĩa của hai tiếng bàn và ghế khi chúng độc lập tạo từ/Về từ loại, bàn ghế là danh
từ
- Từ bàn có nghĩa là: sự vật nhân tạo, làm bằng nguyên liệu rắn, có mặt phẳng cách mặt nền
bằng độ cao của chân (bốn chân, hai chân, một chân), dùng để đặt đồ đạc, viết lách, tiếp
khách/Về cấu tạo, bàn là từ đơn/Về từ loại, bàn là danh từ
- Từ ghế có nghĩa là: sự vật nhân tạo, làm bằng nguyên liệu rắn, có mặt phẳng cách mặt nền
bằng độ cao của chân (bốn chân, hai chân, một chân), có hoặc không có tựa lng và tay ngai, dùng
để ngồi/Về cấu tạo, ghế là từ đơn/Về từ loại, ghế là danh từ (Xem thêm câu 9).
* Có tác giả cho rằng trong tiếng Việt có 3 phơng thức cấu tạo từ là:
(1) Phơng thức từ hoá hình vị: Tác động vào một hình vị để biến nó thành một từ mà không cần
phải thêm bớt gì vào hình thức ngữ âm của nó, đó là các từ đơn. Ví dụ: nhà, bàn, đi, xanh
(2) Phơng thức ghép hình vị: Tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị, làm cho chúng kết hợp với
nhau và mang đầy đủ những đặc điểm về ý nghĩa và ngữ pháp của một từ, đó là các từ ghép. Ví dụ:
nhà cửa, quần áo, xe đạp, máy khâu, thuốc ho
(3) Phơng thức láy hình vị: Tác động vào một hình vị gốc, làm cho hình vị đó sản sinh một hoặc
hơn một hình vị láy (giống hình vị gốc toàn bộ hoặc bộ phận), cả hình vị gốc và hình vị láy tạo
thành một chỉnh thể mang đầy đủ những đặc điểm về ý nghĩa và ngữ pháp của một từ, đó là các từ
láy. Ví dụ: xanh xanh, đẹp đẽ, lạnh lùng
(Xem Đỗ Hữu Châu: Từ vựng Ngữ nghĩa tiếng Việt.
NXB GD HN, 1981)
Nh vậy, nếu coi tiếng = hình vị, ta có hai bậc đơn vị ngôn ngữ là:
a. Bậc 1: tiếng (hình vị) là đơn vị gốc để cấu tạo nên từ đơn, từ ghép, từ láy.
b. Bậc 2: từ, trong đó:
9
- Từ đơn là sản phẩm của phơng thức từ hoá hình vị.

mang tính tổng kết nh sau: Cho đến nay, gần nh cha có một tiêu chí nào để có thể giúp phân biệt
đợc từ Hán Việt với từ thuần Việt, trừ khi chỉ nói chung chung từ Hán Việt là từ mợn của tiếng
Hán . Tác giả còn khẳng định: Nói chung, đối với những ngời không có một chút hiểu biết gì về
chữ Hán mà yêu cầu họ chỉ ra từ nào là từ Hán Việt là một việc rất khó. Tác giả bài viết này đã
tạm tổng hợp các ý kiến từ trớc tới nay về một số mặt biểu hiện dới đây của từ Hán Việt trong Việt
ngữ nhằm giúp giáo viên và học sinh nhận biết đợc đâu là từ Hán Việt trong chuỗi lời nói:
- Về ý nghĩa, từ Hán Việt là những từ thờng phải đợc giải nghĩa thì mới hiểu đợc thấu đáo. Ví dụ:
đồng bào (cùng một bọc) với ý nghĩa chỉ những ngời có quan hệ ruột thịt.
- Về mặt cấu tạo từ, trong danh từ Hán Việt thì yếu tố phụ đứng trớc yếu tố chính (ngợc với trật tự
cấu tạo từ tiếng Việt). Ví dụ: mĩ nhân (ngời đẹp).
- Về phơng diện ngữ cảm, các từ Hán Việt thờng có sắc thái trang trọng, tao nhã. Ví dụ: phụ nữ,
phu nhân, phụ tử...
Thật ra, hai trong ba tiêu chí nêu trên thuộc về nội dung ngữ nghĩa của từ; còn tiêu chí cấu
tạo từ chỉ áp dụng đợc cho danh từ mà không áp dụng đợc cho động từ kiểu nh ái quốc, thất
tình.... Các tiêu chí trên chỉ có thể phát huy đợc hiệu lực khi học sinh đã đạt đến một trình độ học
vấn nhất định. Đối với học sinh THCS, t duy của các em chủ yếu còn ở trình độ trực quan, cảm
tính. Vì vậy tiêu chí đa ra để nhận diện từ Hán Việt càng cụ thể, càng rõ ràng về hình thức, càng có
tính trực quan thì càng tốt, càng hữu hiệu.
10
...
Để giúp học sinh nhận diện và phân biệt đợc các tiếng Hán Việt nói chung, từ đơn Hán
Việt nói riêng với các tiếng và từ đơn thuần Việt, chúng tôi chủ trơng dựa vào đặc điểm cấu tạo âm
thanh (tức là các kết hợp âm có trong chúng).
Trên phơng diện lí thuyết sẽ có 3 khả năng sau đây:
Một là, các cấu tạo âm thanh chỉ có thể có trong tiếng Việt. Chúng là âm thuần Việt, chẳng
hạn các tiếng có âm đầu là r.
Hai là, các cấu tạo âm thanh chỉ có trong tiếng Hán. Chúng là âm Hán Việt, chẳng hạn các
tiếng có vần u.
Ba là, các cấu tạo âm thanh vừa có trong tiếng Việt vừa có trong tiếng Hán, chẳng hạn vần
anh.

- Thuần Việt: lầm, lấm, bầm, gấm...
Đối với trờng hợp các tiếng (hoặc từ đơn) có chứa những kết hợp âm có thể là Hán Việt
hoặc thuần Việt thì chúng ta dùng 3 tiêu chí đã đợc Lê Anh Hiền nêu ở trên để nhận diện. Ngoài
ra, chúng tôi xin bổ sung thêm một thủ pháp thực hành. Thủ pháp này đợc dựa trên qui tắc cấu tạo
từ đã đợc GS Nguyễn Tài Cẩn nêu: để cấu tạo từ, tiếng Việt thờng có xu hớng ghép các yếu tố có
cùng nguồn gốc với nhau (Hán + Hán, Việt + Việt). Cụ thể:
Một tiếng nếu đứng riêng một mình thì rất khó xác định là thuần Việt hay Hán Việt. Để
xác định ta thử tìm xem có từ ghép Hán Việt nào trong thành phần có chứa tiếng đó hay không.
Nếu tìm đợc thì tiếng đợc chứa trong từ ghép Hán Việt ấy cũng chính là từ Hán Việt.
11
Cơ sở để nhận biết một từ song tiết là từ ghép Hán Việt có thể nh sau:
- Trật tự yếu tố: yếu tố chính đứng sau yếu tố phụ (hải quân, không phận, chiến thuyền...)
- ý nghĩa của từ khái quát, trang trọng (so với từ thuần Việt nếu có). Ví dụ: để xác định tiếng
phận là Hán Việt hay thuần Việt (ân có cả trong Hán Việt lẫn thuần Việt), ta phải dùng qui tắc
cấu tạo từ. Khi tìm đợc các từ hải phận, không phận có trật tự cấu tạo phụ + chính thì ta kết
luận đây là từ Hán Việt.
(Lợc dẫn theo Nguyễn Đức Tồn:
Mấy vấn đề lí luận
và phơng pháp dạy học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trờng.
NXB ĐHQG HN. 2003)
Mẹo nhận diện từ Hán Việt qua một số vần quốc ngữ
(1) Từ Hán Việt không có vần ut, chỉ có vần c. Ví dụ: tức khắc, khu vực, cùng cực, chức vụ,
phức hợp, ý thức, tả thực, uy lực
(2) Từ Hán Việt không có vần ăt, chỉ có vần ăc. Ví dụ: nguyên tắc, phản trắc, nghi hoặc, tài
sắc, nghiêm khắc, bắc nam
(3) Từ Hán Việt không có các vần âc, ơt, t, chỉ có vần ât. Ví dụ: nhất trí, tất yếu, thực chất, bất
tài, tổn thất, cẩn mật, trật tự, bệnh tật
(4) Từ Hán Việt không có vần âng, chỉ có vần ân. Ví dụ: nhân dân, trần tục, thân tín, chân
thực, kiên nhẫn, thị trấn, trận mạc, thanh tân, gian lận
(5) Từ Hán Việt không có vần iêng, chỉ có vần iên. Ví dụ: biến hoá, tiến hoá, yên phận, kiên

Việt
Hán
Việt
kính gơng các gác cang gang can gan
hoạch vạch bổn vốn bản ván phá vỡ
12
lực sức long rồng thanh xanh đại đời
cận gần kí ghi quả goá kiếm gơm
phơng vuông phụ vợ chỉ giấy liên sen
triều trào lơng lành tiễn tên kiều cầu
khố kho pháp phép bảo báu lai lại
cảm cám ấn in chủng trồng ngoại ngoài
tự từ trà chè vụ mùa vũ múa
vãn muộn bi bia li lìa đình dừng

* Giải thích:
- Cột bên trái là từ Hán, đọc theo âm Hán Việt.
- Cột bên phải là cách đọc và cách sử dụng Việt hoá của ngời Việt.
- Ngoài ra, có những từ Hán du nhập vào nớc ta từ thời xa xa, nó đợc Việt hoá đến mức nhiều ng-
ời cứ yên trí nó là từ thuần Việt, ví dụ: mùi, buồng, buồm, cởi, chém, tìm, tết, bùa, tằm, đũa, đục,
đĩa, muôn, mũi, móc
(2) Từ Hán Việt: vay mợn chủ yếu của tiếng Hán ở đời Đờng (sau thế kỉ VIII), đợc phát âm và
dùng theo cách dùng của tiếng Việt.
Ví dụ: quốc gia, tổng thống, giám đốc, sứ giả, tráng sĩ, giang sơn, thế giới, nhân loại, quốc
gia, độc lập, tự do, hạnh phúc, phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng, sinh viên...
(3) Quá trình Việt hoá:
Quá trình Việt hoá từ gốc Hán diễn ra cực kì lâu dài và phức tạp bởi nó luôn gắn liền với
cuộc đấu tranh không khoan nhợng giữa âm mu đồng hoá của phong kiến phơng Bắc với việc
chống đồng hoá quyết liệt của cộng đồng ngời Việt. Cuộc giao lu hai ngôn ngữ Hán-Việt là cuộc
giao lu giữa cái bất biến (bản sắc dân tộc thể hiện qua tiếng nói) và cái khả biến (tiếp thu có

Trong 3 nghĩa trên, chỉ có 2 nghĩa đầu mợn của tiếng Hán, nghĩa 3 chỉ có trong tiếng Việt.
- Từ hạ có 8 nghĩa, khi vào tiếng Việt nó chỉ còn 3 nghĩa là: dới thấp, đem xuống (hạ cỗ), đánh
bại (hạ thành, hạ đội bóng đối phơng).

c. Tiếp theo nữa là cải tổ về mặt cấu trúc, tức là dùng các yếu tố gốc Hán để lắp ghép thành
những từ mới trong tiếng Việt.
+ Các từ ghép gồm 2 yếu tố gốc Hán chỉ có trong tiếng Việt:
trơng tuần, trởng bạ, đa nghi, huy động, thúc bách, sinh viên, học viên, y sĩ, phi công,
trung đội, phản biện, biến chuyển, thủ quĩ, hiệu phó, sản xuất, kham khổ, giám sát, giám khảo,
giám thị, thủ mu, thủ môn, thụ động, đầu thú, đầu độc, động não, độc đoán, mãn khoá, mãn
nguyện, mãn tang, võ biền, phẫu thuật, tha phơng, gia s
+ Các từ ghép gồm 1 yếu tố Hán và 1 yếu tố Việt:
a dua, tàu thuỷ, tàu hoả, ngỗ ngợc, kí gửi, hao mòn, ca hát, hiểm nghèo, thanh vắng, ca
ngợi, cớp đoạt, đói khổ, nhà giáo, thâm sâu, kẻ địch, ngời bệnh, kí tên, thông suốt, thủ vai, tài
giỏi, phụ giúp, đơn thuốc, cực nhọc, kẻ thù, thúc giục
Tóm lại, nh đã trình bày ở trên, hiện nay khái niệm từ gốc Hán đợc hiểu rộng hơn khái
niệm từ Hán Việt.
12. Nghĩa của từ là gì? Nó có những đặc điểm nào cần phải lu ý?
Đáp:
Đây là một vấn đề vừa lớn, vừa khó; vì vậy chúng tôi chỉ xin trình bày thật đơn giản và
giới hạn trong cách hiểu thuộc khuôn khổ của chơng trình phổ thông THCS mà thôi.
Nghĩa của từ là nội dung chứa đựng trong một hình thức âm thanh nhất định. Ví dụ, hình
thức âm thanh cây chứa nội dung là một loại thực vật có thân, rễ, cành, lá, rõ rệt. Tơng tự nh
thế, nhà là công trình kiến trúc dùng để ở, đi là hoạt động rời chỗ bằng chân
Một vấn đề nảy sinh: Tại sao những hình thức âm thanh ấy lại chứa những nội dung ấy?
Giả sử gọi cây là cành, nhà là thuyền, đi là khóc có đợc không? Tất nhiên là
không! Đây chính là tính không có lí do (tính võ đoán, tính qui ớc) của ngôn ngữ nói
chung, ý nghĩa nói riêng. Rồi từ cái tính không có lí do ấy, các từ ấy cứ đợc dùng từ đời này
sang đời khác và làm thành tính truyền thống (tính sẵn có). Từ hai tính trên, lại có tiếp cái tính
thứ ba, đó là tính bắt buộc! Tức là cứ phải dùng đúng nh thế thì mọi ngời mới hiểu đợc mình;

- đang: thờng có dấu hiệu ý nghĩa chỉ thời hiện tại: đang đi Hà Nội.
- sẽ: thờng có dấu hiệu ý nghĩa chỉ thời tơng lai: sẽ đi Hà Nội.
Nói cách khác, hiểu theo nghĩa rộng, định nghĩa trên không có gì mâu thuẫn cả.
14. Vấn đề từ loại trong phần Tiếng Việt của chơng trình Ngữ văn THCS có gì đáng lu ý?
Đáp:
Vấn đề từ loại trong chơng trình dạy học Ngữ văn ở THCS có những điểm cần lu ý nh
sau:
1. Trong chơng trình và SGK THCS, tiếng Việt không tách thành một môn học riêng mà nằm
trong môn Ngữ văn. Nội dung dạy học từ loại tiếng Việt vì thế đợc đan xen với các phần văn học
và làm văn, để đảm bảo nguyên tắc tích hợp. Không có phần riêng về từ loại. Các từ loại tiếng
Việt đợc phân bố trong chơng trình từ lớp 6 đến lớp 8, đồng thời còn đợc ôn tập và tổng kết ở lớp
9. Sự phân bố nh vậy vừa để thực hiện nguyên tắc tích hợp, vừa để thực hiện các nguyên tắc khác
trong dạy học, nh nguyên tắc đi từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tợng phổ biến đến hiện tợng có
tần số thấp hơn...
2. Các từ loại đợc xác định trong SGK THCS chủ yếu theo đặc trng về ý nghĩa ngữ pháp khái quát
và chức năng của chúng. Điều đó nhằm mục đích dễ tiếp nhận cho học sinh phổ thông. Song vẫn
cần chú ý đến đặc trng về khả năng kết hợp, nhất là đối với những từ loại cơ bản nh danh từ, động
từ, tính từ. Khi nhận diện từ loại trong câu, hoặc khi nói về trờng hợp chuyển loại của từ thì cần
phối hợp những đặc trng về ý nghĩa với những đặc trng về chức năng và khả năng kết hợp của từ.
Trong bài tổng kết về ngữ pháp ở SGK Ngữ văn lớp 9, tập 2; đối với các từ loại cơ bản là danh từ,
động từ, tính từ, SGK đã yêu cầu nêu cả đặc điểm về ý nghĩa khái quát, và cả đặc điểm về khả
năng kết hợp. (trang 131)
3. Hệ thống từ loại tiếng Việt mà SGK THCS trình bày có đôi điểm cần lu ý, đó là:
Tách lợng từ thành một từ loại riêng. Về ý nghĩa và chức năng, lợng từ có điểm gần gũi với số từ:
chỉ lợng sự vật mà danh từ biểu hiện, thờng làm thành tố phụ cho danh từ. Nhng lợng từ lại có
điểm giống phụ từ (phó từ): chỉ làm thành tố phụ và không thể dùng độc lập khi không có thành
tố chính. Vì vậy trong một số công trình về tiếng Việt, lợng từ có thể đợc gộp chung với số từ,
hoặc với phụ từ thành một từ loại. Khi dạy theo SGK (tách thành từ loại riêng), cũng nên thấy đợc
những điểm giao nhau nh vậy của các từ loại.
- Tách chỉ từ thành từ loại riêng. Các từ này (đó, kia, này, nọ, nay, nấy, nãy, ấy, đấy, đây...) có

của so sánh cha chắc đã là ẩn dụ!.
Ví dụ về ẩn dụ:
- Thuyền về có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
- Con cò ăn bãi rau răm / Đắng cay chịu vậy đãi đằng cùng ai
- Gió đa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

Vế B trong các ẩn dụ trên là: thuyền, bến, con cò, rau răm, cây cải, rau răm. Thông qua
liên tởng, ngời đọc có thể tìm ra mối liên hệ giữa vế B ấy với một đối tợng hoặc thuộc tính, tâm
trạng nào đó trong đời sống tinh thần của con ngời. Các ẩn dụ này xuất hiện và ngay lập tức nó đã
mang tính lịch sử, nghĩa là không thể sửa chữa, thêm bớt đợc nữa (trừ các dị bản). Tuỳ thuộc vào
trình độ, vốn sống, năng khiếu mà mỗi ngời có quyền hiểu cái B ấy là gì? Tại sao?
Ví dụ về so sánh:
- Thân em nh ớt trên cây / Càng tơi ngoài vỏ càng cay trong lòng
- Đôi ta gặp đợc nhau đây / Nh con bò gầy gặp bãi cỏ hoang
- Anh em nh thể chân tay / Dại khôn cũng một mẹ thầy sinh ra
Các so sánh này cũng mang tính lịch sử, nghĩa là ta không thể tuỳ tiện bỏ vế A đi và bảo
rằng đó là ẩn dụ; chẳng hạn nếu bỏ anh em đi thì ta phải sáng tác lại sao cho chân tay có thể
giúp cho ngời đọc lần ra đợc mối liên hệ giữa chân tay với anh em và phù hợp với ý nghĩa của
dòng thứ hai: Dại khôn cũng một mẹ thầy sinh ra! Thêm một so sánh nữa: sinh ra là con trai hay
con gái cũng mang tính lịch sử rồi, không thể có chuyện con trai nuôi tóc dài chấm gót và mặc
quần áo con gái để gọi là con gái đợc; ngợc lại con gái cũng không thể húi cua và mặc com lê để
gọi là con trai đợc!
16
16. Đề nghị nói rõ thêm về sự khác nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ.
Đáp:
Xung quanh bài ẩn dụ và Hoán dụ có khá nhiều ý kiến tranh luận của các bạn giáo viên và
các em học sinh, mà cuối cùng thờng là không ai chịu ai! Để góp thêm cho một lời giải thích
thoả đáng, các bạn có thể đọc cuốn Phong cách học tiếng Việt của các tác giả Đinh Trọng Lạc
và Nguyễn Thái Hoà. Tạm gạt bỏ những khía cạnh còn khá mơ hồ, có thể nói một cách thật đơn
giản thì điểm khác biệt dễ thấy nhất giữa ẩn dụ và Hoán dụ là:

- Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
...
- Cái cò cái vạc cái nông
Sao mày dẵm lúa nhà ông, hỡi cò
...
- Con cò chết rũ trên cây
Bồ cu mở lịch xem ngày làm ma
...
- Con cò chết tối hôm qua
Có một hạt gạo với ba đồng tiền

- Con cò lặn lội bờ sông
17
Gánh gạo đa chồng, tiếng khóc nỉ non
...
Trong những câu ca dao trên, con cò chỉ ai? tại sao?... Quả là những câu hỏi không dễ
trả lời! Cần phải nhớ rằng, mục đích của các biện pháp tu từ ngữ nghĩa nói chung, ẩn dụ nói riêng
là nhằm xây dựng hình tợng thẩm mĩ; tức là thông qua liên tởng, ngời đọc có thể đồng cảm, xúc
động với thiên nhiên và cuộc sống; chứ không phải chỉ loay hoay tìm kiếm xem hệ qui chiếu của
con cò là gì, mặc dù việc làm này cũng có vai trò nhất định của nó. Trong thực tế, không có đáp
án duy nhất đúng, mà chỉ có những đáp án gần đúng, nửa đúng nửa sai, đúng ít sai nhiều, sai
nhiều đúng ít...
Hoán dụ cũng chỉ có một vế, nhng vế này có quan hệ tất yếu (đi đôi) với vế còn lại (đã
giải thích kĩ ở phần trên), do đó mối liên hệ giữa hai vế là khá tờng minh. Ngoài các kiểu hoán dụ
nh sách giáo khoa đã giới thiệu, chúng ta còn có thể gặp các biến thể hoán dụ khác, chẳng hạn:
- Hỡi anh đi đờng cái quan
- Hỡi cô thắt dải lng xanh
...
ở đây, anh và cô chỉ loại, đi đờng cái quan và thắt dải lng xanh là hoán dụ cá thể

Cũng cần nói thêm, điểm giống nhau giữa ẩn dụ và nhân hoá là cả hai biện pháp đều
chỉ có vế B hiện diện, do đó có thể nói, nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ, tức là ranh giới giữa
chúng rất mơ hồ, tinh tế; không nên tuyệt đối hoá chúng một cách máy móc, thô thiển. Ví dụ khi
phân tích các thủ pháp nghệ thuật trong khổ thơ:
18
Mặt trời xuống biển nh hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
(Huy Cận)
thì có thể gặp những cách lí giải nh sau:
* Câu 1:
- Có so sánh: Mặt trời xuống biển/nh/hòn lửa
- Có nhân hoá: Mặt trời/xuống biển
* Câu 2:
- Có nhân hoá: Sóng/đã cài then; đêm/sập cửa
- Có ẩn dụ: so sánh ngầm sóng với cái then cửa, đêm với cái cửa
* Câu 3:
- Có nhân hoá: Đoàn thuyền đánh cá/lại ra khơi
- Có hoán dụ: lấy thuyền chỉ ngời
* Câu 4:
- Có ẩn dụ: Câu hát chỉ niềm vui lao động trong cuộc sống mới
- Có nhân hoá: Câu hát/căng buồm (giống nh cây mía múa gơm, đàn kiến hành quân...)
- Có hoán dụ: Chỉ có ngời mới có câu hát, lấy câu hát chỉ ngời là hoán dụ
...
Trong các ý kiến trên, mức độ đúng hoặc hay có thể khác nhau; chẳng hạn: có ngời không
thừa nhận Mặt trời xuống biển và Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi là nhân hoá, có ngời
không thừa nhận Sóng đã cài then, đêm sập cửa và Câu hát căng buồm cùng gió khơi là ẩn
dụ... Về mặt lí thuyết, chúng ta phân biệt Ngôn ngữ giao tiếp và Ngôn ngữ nghệ thuật, trong
Ngôn ngữ nghệ thuật thì các biện pháp tu từ ngữ nghĩa chính là các phơng tiện cụ thể hoá cho

quan, không tất yếu (không hiển nhiên)
Ví dụ: giữa thuyền và ngời con trai,
bến và ngời con gái, con cò và ngời
nông dân
- Vì không phải là sự giống nhau hiển
nhiên (bắt buộc phải nh thế); cho nên
phép ẩn dụ mang tính phát hiện, tính
sáng tạo cao. Ngời ta có thể so sánh
ngầm cô gái với cái bến, bông hoa,
vầng trăng, con quạ cái, con s tử
cái
2. Khi thực hiện phép tu từ ẩn dụ thì th-
ờng kèm theo có sự chuyển nghĩa.
Ví dụ:
- thuyền với nghĩa thông dụng là ph-
ơng tiện giao thông đờng thủy đợc
chuyển thành nghĩa cơ động ngợc xuôi
một cách tự do, chỉ ngời con trai
- bến với nghĩa thông dụng là đầu mối
giao thông đợc dùng với nghĩa là cố
định, chờ đợi một cách thụ động, chỉ ngời
con gái
- rau răm với nghĩa thông dụng là một
loại rau dùng làm gia vị đợc dùng với
nghĩa là hoàn cảnh sống khắc nghiệt
của ngời nông dân
Hoán dụ:
1. Dựa trên sự liên tởng tơng cận (gần
gũi) đi đôi giữa hai đối tợng không mang
ý nghĩa so sánh. Sự liên tởng đi đôi này

2. Về kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu:
Chơng trình THCS đề cập đến tất cả các kiểu câu theo cấu tạo ngữ pháp:
- Câu đơn đợc bố trí dạy ở lớp 6, nhng tập trung vào loại câu đơn trần thuật, đồng thời phân biệt
theo cấu tạo của vị ngữ trong câu đơn thành ba loại: câu đơn động từ, câu đơn tính từ và câu đơn
danh từ.
20
- Câu đặc biệt đợc bố trí ở chơng trình lớp 7.
- Câu ghép đợc bố trí ở chơng trình lớp 8. Trong sách Ngữ văn lớp 8, tuy không phân biệt câu
ghép thành đẳng lập và chính phụ, nhng chú ý đến sự phân biệt theo phơng tiện liên kết các vế
câu:
+ Câu ghép có dùng từ nối giữa các vế câu.
+ Câu ghép không dùng từ nối, mà chỉ dùng ngữ điệu, dấu câu.
Đồng thời chú ý phân biệt câu ghép theo quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu.
Còn loại câu phức thành phần thì đợc trình bày trong sách Ngữ văn 7 dới dạng Dùng cụm
chủ vị để mở rộng câu, cùng với những phép biến đổi câu khác nh: rút gọn câu, biến đổi câu chủ
động và câu bị động. Nh vậy, nếu mở rộng câu bằng cụm chủ vị làm thành phần câu hay thành
phần cụm từ thì ta có câu phức thành phần.
(Tài liệu đã dẫn ở câu 14)

18. Đề nghị nói rõ thêm về tổ chức ý nghĩa của từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.
Đáp:
I. Nhận xét về ý nghĩa của các nhóm từ ghép đẳng lập sau:
1. Nhóm (1): ăn mặc, ăn ở, ăn nằm, ăn nói, ăn chơi, ăn tiêu, bài vở, bánh trái, bú mớm, bụng dạ,
con cái, công việc, công cuộc, củi đuốc, củi lửa, chiều chuộng, che chở, đằm thắm, đòi hỏi, đua
đòi, giúp đỡ, đình đám, đầy đủ, hoa quả, đờng đất, kiêng nể, lòng dạ, may mặc, mặt mày, mặt
mũi, mắt mũi, mềm mỏng, nớc nhà, ngon lành, nghe ngóng, oán hờn, quanh co, sang trọng, tên
tuổi, tóc tai, tóc tơ, tóm tắt, than thở, thử thách, xỏ xiên
- Nghĩa của ăn mặc khái quát hơn nghĩa của mặc (Không nói: Ăn mặc một cái áo!),
nhng nghiêng về mặc (Có thể nói: Dạo này sao ăn mặc lôi thôi thế?), còn ăn đã phần nào mờ
nghĩa vốn có để cấu thành nghĩa chung của từ ghép.

- Nghĩa của buôn bán là hoạt động thơng mại nói chung, trong đó buôn và bán là
hai hoạt động tiêu biểu.
8. Nhóm (8): anh em, vợ chồng, chú cháu, ông cháu, bà cháu, mẹ con, cha con, cha mẹ, anh chị,
chị em, cô cháu, dì cháu
- Nghĩa của anh em khá phức tạp, thờng phải căn cứ vào ngữ cảnh để giải thích, chẳng
hạn:
a. Chỉ ngời anh và ngời em, ví dụ: Hai anh em.
b. Chỉ quan hệ giữa anh và em, ví dụ: Anh em nh thể tay chân.
c. Chỉ một tập thể ít nhất là hơn hai ngời, thờng có quan hệ thân thiết gần gũi, ví dụ: Anh
em có đồng ý không?
9. Nhóm (9): chú bác, cô dì, cậu mợ, cha chú, ông bà, nội ngoại, chú thím, cô chú, cô cậu
- Nghĩa của chú bác là chỉ chung những ngời trong họ hàng, bậc trên: từ chú đến
bác/cả chú lẫn bác; ví dụ: Việc này nên nói với chú bác một tiếng cho phải đạo!
10. Nhóm (10): ăn uống, bắn phá, bòn rút, cày cấy, cời cợt, chạy nhảy, chèo chống, chán ghét,
băm vằm, đấm đá, đi đứng, đục đẽo, đứng ngồi, học hỏi, mến phục, reo cời, run sợ, thêu thùa, xào
nấu, ấm no, cao to, cay đắng, chua chát, dẻo dai, đói rét, êm dịu, êm ấm, êm đẹp, giàu sang, khôn
khéo, khôn ngoan, nặng nhọc, nghèo khổ, tơi tỉnh, ao chuôm, ao hồ, bàn ghế, bờ bãi, bờ bến, bến
bãi, cây cỏ, chăn chiếu, da thịt, gà vịt, gơm đao, giấy bút, giày dép, hổ báo, hùm beo, khoai sắn,
muỗi mòng, ma gió, ngô khoai, ơn nghĩa, quần áo, sông suối, sấm sét, sấm chớp, sách vở, tình
nghĩa, thuyền bè, thóc gạo, trâu bò
- Nghĩa của ăn uống là chỉ chung những hoạt động có liên quan đến việc ăn, uống và
các hành vi ứng xử mang tính văn hoá; ví dụ: Nó ăn uống cẩu thả quá!/Đừng tởng chuyện ăn
uống là nhỏ đâu nhé!/Làm sếp rồi mà sao cậu vẫn giữ cái thói quen ăn uống bỗ bã thế?...
11. Nhóm (11): tuyển chọn, lựa chọn, hao tổn, quân lính, chao đảo, canh gác, cổ xa, cọ xát, bé
nhỏ, cố gắng, chứa đựng, tìm kiếm, lao tù, thiếu hụt, thù địch, ẩn nấp, bao hàm, bao gồm, bao bì,
bao bọc
- Nghĩa của tuyển chọn là sự tổng hợp, khái quát của hai từ tố đồng nghĩa tuyển và
chọn.
12. Nhóm (12): bù đắp, bạc ác, đay nghiến, cứu giúp, chối cãi, đánh đập, giàu sang, gắng gợng,
hao mòn, khuôn khổ, nguồn gốc, nhờng nhịn, rình mò, thân yêu, xa xa

chớng, đờng đen, trầu hôi
- Nghĩa của nớc ngọt trong tơng quan với nớc mặn là loại nớc dùng trong sinh hoạt
hằng ngày của con ngời và dùng để tới tiêu trong canh tác trồng trọt; trong tơng quan với nớc
lã lại có nghĩa là một loại sản phẩm ở dạng lỏng, có ga, dùng để giải khát, không gây độc hại
cho cơ chế sinh lí của ngời.
4. Nhóm (4): thợ nguội, đò dọc, đò ngang, ngõ cụt, đất màu, tàu ngầm, thuyền nan
- Nghĩa của thợ nguội là thợ kim khí chế tác hoặc gia công các sản phẩm bằng kim loại
đã nguội lạnh; từ này đợc coi là kết quả rút gọn của một cụm từ.
5. Nhóm (5): cuộc vui, biển cả, sóng cả, đũa cả, trống cái, bèo cái, nếp cái, đờng cái, , đũa con,
nếp con, chén con, cây con
- Nghĩa của cuộc vui là nhiều ngời cùng vui một cách có tổ chức hoặc cũng có thể tự
phát; có từ này vì thói quen nói cuộc vui mà không thể nói cuộc buồn, cuộc lo, cuộc sợ, cuộc
giận
6. Nhóm (6): bèo tấm, hình thang, đờng băng, khoai sọ, đinh ốc, gấu ngựa, ngựa vằn, beo gấm,
cam chanh, cá mối, cú mèo, da chuột, bọ gậy, đá dăm, trẻ con, đất thịt, ghẻ ruồi, mũ cối
- Nghĩa của bèo tấm là một loại bèo cánh nhỏ nh hạt tấm, dễ tan dễ hợp, nghĩa này
giúp phân biệt bèo tấm với bèo cái, bèo tổ ong, bèo tây, bèo hoa dâu, bèo Nhật Bản
7. Nhóm (7): bánh đa, bánh bèo, bút máy, cà bát, cà pháo, cá voi, chó mực, mèo mun, chuối mật,
đá ong, lợn gạo
- Nghĩa của bánh đa là một loại bánh tráng làm bằng bột gạo tẻ, có hình thức giống nh
cái lá đa; nghĩa này giúp phân biệt bánh đa với bánh bèo, bánh cuốn, bánh giò.
8. Nhóm (8): bắp cải, bắp chuối, bắp ngô, bầu trời, bộ mặt, bụng chân, cổ tay, cổ chày, trống
ngực, da trời, đờng đời, cửa bể, cửa sông, mái tóc, mái đầu, nớc mắt, đồ nghề, cửa hàng, áo phao,
áo gối, bóng đèn, dầu xá, đầu gối, tròng mắt, lòng sông, mặt nớc, mặt trận, guồng máy, quả cân,
quả đất, nhà thơ, nhà văn, nhà báo, làng văn
- Nghĩa của bắp cải là một loại rau có các lá cuộn vào giống nh bắp chân của ngời,
đây là kết quả của việc rút gọn một cụm từ theo phép ẩn dụ (so sánh ngầm) và hoán dụ (dùng một
đặc điểm để gọi tên). Cách gọi tên các loại rau cải rất phong phú: cải hoa, cải canh, cải ngồng, cải
cúc, cải củ, cải xoong
9. Nhóm (9): chó biển, vịt trời, nấm mối, buồng máy, gió mùa, dao cau, bớc đầu, than cốc, ngày

có nghĩa bóng, chẳng hạn: Tình yêu là bệ phóng cho những thiên tài!.
14. Nhóm (14): bắn tin, đánh tiếng, bấm bụng, bó gối, ăn sơng, bôi nhọ, ăn khớp, ăn ý, cháy túi,
đụng đầu, sát cánh, áp chảo, cớp cò, bắt nguồn, bắt rễ, để ý, để tâm, dè chừng, đánh bạn, đánh
vần, đánh gió, đánh cuộc, đánh đĩ, chửa hoang, đấu dịu, đẻ non, khoán trắng, xơi tái, bằng vai, bẽ
mặt, cứng cựa, cao tay, mát tay, láu cá, lép vế, đau nhói, ớt ráo, bẩn sạch, đen thui, sáng ngời,
ngọt lịm
- Nghĩa của bắn tin là thông qua trung gian hoặc d luận gửi tới đối phơng một lời nhắn
để thăm dò thái độ, đây là nghĩa võ đoán, phải giải thích mới hiểu đợc.
19. Trong tiếng Việt có từ ghép phụ chính (P C) không? Cho ví dụ.
Đáp:
Trong tiếng Việt, ngoài từ ghép chính phụ (C P), chúng ta còn có thể gặp từ ghép phụ
chính (P C), chẳng hạn:
1. Từ ghép P C là danh từ:
ba thu, ba đông (chỉ thời gian nói chung), bốn biển, năm châu (chỉ thế giới nói chung),
năm canh (chỉ một đêm), sáu khắc (chỉ một ngày), chín trùng (chỉ nhà vua), chín suối (chỉ âm
phủ), trăm năm, trăm tuổi (chỉ một đời ngời), một lòng, một dạ, hai lòng, một cách, bà mẹ, bà mụ,
ông tơ, con số, con cờ, câu chuyện, ả đào, cô đào, chàng rể, chú rể, cô dâu, nàng dâu, bà mai, bà
mối, thằng cuội, chú cuội, ả Chức, chàng Ngu
Trong các từ trên, các từ tố ả, chú, chàng, nàng, ông, bà là những từ tố chỉ cá thể và là
một bộ phận không thể chia cắt đợc của chỉnh thể từ. Thông thờng, danh từ chỉ nhân vật có thể kết
hợp với tất cả những từ xng hô, ví dụ: y tá có thể kết hợp với anh, chàng, cô, bà, chị, bác, chú,
cậu, nhng các từ chỉ nhân vật trong ví dụ trên không có khả năng ấy.
Lấy chú rể làm ví dụ. Bình thờng, chú đứng trớc danh từ chỉ ngời hoặc có nghĩa là: từ
xng hô đối em của cha hay đối với những ngời đàn ông tơng đơng với em của cha, hoặc anh xng
hô với em trai và những ngời tơng đơng em trai; nhng chú trong chú rể hoàn toàn không có
những nghĩa đó.
2. Từ ghép P C là động từ, tính từ:
ba phải, ba que, bố láo, bố lém, bố phịa, cả giận, cả lo, cả mừng, cả nghĩ, cả nể, cả tin, cả
thẹn, cả sợ Bố, cả có ý nghĩa biểu thị mức độ cao của tính chất hoặc trạng thái, nhng sự kết hợp
24

(7.a) Than tổ ong, than đá, than bùn, than qua lửa... đều có thể dùng làm chất đốt đợc/ (than tổ
ong = cụm từ)
(7.b) Dùng than tổ ong tuy có tiện lợi, nhng cũng có hại cho sức khoẻ/ (than tổ ong = từ ghép)
...
Ranh giới giữa từ ghép và cụm từ thờng rất mơ hồ, do đó khó mà giải thích cho ngời khác
tâm phục khẩu phục đợc, đây có thể coi là một trong những vấn đề muôn thuở của tiếng Việt.
Kinh nghiệm để có một câu trả lời gần đúng là:
+ Từ ghép thờng đợc dùng để chỉ một sự vật, sự kiện, hiện tợng nhất định; ý nghĩa của nó có tính
khái quát, cấu trúc của nó chặt chẽ (không xen vào giữa hai tiếng một tiếng khác đợc). Còn cụm
từ thờng đợc dùng để miêu tả một sự vật, hiện tợng...; ý nghĩa cụ thể hơn; có thể xen các tiếng
khác vào giữa hai tiếng.
- Ví dụ (2.a): Chọn mua một trong hai sự vật cùng loại, cụ thể, có sự khác nhau về nguyên
liệu, giá cả...
- Ví dụ (2.b): bàn gỗ = bàn làm bằng gỗ
+ Ngoài ra, khi muốn xác định đợc từ ghép trong một văn bản cụ thể, chúng ta còn phải lu ý đến
mối quan hệ giữa chúng với các từ đơn và từ láy. Ví dụ: thử nhận diện từ đơn, từ ghép, từ láy
trong bài thơ sau:
Đi trong hơng tràm
25

Trích đoạn nghị nói rõ thêm về cách sử dụng một số phơng thức và phơng tiện nối các vế câu trong câu ghép. nghị nói rõ hơn về việc liên kết các câu bằng cách thay thế từ ngữ. Trong hoạt động giao tiếp, có trờng hợp nào ngời nghe không hiểu hoặc hiểu sai hàm ý của ngời nói không? Nếu xảy ra tình huống nh vậy thì ngời nói phải làm gì để điều chỉnh?
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status