chuyện, nhớ câu chuyện. Sau khi kể chuyện lần 1, GV sẽ kể chuyện lần 2 kết hợp
giới thiệu các hình ảnh trong tranh. Học sinh sẽ được rèn kĩ năng nghe. Khi chuẩn bị
giáo án, GV cần chuẩn bị nội dung cho lời giới thiệu sao cho dễ hiểu. Khi HS kể lại
từng đoạn câu truyện theo tranh, lời giới thiệu về các hình ảnh trong tranh của thầy cô
giáo cũng là gợi ý để các em kể m
ột cách dễ dàng, tự nhiên, không rập khuôn từng
câu chữ theo câu chuyện đã nghe.
Lời kể của giáo viên cũng là một phương tiện “trực quan” rất hữu hiệu.
2.1.2. Biện pháp luyện theo mẫu
- Để thực hiện biện pháp luyện theo mẫu, GV phải có khả năng tạo mẫu, tức là biết kể
chuyện. Lời kể của thầy cô vừa là một phương tiện trực quan trong biện pháp dạy học
trực quan, vừa là đích, mẫu hình lí tưởng mà HS hướng tới. Khi kể chuyện, chúng ta
cần lưu ý là “kể chuyện” khác với “đọc truyện”. Thứ nhất, về mặt âm thanh, “kể” là
“nói”, ngữ điệu thấp hơn, tự nhiên hơn. Thứ hai, kể là phải hướng đến người nghe và
nói ra cái mình đang nghĩ. Còn đọc, dẫu là đọc thuộc lòng, cũng hướng về văn bản để
tái hiện v
ăn bản được đọc, nên nét mặt thường căng thẳng, không tự nhiên.
- Quan niệm về “mẫu” trong kể chuyện có khác “mẫu” trong đọc thành tiếng. Kể dẫu
là kể lại câu chuyện đã có sẵn, đều có yếu tố “sáng tạo”, nếu không ở từ ngữ thì cũng
ở âm thanh giọng điệu. Vì vậy, khi nói lời kể của thầy cô là một mẫu không có nghĩa
là HS phải cố nhớ, học thuộc để nhắc lại lời kể này. Lời kể đó có một khuôn mẫu
chung nhưng mỗi HS lại có thể “đúc” thành những câu chuyện không hoàn toàn
giống nhau.
2.1.3. Thực hành giao tiếp
Thực hành giao tiếp trong giờ kể chuyện là thực hành luyện nói, luyện kể. Biện pháp
này đòi hỏi GV phải tạo điều kiện cho mỗi HS ở các trình độ khác nhau ít nhiều đều
được thực hành nói về nội dung câu chuyện và kể chuyện.
Để tạo hứng thú cho các em và giúp HS dễ dàng nhớ lại chuyện, có thể tổ chức trò
chơi kể chuyện, ví dụ trò chơi “xì điện” (một người kể giữa chừng câu chuyện, “xì
điện” để người kia kể tiếp câu, kể tiếp đoạn), trò chơi rung chuông (GV vờ kể sai để
HS rung chuông báo hiệu sai và kể lại cho đúng), trò chơi kể chuyện tiếp sức
a. Kể theo đúng thứ tự các tranh
Ví dụ 1: Dựa vào tranh, kể lại từng đoạn của câu chuyện “Chiếc bút mực” (TV2, tập
1).
Ví dụ 2: Dựa vào tranh, kể lại từng đoạn của câu chuyện “Cậu bé thông minh” (TV3,
tập 1).
b. Sắp xếp lại các tranh đã bị đảo lộn thứ tự cho đúng với nội dung câu chuyện, sau
đó kể lại.
Ví dụ : Xếp lại thứ tự các tranh sau theo đúng nội dung câu chuyện “Ông Mạnh thắng
Thần Gió)” (TV2, tập 2).
3.1.2. Kể theo lời gợi ý là loại bài tập mà điểm tựa để kể là dàn ý hoặc câu hỏi
Ví dụ: Kể lại đoạn 1 câu chuyện “Phần thưởng” theo các gợi ý:
a) Các việc làm tốt của Na.
b) Điều băn khoăn của Na (TV2, tập 1)
3.1.3. Dựa vào dung lượng của lời kể, các bài tập được chia thành 2 kiểu:
a. Kể lại từng đoạn;
b. Kể lại toàn bộ câu chuyện.
3.1.4. Kể theo vai: Dựa vào vai người kể chuyện, các bài tập chia thành 3 kiểu:
a. Kể theo lời tác giả;
b. Thay lời tác giả bằng lời của mình. Loại bài tập này dùng cho các văn bản truyện
gốc mà tác giả xưng “tôi”.
Ví dụ: Kể lại một đoạn câu chuyện “Bài tập làm văn” bằng lời của em. M: “Một lần,
cô giáo giao cho lớp của Cô-li-a một đề văn ” (TV3, tập 1).
c. Kể theo lời một nhân vật trong truyện.
Ví dụ: Dựa vào tranh, kể lại câu chuyện “Nhà ảo thuật” bằng lời của Xô-phi hoặc
Mác (TV3, tập 2).
3.1.5. Kể một chi tiết trong truyện theo tưởng tượng
Đây là loại bài tập đòi hỏi tính sáng tạo cao vì HS không chỉ thay đổi lời kể mà còn
sáng tạo ra các tình tiết, mặc dù chỉ là những tình tiết nhỏ.
Ví dụ: Em mong muốn câu chuyện “Sự tích cây vú sữa” kết thúc thế nào? Hãy kể lại
đoạn cuối của câu chuyện theo ý đó (TV2, tập 1).
Nội dung kiểm tra thường là GV mời hai HS tiếp nối nhau kể lại một đoạn câu
chuyện đã học ở tiết kể chuyện theo yêu cầu trong SGK.
II. Dạy bài mới
a) Giới thiệu bài
GV nêu mục đích, yêu cầu của tiết học hoặc nêu tình huống để gợi dẫn câu chuyện
được kể trong tiết học.
b) Hướng dẫn kể chuyện
ở bước này, GV hướng dẫn HS:
- Thực hiện lần lượt từng bài luyện tập về kể chuyện (độc thoại) theo SGK; khuyến
khích HS kể bằng lời của mình; nghe để kể nối tiếp được chuyện hoặc nhận xét lời kể
của bạn.
- Hướng dẫn HS phân vai dựng lại câu chuyện, hoặc kể có sáng tạo (theo yêu cầu
trong SGK).
Mỗi khi gặp những dạng bài tập mới hoặc khó, GV cần giúp HS nắm được yêu cầu,
thực hành làm mẫu một phần của bài tập (Ví dụ: mời một, hai HS khá giỏi kể hay
dựng lại câu chuyện theo yêu cầu trong SGK).
c) Củng cố, dặn dò (lưu ý HS về nội dung, ý nghĩa câu chuyện, về cách kể chuyện;
nêu yêu cầu thực hành kể chuyện ở nhà).
Vì giờ kể chuyện không phải là giờ trình diễn nghệ thu
ật kể chuyện của GV mà là giờ
thực hành nói của HS nên GV cần tăng cường tổ chức kể chuyện theo nhóm để tạo
điều kiện cho mỗi HS đều được thực hành kể chuyện.
(Xem Hoàng Hòa Bình, Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2, NXB Giáo dục, 2002, trang
77-79)
ở lớp 3, do thời lượng giờ học chỉ có 0,5 tiết nên bài kể chuyện có thể bắt đầu từ bước
hướng dẫn kể chuyện.
4. Tổ chức dạy bài Kể chuyện lớp 4, 5
Bài kể chuyện ở lớp 4, 5 gồm ba dạng sau:
- Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp;
- Kể chuyện đã nghe, đã đọc;
- HS tập kể chuyện:
+ Kể từng đoạn nối tiếp nhau trong nhóm;
+ Kể cả câu chuyện trong nhóm;
+ Kể cả câu chuyện trước lớp.
- HS tìm hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện:
+ Nói về nhân vật chính;
+ Nói về ý nghĩa câu chuyện.
- Củng cố, dặn dò.
4.2.2. Dạy bài kể chuyện đã nghe, đã đọc, đã chứng kiến, tham gia
Hai kiểu bài này đều có cùng quy trình dạy học như sau:
- Kiểm tra bài cũ.
- Giới thiệu bài mới: GV giới thiệu yêu cầu kể chuyện của tiết học.
- HS tìm những ví dụ phù hợp với yêu cầu của đề bài (theo gợi ý của SGK).
- HS tập kể chuyện:
+ Kể trong nhóm;
+ Kể trước lớp.
- HS trao đổi với nhau về nội dung, ý nghĩa câu chuyện:
+ Nói về nhân vật chính;
+ Nói về ý nghĩa câu chuyện.
- Củng cố, dặn dò.
TÀI LIỆU THAM KHẢO (CHỦ ĐỀ 8)
1. Chương trình Tiểu học. NXB GD, H., 2002.
2. SGK, SGV Tiếng Việt Tiểu học lớp 2 – lớp 5, NXB GD, 2002, 2003, 2004, 2005.
3. Hoàng Hòa Bình. Dạy văn cho học sinh Tiểu học. NXB GD, 1997.
4. Nguyễn Thái Hòa. Những vấn đề thi pháp của truyện. NXB GD, 2000.
5. Chu Huy. Dạy Kể chuyện ở trường Tiểu học. NXB GD, 2000.
6. Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng. Văn miêu tả và kể chuyện.
NXB GD, 1996.
7. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí. Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2. NXB GD,