TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
-------------------------------------
VŨ THỊ LIÊN
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH CHO TRẺ
5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI HỌC TẬP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
HÀ NỘI, 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
-------------------------------------
VŨ THỊ LIÊN
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH CHO TRẺ
5-6 TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI HỌC TẬP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Thu Hương
HÀ NỘI, 2019
Nếu sai, tôi xin chịu tất cả trách nhiệm.
Hà nội,
tháng 5 năm 2019
Sinh Viên
Vũ Thị Liên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................ 7
1.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................. 7
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học ................................................................................ 7
1.1.1.1. Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ....................................................... 7
1.1.1.2. Từ và vốn từ ......................................................................................... 9
1.1.1.3. Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi ............................................... 12
1.1.2. Cơ sở tâm lý, sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi ................................................ 14
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lý học của trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi ........................ 14
1.1.2.2. Đặc điểm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi .................................................... 16
2.3.1. Chủ đề động vật .................................................................................... 27
2.3.2. Chủ đề thực vật ..................................................................................... 28
2.3.3. Chủ đề gia đình ..................................................................................... 28
2.2.4. Chủ đề nước và hiện tượng tự nhiên ..................................................... 29
2.2.5. Chủ đề giao thông ................................................................................. 30
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM...................................................... 32
3.1. Thực nghiệm ............................................................................................ 32
3.1.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 32
3.1.2. Đối tượng thực nghiệm ......................................................................... 32
3.1.3. Nội dung thực nghiệm........................................................................... 33
3.1.4. Quy trình thực nghiệm .......................................................................... 33
3.1.4.1. Chuẩn bị thực nghiệm ........................................................................ 33
3.1.4.2. Tiến hành thực nghiệm....................................................................... 33
3.1.5. Tiêu chí đánh giá ................................................................................... 33
3.1.6. Giáo án thực nghiệm ............................................................................. 34
3.2.7. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 43
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................. 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 49
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục Mầm non là một bậc học được coi là tiền đề là điểm xuất phát
của một sự phát triển được coi là nền móng đầu tiên để hình thành nhân cách
của trẻ sau này.
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ là nhiệm vụ của nhà trường, gia đình
và toàn xã hội. Hiện nay bậc học giáo dục mầm non là một cấp học mà đảng
tiếng Anh cho trẻ.
Tương lai tôi sẽ là một giáo viên mầm non hiểu được tầm quan trọng
của việc dạy tiếng Anh cho trẻ nên tôi chọn đề tài: “ Phát triển vốn từ tiếng
Anh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi học tập và đi sâu tìm hiểu. Mong
rằng đề tài của tôi sẽ góp một phần nào đó trong công cuộc giáo dục ở trường
mầm non.
2. Lịch sử nghiên cứu
Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước nên việc giáo dục trẻ luôn được
mọi người quan tâm , nhà trường và toàn xã hội, đặc biệt là các nhà giáo dục
nghiên cứu về các phương pháp giáo dục trẻ. Hiện nay đất nước ta đang hội
nhập kinh tế quốc tế giao lưu với các nước phát triển để nâng cao chất lượng
cuộc sống con người. Thế nên việc dạy tiếng Anh cho trẻ lứa tuổi mầm non là
hết sức cần thiết. Có rất nhiều cách khác nhau để dạy tiếng Anh cho trẻ phạm
vi khác nhau.
Dạy tiếng Anh cho trẻ trong những năm gần đây đang được quan tâm
nhiều hơn rất nhiều các hội nghị khoa học cấp trung ương và địa phương đã
nghiên cứu về các vấn đề phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ mầm non.
Trong cuối giáo trình Phương Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm
Non của tác giả Nguyễn Xuân Khoa (2006) [9], Nhà xuất bản Sư phạm đã chú
trọng tới việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua rất nhiều phương pháp nhưng
2
phương pháp được ông chú trọng và áp dụng hiểu quả nhất đó chính là
phương pháp trò chơi vì hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non là hoạt động vui
chơi. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ tạo tiền đề cho trẻ bước vào trường phổ
thông.
Trong cuốn giáo trình Giao Tiếp Với Trẻ Mầm Non của tác giả Nguyễn
Văn Lũy và Trần Thị Tuyết Hoa [16] của nhà xuất bản giáo dục năm 2006 đã
Theo nghiên cứu của tiến sĩ tâm lý Elaineider một chuyên gia tâm lý tại
Mỹ cho biết “Trẻ em tiếp xúc với tiếng Anh càng sớm càng tốt vì não bộ của
trẻ nhỏ đặc biệt là trẻ từ 1 đến 5 tuổi được ví như một miếng bọt biển có thể
hút các thông tin xung quanh rất nhanh và nhạy bén. Bên cạnh đó cấu tạo của
cơ quan nghe và phát âm của trẻ nhỏ trong giai đoạn này cũng giúp các trẻ dễ
dàng bắt chước các âm thanh khác nhau”
Trao đổi về việc phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ với tiến sĩ Trần Thị
Thu Mai phó trưởng khoa tâm lý giáo dục Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ
Chí Minh đã nhận định rằng “Từ 20 tháng cho đến 8 tuổi là giai đoạn trẻ nhỏ
phát triển mạnh mẽ về ngôn ngữ, giai đoạn này được coi là giai đoạn phát
cảm ngôn ngữ. Nếu trẻ được tạo điều kiện để học ngôn ngữ thứ 2 song song
cùng tiếng mẹ đẻ thì không những trẻ sẽ phát huy tốt khả năng ngôn ngữ của
mình mà còn có thêm khả năng tư duy logic khi trưởng thành”.
Một khảo sát của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương cho thấy kết quả
“Thăm dò tại 50 trường mầm non và hơn 80 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và
hơn 330 giáo viên trực tiếp cho trẻ làm quen với tiếng Anh cho thấy hiện chỉ
có 10% đơn vị giáo dục mầm non tự tổ chức giáo dục tiếng Anh tại trường,
90% thực hiện theo hình thức tổ trức liên kết với các trung tâm bên ngoài”.
Như vậy có rất nhiều tác giả, cuốn sách, tạp chí đã nghiên cứu về việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non và có rất nhiều ý kiến và phương pháp
khác nhau để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nói chung tất cả các tác giả các nhà
nghiên cứu đều hướng tới mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói chung và
4
phát triển ngôn ngữ cho mầm non nói riêng. Đưa ra các biện pháp các hình
thức nhằm nâng cao chất lượng của trường mầm non chung. Tuy nhiên vẫn
chưa đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu phát triển vốn từ tiếng Anh thông qua
trò chơi học tập cho trẻ 5 – 6 tuổi. Tôi thấy rằng vấn đề này rất là quan trọng
và các chương trình dạy học liên quan đến tiếng Anh để đánh giá các hoạt
động học tiếng Anh của trẻ.
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là một phương pháp quan trọng để kiểm tra tính đúng đắn của đề tài
nghiên cứu đã đề ra.
6.5. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia là những giáo viên có thâm niên giảng dạy hay
các tác giả đã nghiên cứu về các đề tài có liên quan đến đề tài của mình về nội
dung trò chơi đã được xây dựng, hình thức tổ chức hay hứng thú của trẻ và
khả năng áp dụng đề tài nghiên cứu trong dạy học tiếng Anh cho trẻ.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo khóa luận
gồm 3 chương chính
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn .
Chương II: Xây dựng một số trò chơi phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ
5 – 6 tuổi.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
6
NỘI DUNG
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1. Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ
Có rất nhiều khái niệm về ngôn ngữ và giao tiếp của nhiều tác giả khác
nhau trong đó tôi chọn một số khái niệm như sau.
Ngôn ngữ là một bộ môn khoa học nghiêm cứu về ngôn ngữ, là hệ
thống tín hiệu đặc biệt là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con
nội dung được chứa đựng trong các từ ngữ. Ngôn ngữ chính là phương tiện
phản ánh tư duy. Khi thực hiện chức năng giao tiếp, sự phản ánh tư duy (bao
gồm tư tưởng, nhận thức, hiểu biết, tình cảm, thái độ...của người nói) được
thực hiện.
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính.
Đối với cảm giác khi ngôn ngữ tác động đồng thời vào sự vật hiện tượng sẽ
làm cho quá trình cảm giác diễn ra nhanh hơn, hình ảnh do cảm giác đem lại
có thể rõ ràng hơn, đậm nét chính sác hơn. Bằng tác động của ngôn ngữ sẽ
làm thay đổi tính nhảy cảm của cảm giác và ngưỡng cảm giác. Nhờ ngôn ngữ
có thể tiến hành sự tri giác tích cực, có chủ đích và mục đích được điều khiển
bằng ý thức.
Ngôn ngữ đối với giáo dục đạo đức. Đối với lứa tuổi mầm non thì các
cháu đang bước đầu tiếp thu những khái niệm, quy tắc ban đầu nhưng vô cùng
quan trọng. Muốn các cháu hiểu và tiếp thu nhanh thì chúng ta phải sử dụng
ngôn ngữ một cách linh hoạt nhanh dễ hiểu và tạo được hứng thu cho trẻ. Nhờ
có ngôn ngữ mà các cháu có thể hiểu được nhu cầu mong muốn của bản thân.
Vai trò của tiếng Anh trong đời sống trẻ thơ
Đối với trẻ mầm non trẻ rất nhạy cảm với ngôn ngữ vì vậy cho trẻ học
ngoại ngữ càng sớm càng tốt. Việc học ngoại ngữ sớm giúp trẻ tự tin và hoàn
8
thiện một cách dễ dàng hơn cả hai loại ngôn ngữ. Hiện nay công nghệ thông
tin phát triển mạnh nên việc trẻ tiếp xúc với tiếng Anh một cách dễ dàng hơn.
Trẻ có thể nghe các bài hát tiếng Anh, các câu chuyện bằng tiếng Anh và xem
các trò chơi bằng tiếng Anh trên mạng internet, thông qua đó trẻ sẽ cảm thấy
hứng thú với tiếng Anh nhiều hơn. Trẻ lứa tuổi mầm non thích khám phá tìm
tòi thế giới xung quanh những cái mới lạ vì vậy trẻ được học tiếng Anh giống
như trẻ sẽ được thỏa thích tìm hiểu thế giới và và thể hiện đam mê của bản
chúng mang những đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt. Ví
dụ: nước, cơm, cây...Có một số ít từ đơn có hai âm tiết như: mồ hôi, bù
hóng... Có một số từ đơn đa âm tiết đi vay mượn của các ngôn ngữ khác như:
cà phê, ô tô...”
Từ phức: từ láy và từ ghép
Từ ghép: là từ chứa hai hoặc hơn hai từ tố và trong đó nhìn chung
không có hiện tượng “hòa phối ngữ âm tạo nghĩa”. Bộ phận từ ghép việt là từ
gồm hai tiếng và ở đó đã hội tụ đầy đủ các đặc trưng của từ ghép nói chung,
vì vậy chúng ta xem xét chủ yếu là những từ ghép có hai tiếng. Từ ghép có
hai loại: ghép chính phụ và ghép đẳng lập.
Theo một số tác giả “Từ láy là từ trong đó các âm tiết quan hệ với nhau
về ngữ âm (bàn bạc, làm lụng) hoặc giống nhau ở vần (lì xì). Hoặc có những
âm tiết khác nhau. Từ láy bao gồm láy đôi, láy ba và láy bốn”.
Từ tiếng Anh
Khái niệm: Theo Bách toàn thư “Từ tiếng Anh là một đơn vị để xây
dựng câu, xây dựng lời nói. Từ là công cụ hữu hiệu và cơ bản trong giao tiếp.
Từ tiếng Anh bao gồm từ có một âm tiết. Ví dụ: dog, Cat...Từ có hai âm tiết
ví dụ: chicken, sister...từ có ba âm tiết. Ví dụ: decorate, concentrate... từ có
bốn âm tiết ví dụ như: maturity, từ có 5 âm tiết ví dụ international”.
Trong tiếng Anh có các loại từ như danh từ, động từ, tính từ, đại từ.
10
Danh từ là những từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, trạng thái cảm xúc.
Ví dụ: apple, airport, tom... Danh từ gồm có danh từ đếm được. Ví dụ a cat,
two cats và danh từ không đếm được. Ví dụ weather, rain, wool...
Đại từ là những từ thay thế cho danh từ hoặc cụm danh từ trong câu
gồm đại từ nhân xưng. Ví dụ: they, it... Đại từ sở hữu như mine, ours, theirs.
Đại từ phản thân. Ví dụ: myself, yourself. Đại từ nghi vấn ví dụ what, which.
1.1.1.3. Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi
Theo cuốn Phát triển ngôn ngữ đã viết “Ngôn ngữ là một hệ thống tín
hiệu đặc biệt là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành
viên trong xã hội và trong cộng đồng người. Ngôn ngữ đồng thời cũng là
phương tiện tư duy truyền tải văn hóa từ thời kì này đến thời kì khác từ thế
hệ này đến thế hệ khác”. Lênin từng khảng định: “Con người muốn tồn tại thì
phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một hoạt động đặc trưng của con
người. Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất”.
Một nhà tâm lý người Nga đã viết: “Trong vốn từ của trẻ mẫu giáo đầu
tiên trẻ em được phản ánh những đặc trưng của sự vật, hiện tượng, càng lớn
trẻ càng có nhiều vốn từ để thể hiện được đặc điểm của sự vật hiện tượng một
cách chính xác bằng từ ngữ, tư duy trực quan hành động. Đến 5 tuổi tư duy
trìu tượng và tư duy logic bắt đầu xuất hiện”.
Trẻ có 3 loại vốn từ:
Theo cuốn giáo trìn Tiếng viết đã viết “Vốn từ chủ động là vốn từ mà
con người sử dụng một cách tích cực trong giao tiếp, vốn từ chủ động ở mẫu
giáo lớn nhiều hơn so với mẫu giáo nhỡ và bé”. Vốn từ chủ động chủ yếu xuất
phát từ những nhu cầu cá nhân của trẻ như ăn, ngủ, nghỉ, vui chơi, giải trí.
Theo cuốn giáo trình Tiếng viết đã viết “Vốn từ thụ động là vốn từ mà
chủ thể nói năng có thể hiểu nhưng ít được sử dụng trong giao tiếp hàng
ngày”. Vì vậy giáo viên sử dụng vốn kinh nghiệm của bản thân để giúp trẻ
chuyển từ vốn từ thụ động sang vốn từ chủ động vì chỉ có như vậy trẻ mới
phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất. Vốn từ chủ động chủ yếu là những từ
ngữ được dạy nhưng không phổ biến đối với trẻ.
Theo một số tác giả “Vốn từ cơ bản là vốn từ có tần xuất hiện cao nhất
trong giao tiếp của trẻ. Chính vì vậy dạy trẻ phát triển ngôn ngữ là phát triển
vốn từ cơ bản cho trẻ vì chỉ có thế trẻ mới có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ một
cách tốt nhất”.
1.1.2. Cơ sở tâm lý, sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lý học của trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi
Độ tuổi mẫu giáo lớn trẻ đã có cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người,
trẻ 5 – 6 tuổi không ngừng phát triển về mặt tâm lý. Cùng với quá tình phát
triển và sự giáo dục của thầy cô cảu cha mẹ thì trẻ chức năng tâm lý của trẻ
ngày càng phát tiển mạnh về mọi phương diện để xây dựng nhân cách con
người.
Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong cuộc sống hàng ngày: Một
điều quan trọng là khi đi học trẻ có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ một các tốt hơn
vào cuộc sống hàng ngày. Tiếng mẹ đẻ là phương tiện quan trọng để trẻ lĩnh
hội nền văn hóa dân tộc. Theo một số nghiên cứu “Nếu một đứa trẻ 5 – 6 tuổi
nói năng ấp úng phát âm ngọng líu ngọng lô vốn từ nghèo nàn tới mức không
đủ để diễn đạt những điều cần nói. Không sử dụng ngữ pháp để nói mạch lạc
cho mọi người hiểu mình và hiểu lời người khác nói thì có thể liệt em bé vào
loại chậm phát triển”. Trẻ 5 – 6 tuổi rất nhạy cảm đối với hiện tượng ngôn
ngữ điều đó làm cho ngôn ngữ của trẻ phát tiển rất nhanh, bước sang trường
phổ thông trẻ đã biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo.
Trẻ 5 – 6 tuổi đã nắm được ngữ âm và ngữ điệu, tai nghe được luyện tập
nhiều nên trẻ sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với tất cả các nội dung trẻ
đã được nghe.
Theo một số tác giả “Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp. Vốn từ của
trẻ mẫu giáo lớn tích lũy được khá phong phú không những chỉ về danh từ mà
cả về động từ, tính từ, liên từ... Sự lĩnh hội ngôn ngữ còn được quyết định bởi
tính tích cực của bản bản thân trẻ đối với ngôn ngữ”.
Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Theo cuốn giáo trình Tâm lý học trẻ em
lứa tuổi mầm non của Nguyễn Ánh Tuyết[13] “Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện
một trình độ phát triển tương đối cao, không những về phương diện ngôn ngữ
mà cả về phương diện tư duy, trước đây trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là
nghà trường là giúp trử hoàn thành sự phát triển tâm lý một cách tích cực và
chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1.
1.1.2.2. Đặc điểm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi
Theo cuốn giáo trình Sinh lý học trẻ em [15]đã viết: “Trẻ em là một thực
thể đang phát triển và hoàn thiện. Trẻ càng nhỏ thì phát triển càng nhanh, các
cơ quan đang trên đà được hoàn thiện về cấu tạo và chức năng nên chúng ta
có thể thấy trẻ em phát triển từng ngày từng giai đoạn. Tuy nhiên các cơ quan
và hệ cơ quan phát triển khác nhau. Quá trình hình thành các cơ quan hệ cơ
quan tác động rất lớn đên quá trình tâm lý của trẻ cũng giống như quá trình
phát triển tâm lý của trẻ”.
Các hệ cơ quan trong cơ thể gồm có: hệ thần kinh, hệ vận động, hệ cơ,
hệ tuần hoàn, hệ hô hấp.
Hệ thần kinh: Khi vừa mới sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa đủ để thực
hiện chức năng dẫn truyền và xử lý thông tin của mình. Theo cuốn giáo trình
Sinh lý học trẻ em[15] đã viết: “Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng phân tích, đánh
giá, hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động và phân biệt được các sự vật hiện
tượng bên ngoài thế giới tự nhiên. Hệ thần kinh điều khiển hoạt động của toàn
cơ thể, phối hợp điều hòa sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích
nghi được với môi trường bên ngoài và có thể cải tạo nó. Nhờ có hệ thần kinh
mà con người có tư duy và tâm lý”. Theo giáo trình Sinh lý học trẻ em lứa
tuổi mầm non [15]đã viết: “Hệ thần kinh chính là cơ quan điều khiển cơ thể
như là một khối thống nhất. Sự phát triển các đường dẫn truyền diễn ra rất
nhanh và mạnh theo độ tuổi. Vì vậy trẻ mẫu giáo phát triển mạnh hơn so với
tuổi nhà trẻ. Tất cả các cơ quan trong vỏ đại não hoạt động thần kinh cao cấp
được phát triển cao hơn. Chức năng của vỏ bán cầu đại não tăng hơn so với
trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy hành vi của trẻ có tính tổ chức cao hơn”.
Hệ vận động: bao gồm hệ xương, cơ và khớp.
Hệ xương: trong độ tuổi mầm non hệ xương của trẻ chưa hoàn thiện, trẻ
thần kinh nói chung. Trong 3 năm đâu là kết thúc sự trưởng thành về mặt giải
phẫu vùng não chỉ huy ngôn ngữ để ngôn ngữ của trẻ đạt đến mức phát triển
tốt nhất”.
Để có thể giao tiếp một cách nhanh nhất đơn giản nhất và tốt nhất chúng
ta phải nói đến bộ máy ngữ âm là nơi sản sinh âm thanh và ngôn ngữ. Đó là
một cơ quan quan trọng nhất mà thiếu nó chúng ta sẽ không phát âm được,
không ngôn ngữ. Nếu như nó bị khuyết đi một phần nào đó ví dụ sứt môi hở
hàm ếch, ngắn lưỡi... thì việc có ngôn ngữ là hết sức khó khăn. Ngay từ khi
sinh ra con người chưa có một bộ máy hoàn chỉnh mà phải qua thời gian phát
triển trưởng thành thì bộ máy phát âm của chúng ta sẽ dần hoàn thiện. Chính
lứa tuổi mầm non là giai đoạn hình thành và phát triển nhanh nhất của bộ máy
phát âm: sự xuất hiện và hoàn thiện của hai hàm răng, sự vận động của môi