Khoá luận tốt nghiệp Nhân vật người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai - Pdf 56

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

DOÃN THỊ THỦY

NHÂN VẬT NGƢỜI LÍNH THỜI HẬU
CHIẾN TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ
CỦA CHU LAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2019
HÀ NỘI - 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

DOÃN THỊ THỦY

NHÂN VẬT NGƢỜI LÍNH THỜI HẬU
CHIẾN TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ
CỦA CHU LAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 5
6. Cấu trúc của khóa luận ............................................................................... 5
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................. 6
1.1. Nhân vật văn học ..................................................................................... 6
1.1.1. Khái niệm nhân vật ............................................................................... 6
1.1.2. Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học. ....................................... 7
1.1.3. Nhân vật người lính thời hậu chiến trong văn học Việt Nam hiện đại ... 9
1.2. Tác giả Chu Lai ..................................................................................... 13
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học ............................................. 13
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Chu Lai ..... 14
1.2.3. Tiểu thuyết Phố của Chu Lai .............................................................. 17
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG THỂ HIỆN
NHÂN VẬT NGƢỜI LÍNH THỜI HẬU CHIẾN TRONG TIỂU
THUYẾT PHỐ CỦA CHU LAI

20

2.1. Người lính với bi kịch ngày trở về ......................................................... 20
2.1.1. Người lính cô đơn, lạc thời ................................................................. 21
2.1.2. Người lính với tâm hồn bị tổn thương................................................. 28
2.2. Người lính với những phẩm chất tốt đẹp ............................................... 34
2.2.1. Người lính vượt lên hoàn cảnh ........................................................... 35

thường sau khi chiến tranh kết thúc. Đúng như lời khẳng định của nhà văn Xuân
Thiều- một người lính đã từng đi qua hai cuộc chiến tranh của dân tộc: “Âm vang
của chiến tranh không chỉ là nỗi nhớ về quá khứ chưa xa, mà chủ yếu sự tác động
của chiến tranh hằn sâu vào đời sông và số phận con người cho mãi đến bây giờ”.
Từ đó tạo nên bản sắc riêng cho văn học Việt Nam sau 1975.
Trong nền văn học Việt Nam đương đại, Chu Lai được biết đến như một
bông hoa lạ, độc đáo, sáng tác và thành công ở thể loại tiểu thuyết. Từ những trải
nghiệm chân thực của chính bản thân một người đã từng bước chân vào chiến
trường, ông trở về mang những suy tư, tình cảm gửi gắm vào văn học. Tiểu thuyết
của Chu Lai một mặt luôn được điều chỉnh, cách tân cho phù hợp với yêu cầu của
lịch sử và thị hiếu của độc giả, mặt khác lại thể hiện cá tính mang đậm phong cách
Chu Lai: “Văn chương của ông là câu chuyện của những cái tận cùng, cố gắng
hướng đến cái tận cũng, nỗi khổ niềm vui, hi vọng và tuyệt vọng, can đảm và yếu
hèn, tất cả phải được nổi lên một cách không nhợt nhạt” [10]. Điều này đã ghi nhận
những đóng góp không nhỏ của Chu Lai vào sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại. Ông được tặng giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2006.
Tiểu thuyết của Chu Lai sau 1975 đã bám sát những thay đổi chung của văn
học, nhân vật người lính vẫn là nhân vật trung tâm trong các tác phẩm nhưng cảm
hứng sử thi đã thay thế bởi cảm hứng thế sự đời tư. Người lính trở về từ cuộc chiến
phải đối diện với cuộc sống đời thường, những bi kịch không thể chữa lành. Phố là
một tiểu thuyết nổi bật viết về nhân vật người lính. Trong đó, ông khắc họa sâu nhất
tình cảnh của người lính thời hậu chiến gắn với khu phố “nhà binh”, khu phố mà
tưởng như sẽ mãi mãi lặng lẽ uy nghiêm đứng giữa lòng Hà Nội như một biểu
1


tượng của sự trang nghiêm của những con người lịch sử nhưng cuối cùng cũng
không kháng cự lại được với sự biến đổi như vũ bão của thời buổi kinh tế thị
trường.
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Nhân vật ngƣời lính thời hậu

2


hoá, trí tuệ sáng suốt của người lính trẻ đã thấm nhuyễn một cách tự nhiên vào từng
chi tiết nhỏ của truyện, trong từng phán đoán nhạy bén, quả quyết”[9]. Hơn thế tài
năng và sự thành công của Chu Lai còn được minh chứng ở việc tiểu thuyết của ông
ra đời luôn nhận được sự quan tâm đón nhận của không ít độc giả yêu văn học như:
Đêm tháng hai, Sông xa, Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một lần,
Khúc bi tráng cuối cùng, Mưa đỏ... và đặc biệt là Phố. Tiểu thuyết Phố ra đời
năm 1992, là một tác phẩm gặt hái được nhiều thành công trong hệ thống các sáng
tác về đề tài người lính sau chiến tranh của Chu Lai. Tác phẩm đã đạt giải B do Nhà
xuất bản Hà Nội bình chọn năm 1993.
Đánh giá về tiểu thuyết của Chu Lai, trong bài Một đề tài không cạn kiệt, tác
giả Bùi Việt Thắng đã nhận thấy sự gắn bó của Chu Lai với đề tài chiến tranh và
đánh giá cao sự sáng tạo của ông trong việc đưa “ yếu tố đời tư” vào trong tiểu
thuyết: “ Tiểu thuyết Chu Lai giới thiệu nhiều vấn đề đáng quan tâm trên đề tài
chiến tranh với ý nghĩa như một đề tài lịch sử (...) Chu Lai làm người đọc bất ngờ vì
những khám phá nghệ thuật của mình. Nhân vật trong tác phẩm Chu Lai thường tự
soi tỏ mình, khám phá mình,khám phá một bản ngã hay một con người trong con
người”[24]. Trong một bài viết khác với tên gọi Nội lực Chu Lai, tác giả cũng đưa
ra những nhận xét về nhân vật người lính trong tiểu thuyết của Chu Lai: “ Nhân vật
người lính trong tiểu thuyết Chu Lai thường ăn sóng nói gió, thường bị cuộc đời
quăng quật đều được tôi luyện qua lửa đỏ và nước lạnh-vì thế họ trở nên rắn rỏi,
từng trải, quyết đoán bên trong cách hành xử” [25].
Không chỉ thành công trong việc triển khai nội dung, tạo dựng tình tiết và
xây dựng hình tượng nhân vật người lính, các sáng tác của Chu Lai còn đặc biệt
thành công ở phương diện nghệ thuật. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong bài viết
Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kì đổi mới đã ghi nhận những đóng góp
của Chu Lai cho tiểu thuyết đương đại Việt Nam ở phương diện nghệ thuật: “Tiểu
thuyết của Chu Lai không chỉ đa dạng trong các phương thức tiếp cận mà cả trong

đích chứng minh, làm nổi bật hình tượng người lính hậu chiến, qua đó góp phần
khẳng định tài năng và những đóng góp của Chu Lai đối với văn học đổi mới sau
1975.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài Nhân vật ngƣời lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết
Phố của Chu Lai, chúng tôi đặt ra những mục đích sau:
_ Tìm hiểu nhân vật người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu
Lai.
_ Chỉ ra một số phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện nhân vật người
lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khóa luận đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu về khái niệm, vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học,
nhân vật người lính thời hậu chiến trong văn học Việt Nam hiện đại, quan niệm
nghệ thuật về con người trong các sáng tác của Chu Lai...

4


Thứ hai: Tìm hiểu các phương diện nội dung thể hiện nhân vật người lính thời
hậu chiến trong tiểu thuyết Phố với hai nội dung chính: Người lính với những bi
kịch ngày trở về, người lính với những phẩm chất tốt đẹp...
Thứ ba: Tìm hiểu một số phương diện nghệ thuật thể hiện nhân vật người lính
thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố: Nghệ thuật miêu tả nhân vật, ngôn ngữ trần
thuật và nghệ thuật miêu tả không gian, thời gian...
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Như tên gọi của đề tài, chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu: Nhân vật ngƣời lính
thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai.

được người nghệ sĩ tái hiện mang tính khách quan có sự tương đồng tương đối rõ
nét với hiện thực. Đối với nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, nhân vật được hiểu là hình
ảnh con người hiện lên thông qua sự diễn xuất của diễn viên. Nhân vật có ngôn ngữ,
hành động, tính cách tương ứng được thể hiện theo dụng ý nghệ thuật của người
sáng tạo tác động chủ yếu vào thị giác, thính giác của người thưởng thức. Trong văn
học, nhân vật là một phạm trù quan trọng, là yếu tố trung tâm thuộc cấu trúc của tác
phẩm. Có nhiều khái niệm được đưa ra về nhân vật trong văn học.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục, 2015), tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “ Nhân vật văn học là con người cụ thể
được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng ( Tấm,
Cám, chị Dậu, anh ha), cũng có thể không có tên riêng như: thằng bán tơ, một mụ
nào trong “Truyện Kiều”. (...) thể hiện quan niệm nghệ thuật và liên tưởng thẩm mĩ
của nhà văn về con người. Vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm.
Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết
các loại. ó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với
nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với nhân vật khác. Cho nên nhân vật luôn
gắn liền với cốt truyện” [7-tr.235]
Tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (Nxb Quốc gia,
1999) lại đưa ra quan điểm về nhân vật văn học như sau:“Nhân vật văn học là đơn
vị nghệ thuật mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thực ngay
khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần nguyên mẫu có thật. Nhân vật
là sự thể hiện quan niệm của nhà văn về con người. Nó có thể được xây dựng trên
cơ sở quan niệm ấy”[1-tr.250]

6


Trong giáo trình Lí luận văn học (Nxb Giáo dục, 2007), Hà Minh Đức chủ
biên, đưa ra định nghĩa về nhân vật văn học như sau:“Nhân vật văn học là một hiện
tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi

xuất hiện những kiểu nhân vật khác nhau. Trong thời kì cổ đại, khi nhận thức của

7


con người về thế giới còn nhiều hạn chế, ta thấy xuất hiện nhiều nhân vật “thần
thánh”, cụ thể là ở thể loại thần thoại. Có nhiều hiện tượng tự nhiên mà con người
chưa thể lí giải được nên họ đã mượn hình ảnh các vị thần ( Lạc Long Quân và Âu
Cơ đẻ ra trăm trứng sinh ra con người, Nữ Oa đội đá vá trời, Các ông tát bể...) để
giải thích. Từ đó đã tạo ra văn hóa “ thờ thần” ở nhiều quốc gia đặc biệt ở phương
Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam... Qua đó thể hiện khát vọng muốn lí giải
thế giới xung quanh của con người cổ đại.
Trong văn học Cách mạng, hòa chung với không khí sục sôi của cả nước
trong những ngày tháng đánh giặc giữ nước thì nhân vật trong văn học cũng là
những con người anh dũng, lao động và chiến đấu vì lí tưởng cao cả của dân tộc.
Cái tôi cá nhân nhường chỗ cho cái ta chung vì mọi người, vì cộng đồng. Điển hình
như nhân vật chị Lý, mẹ Tơm,... trong thơ Tố Hữu, Nguyệt và Lãm trong tác phẩm
Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, chị Sứ trong tác phẩm Hòn đất của
nhà văn Anh Đức, nhân vật Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của nhà văn Nguyễn
Thi và nhiều nhân vật lí tưởng khác xuất hiện trong văn học thời kì này.
Sau chiến tranh con người được trở về với cái tôi bản thể, chính vì lẽ đó nhân
vật trong văn học hiện đại lại là những cá nhân riêng biệt với những nét tính cách
khác nhau. Họ không đơn thuần là những anh hùng mà nhân vật văn học thời kì này
có sự đa dạng về sắc thái thẩm mĩ, được khai thác ở khía cạnh như một con người
bình dị trong cuộc sống đời thường. Đó là kiểu nhân vật người lính bước ra từ cuộc
chiến như nhân vật ông Thuấn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp , Kiên
trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh,Thảo và Nam trong Phố của Chu Lai...
Tất cả đã tạo nên sự phong phú và phát triển cho văn học.
Thứ hai nhân vật văn học là hình ảnh điển hình của con người trong xã hội,
chức năng của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người. Tính cách là

phẩm. Nó cho thấy vai trò toàn diện của nhân vật, đối với cả mối quan hệ giữa nhà
văn- tác phẩm- độc giả.
Như vậy có thể khẳng định rằng nhân vật có vai trò đặc biệt quan trọng đối
với tác phẩm văn học. Thông qua nhân vật, độc giả không chỉ nắm bắt được nội
dung, nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm mà còn thấy được tư tưởng thẩm mĩ của tác
giả, thấy được sự thay đổi của con người phụ thuộc vào hoàn cảnh và những sáng
tạo mới của người nghệ sĩ.
1.1.3. Nhân vật ngƣời lính thời hậu chiến trong văn học Việt Nam hiện đại
Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước bước vào thời kì hội nhập và
phát triển. Cùng với đó, văn học Việt Nam cũng bắt kịp với xu thế đổi mới chung
của thời đại và có sự khởi sắc mạnh mẽ. Hoàn cảnh xã hội thay đổi, văn học theo đó
không còn có thể khoác mãi chiếc áo ca ngợi hào hùng, chất sử thi lãng mạn dần
khiến bức tranh văn chương nhàm chán và đơn điệu. Nhà văn và độc giả mong
muốn một nền văn học nhìn vào hiện thực, gắn với đời sống và đa chiều, đa màu
hơn. Bởi thế, hơn lúc nào hết, mỗi nhà văn đều tự đào sâu, khám phá đời sống đa

9


chiều hơn, không chỉ là cuộc sống sinh hoạt hàng ngày mà còn là mọi mặt của tâm
hồn con người.
Nhìn chung văn học từ sau 1975 đã phát triển theo hai chặng. Chặng đầu kéo
dài trong khoảng mười năm từ 1975-1985 và chặng sau là từ năm 1986 trở đi. Ở cả
hai giai đoạn này tiểu thuyết viết về chiến tranh và người lính vẫn chiếm vai trò chủ
yếu, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn cách thể hiện nhân vật người lính thời hậu chiến lại
có điểm khác biệt. Nhân vật người lính thời hậu chiến được các nhà văn khai thác
trên nhiều phương diện, khía cạnh tạo nên cái nhìn toàn cảnh về người lính ngày trở
về với những con người, số phận khác nhau.



chất của người lính được hình thành và rèn luyện trong bao nhiêu năm chiến tranh
đã giúp Hiển đứng vững và tìm thấy vị trí của chính mình trong xã hội. Điều này
cho thấy tính sử thi trong văn học vẫn còn hiện hữu nhưng đã có những cố gắng, bứt
phá, dịch chuyển dần trên cách thể hiện chân thực, sâu sắc và mới mẻ hơn.


Chặng 2: Từ sau 1986 đến nay

Văn học giai đoạn này được gọi tên “văn học đổi mới”, “văn học đương đại”.
Về đề tài trong văn học đã có sự thay đổi rõ rệt. Thay vì cảm hứng sử thi, văn học
đề cập đến cuộc sống thường ngày, về thân phận cá nhân. Nếu như ở giai đoạn
trước các sáng tác văn học chủ yếu tập trung xây dựng hình ảnh người lính trong
cuộc chiến thì đến giai đoạn này nhân vật người lính hậu chiến lại được đặc biệt
quan tâm và phản ánh. Điều đó bắt nguồn từ tâm thức hậu chiến, mà theo Bôrit
Vatxiliep- một nhà văn của Liên Xô cũ cho rằng: “Những cuộc chiến tranh lớn có
bắt đầu nhưng chẳng bao giờ có kết thúc. Nó dai dẳng trên nước mắt những người
vợ góa, người mẹ, nỗi buồn của trẻ mồ côi, tiếng rên rỉ của người lính bi thương.
Những vết thương trên mặt đất biến dần, bãi chiến trường xưa thay bằng luống cày
mới, nhưng rất lâu, rất lâu, trong mẩu bánh mì vẫn lưu lại mùi vị chua của bụi đất
và thương đau”[20]. Cùng với sự nở rộ tài năng của các tác giả văn học là hàng loạt
các tiểu thuyết ra đời: Nỗi buồn chiến tranh ( Bảo Ninh), Bến không chồng (
Dương Hướng), Thời xa vắng ( Lê Lựu), Ăn mày dĩ vãng, Vòng trong bội bạc,
Phố... ( Chu Lai), Chim én bay ( Nguyễn Trí Huân)... Tất cả đều thành công khi
nhìn lại cuộc chiến, nhìn lại quá khứ, khi đặt người lính vào hòa bình cũng như soi
chiếu những góc khuất trong tâm hồn họ. Trong truyện Tướng về hưu của Nguyễn
Huy Thiệp, nhân vật ông Thuấn khi ở chiến trường là một vị tướng giỏi chỉ huy
hàng trăm người làm nên những chiến thắng lẫy lừng cho dân tộc nhưng khi trở về
gia đình sau cuộc chiến vị tướng ấy hiện diện trong cuộc sống như một con người
“thừa”. Mọi hành động của ông đều phải dò qua thái độ của các con, ngay cả những
việc nhỏ nhất cũng không còn phù hợp với suy nghĩ của lớp trẻ bây giờ. Đặc biệt

chiến tranh đã tước đi ước vọng đó mãi mãi. Cuộc sống của chị là những chuỗi ngày
dài trong nỗi cô đơn, buồn tủi và cuối cùng chết vì căn bệnh quái ác.
Nhìn chung, đến văn học sau 1986, nhân vật người lính thời hậu chiến hiện
ra với một diện mạo hoàn toàn khác trước. Bên cạnh cảm quan sử thi, chủ nghĩa anh
hùng cách mạng là cảm quan thế sự đời tư. Văn học hậu chiến đã miêu tả người lính
bước ra khỏi cuộc chiến đấu, sống trong thời bình nhưng cuộc sống của họ vẫn
không hề bình yên, họ phải đối mặt với nhiều bất hạnh, bi kịch. Đúng như lời khẳng
định của tác giả Nguyễn Đức Thuận trong bài viết Về hình tượng người lính trong
văn học mấy năm gần đây:“Trước 1975, hình tượng người lính là những người
giàu chất lý tưởng, hầu như không có những mâu thuẫn xung đột nội tâm. Sau chiến
tranh, hình tượng người lính được nhìn nhận lại với nhiều điểm mới, mà rõ nét nhất
là sự “vênh lệch” giữa phẩm chất người lính, người anh hùng thời chiến trước đây
với những ứng xử của họ trong cuộc sống đời thường, trong các mối quan hệ riêng
tư…. Những người lính trước đây được khắc họa là những người “làm chủ hoàn
cảnh”, có khả năng khắc phục mọi trở ngại để đạt được mục tiêu, lý tưởng, thì, nói

12


một cách khái quát, người lính sau chiến tranh chịu sự chi phối nghiệt ngã của
hoàn cảnh, tác động đến số phận và tính cách của con người họ”.[28]
1.2. Tác giả Chu Lai
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học
Chu Lai tên khai sinh là Chu Văn Lai, sinh ngày mùng 5 tháng 2 năm 1946
tại xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh ra trong một gia đình
giàu truyền thống nghệ thuật, kế thừa niềm đam mê văn chương từ cha - là nhà viết
kịch Học Phi. Chu Lai bén duyên nghệ thuật từ rất sớm. Trong hoàn cảnh đất nước
chiến tranh, mới học hết năm đầu Đại học Quân y ở Cầu Tó, Chu Lai đã tạm gác lại
chuyện đèn sách lên đường nhập ngũ. Vốn là người có năng khiếu nghệ thuật, ông
trở thành một diễn viên kịch, công tác trong đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị, rồi

Chặng 3: Từ sau 1986: Tiếp nối đề tài chiến tranh và người lính nhưng sáng

tác của Chu Lai thời kì này đã mang một hơi thở mới, bắt kịp với xu thế đổi mới
của văn học nói chung. Hầu hết các tác phẩm đi sâu vào số phận người lính trong và
sau chiến tranh, nỗi đau đớn, dằn vặt, vấp ngã, trăn trở của họ khi trở về cuộc sống
đời thường. Giai đoạn này Chu Lai đặc biệt sáng tác thành công trên thể loại tiểu
thuyết gây được tiếng vang lớn: Sông xa (1986), Bãi bờ hoang lạnh (1990), Ăn
mày dĩ vãng (1991), Phố (1992), Ba lần và một lần (2000), Vòng tròn bội bạc
(1996), Cuộc đời dài lắm (2002), Khúc bi tráng cuối cùng (2004), Chỉ còn một lần
(2006), Hùng Karo (2010), Mưa đỏ (2016). Chất lãng mạn và tính sử thi hầu như
không còn, thay vào đó là sự khốc liệt, thực tế trần trụi của số phận người lính mà
nhiều nhà văn muốn né tránh thì Chu Lai không ngần ngại bóc tách và phơi bày nó.
Có thể thấy Chu Lai có một sự nghiệp sáng tác văn học hết sức đồ sộ trên
nhiều thể loại: kịch bản, truyện ngắn, tiểu thuyết... và có những đóng góp hết sức to
lớn làm phong phú kho tàng văn học Việt Nam với nhiều tác phẩm đặc sắc. Ông đã
được nhận Giải thưởng Hội đồng Văn học chiến tranh Cách mạng và lực lượng vũ
trang (Hội Nhà văn) với tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (1993); giải thưởng Nhà nước
về Văn học nghệ thuật năm 2007… Hiện ông là Trưởng Ban sáng tác Hội Nghệ sĩ
Sân khấu Việt Nam.
1.2.2.Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời trong tiểu thuyết của Chu Lai
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng, được nói
đến rất nhiều trong văn học. GS.Trần Đình Sử trong cuốn Giáo trình thi pháp học
cho rằng: “Văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính chất
quan niệm rất cụ thể” và “ ình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành là mang
tính chất quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái vô thức. Nhà văn
không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng” [23-tr.23]. Quan
niệm nghệ thuật về con người là vấn đề then chốt để nhà văn sáng tạo nên tác phẩm,
là yếu tố cốt lõi xuyên suốt quá trình sáng tác của nhà văn để tạo nên tổng thể một
tác phẩm toàn vẹn, thống nhất. Quan niệm nghệ thuật về con người phản chiếu cách
nhìn nhận của nhà văn với con người người thời đại. Đây được coi là tiêu chuẩn

hình thành nên một khoảng trống vô hình ngăn cách anh và gia đình. Chính điều đó
đẩy Linh rơi vào bi kịch.
Nếu như Út Loan trong tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc rơi vào bi kịch đánh
mất mình vì đồng tiền, danh lợi thì nhân vật Ba Sương trong Ăn mày dĩ vãng lại
đánh mất mình vì hào quang quá khứ, khiến cô phải tự chối bỏ tên thật của mình để
trở thành Tư Lan, một người đàn bà giàu có, sang trọng, tìm mọi cách để chạy trốn
quá khứ, chạy trốn chính mình. Có thể thấy viết về bi kịch của người lính cũng
chính là cách Chu Lai thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá của mình về những con
người trong xã hội, phơi bày hiện thực xã hội đương thời đồng thời bộc lộ tư tưởng
nhân văn của nhà văn trước số phận của những người lính trong và sau chiến tranh.
Từ đó mang đến cho người đọc cái nhìn đa diện hơn về con người đặc biệt là hình
ảnh người lính.

15


Không chỉ quan tâm đến số phận bi kịch của con người, Chu Lai còn nhìn
nhận con người trên góc độ là sản phẩm của lịch sử. Tính cách, phẩm chất của con
người được hình thành phần lớn là do yêu cầu của thời đại. Lịch sử xã hội như thế
nào sẽ sản sinh ra những con người như thế ấy. Nếu con người được đặt để đúng
thời đại của mình họ có thể phát huy toàn bộ sức mạnh của bản thân và ngược lại
khi đặt con người sai môi trường phù hợp thì rơi vào bi kịch là điều khó tránh khỏi.
Nhiều trang viết trong tiểu thuyết của Chu Lai đã đi vào phân tích số phận của con
người khi được đặt trong những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau. Đất nước trong
những năm chiến tranh ác liệt đã sinh ra những người anh hùng, không cho phép
mình bị khuất phục trước bất kì thế lực nào. Danh dự lính chiến và nhân phẩm
không cho phép họ phản bội lại lí tưởng cao cả, phản bội lại bạn bè thân yêu. Đúng
như lời của nhân vật Hai Hùng trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng nói: “ Chúng tôi,
những con trai con gái từ hậu phương lam lũ và đau thương tình nguyện từ trái tim
chân thật vào đây để thực hiện ý tưởng giải phóng quê hương (...) Chúng tôi đã ngã

để hi sinh cho dân tộc, qua đó càng đề cao phẩm chất dũng cảm, kiên cường của
nhân vật người lính trong tác phẩm của Chu Lai. Viết về những vấn đề xoay quanh
bình diện con người mang thuộc tính nhân loại, Chu Lai không chỉ dừng lại ở mối
quan hệ giữa con người và chiến tranh, con người với con người mà còn đi sâu lí
giải tình yêu mang tính nhân loại. Nhiều tiểu thuyết của ông đã xuất hiện những tình
yêu đẹp: Linh- Thúy trong tác phẩm Nắng đồng bằng, Vũ Nguyên- Hà Thương
trong tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm, Nam- Thảo trong tiểu thuyết Phố... Không chỉ
là tình yêu trong sáng, mơ mộng mà Chu Lai không ngần ngại đả động đến vấn đề
tình dục như một nhu cầu mang tính bản năng của con người dù ở bất kì ở thời đại
nào. Những người lính, họ cũng là những con người bình thường. Sau mỗi trận đánh
ác liệt, ở những khoảng lặng hiếm hoi được nghỉ ngơi thì những ham muốn rất đời
thường lại bùng lên mãnh liệt. Nhân vật Thu trong tác phẩm Ba lần và một lần
thỉnh thoảng lại mắc căn bệnh kì lạ: “ ang ngồi lau súng đột nhiên lăn đùng ngã
ngửa ra, bọt mép sôi xèo xèo trên miệng, tay chân chòi đạp bấn loạn, cái cạp quần
ni- lông trễ xuống dưới hông để hở ra cả một mảng bụng lẫn mảng ngực trắng lốp”
[11-tr.21], căn bệnh ấy chỉ có bàn tay đàn ông mới có thể chữa khỏi được. Chính sự
khám phá tình yêu, tình dục của con người như một thôi thúc bản năng đã giúp cho
nhân vật trong tác phẩm của Chu Lai được thể hiện chân thực, gần gũi hơn.
Có thể thấy Chu Lai là một nhà văn có nhiều sáng tạo trong việc đổi mới
quan niệm nghệ thuật về con người. Ông quan tâm đến số phận bi kịch của con
người, coi con người là sản phẩm của lịch sử xã hội và nhìn nhận con người với tư
cách là những cá nhân tự nhiên, nhân bản nhất. Điều này đã giúp cho thế giới nhân
vật trong tiểu thuyết của ông phong phú, hấp dẫn. Qua đó thể hiện nhãn quan nhân
sinh tiến bộ, phù hợp với yêu cầu đổi mới văn học, nhìn nhận con người ở nhiều
phương diện, trên tổng hòa các mối quan hệ xã hội của Chu Lai.
1.2.2. Tiểu thuyết Phố của Chu Lai
Tiểu thuyết Phố của Chu Lai sáng tác năm 1992, dựa trên truyện ngắn Phố
nhà binh. Ban đầu nhà văn đặt tên cho cuốn tiểu thuyết là Phố lính, sau đó đổi tên

17

Phố không chỉ là câu chuyện riêng của gia đình Nam – Thảo mà ở đó còn là câu
chuyện của nhiều gia đình, nhân vật khác. Trong đó có câu chuyện về gia đình Lãm.
Lãm xuất thân là một người lính đã từng tham gia chiến tranh biên giới. Sau khi giải
ngũ anh bị chính người bố ruột cuả mình đuổi khỏi nhà vì cưới một cô gái người
miền ngược có nhiều điều tiếng làm vợ. Hai vợ chồng anh phải sống tạm bợ ngay
trên vỉa hè của con phố Lý Nam Đế. Thậm chí, họ còn cho ra đời hai đứa con ngay
18


trên chính hè phố này. Nhờ sự nỗ lực, cố gắng, trải qua những ngày tháng khó khăn
chật vật, Lãm đã vươn lên chiến thắng hoàn cảnh. Phố còn là câu chuyện về Trọng
Bình- biên kịch điện ảnh, cựu phóng viên quay phim chiến trường và là bạn thân
của Nam. Luôn quan tâm đến người khác và nói rất hay về triết lý cuộc sống nhưng
Bình lại có cuộc sống riêng không hạnh phúc. Bình luôn có một ước mong trong
cuộc đời của mình đó là làm một bộ phim về đề tài chiến tranh. Bất chấp sự lạc thời
của đề tài phim ảnh mà anh theo đuổi, Bình đã dành toàn bộ những gì mình có để
làm nên bộ phim ấy nhưng anh thất bại.
Tiểu thuyết Phố giống như một thước phim chính luận quay chầm chậm các
ngóc ngách của các gia đình trong khu phố lính, không bi tráng, hào hùng nhưng lại
thâm trầm và sâu sắc:“ Phố hiện lên không phô trương, màu mè, không bi tráng,
lãng mạn, không thô tục, phố lính là nơi tập hợp những ngôi nhà nhà binh, những
giáo tranh của giá trị cũ- cái truyền thống và các giá trị mới trong thời buổi đất
nước mới mở cửa chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Cái chất
tình người lính với nhau cũng như nhịp đập nhanh gấp, trầm lắng của mọi người
trong khu phố. Các xung đột luôn được đẩy nhanh, mừng vui, bi kịch... chuyện của
nhân vật chính, phụ. Tất cả các chi tiết đan xen với nhau tạo nên Phố hay một bức
tranh chung của toàn xã hội”[3]. Qua tác phẩm, Chu Lai đã dựng nên một câu
chuyện dữ dội, sâu cay và thấm đẫm tình người, tình đời. Đọc tiểu thuyết này,
chúng ta sẽ cảm nhận được sau chiến tranh có những thứ còn đáng sợ hơn cả bom
đạn, khói lửa, khiến cho người đọc có những chiêm nghiệm xoay quanh các giá trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status