Cuộc sống người lính trở về sau chiến tranh trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai : KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN DIỆU LINH

CUỘC SỐNG NGƢỜI LÍNH TRỞ VỀ SAU CHIẾN TRANH
TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ CỦA CHU LAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
em trong quá trình thực hiện khóa luận. Thông qua đây em cũng xin gửi lời cảm
ơn đến gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận
một cách hiệu quả. Mặc dù đã rất cố gắng nhưng khóa luận không tránh khỏi
những thiếu sót, em rất mong nhận được những góp ý chân thành từ phía các
thầy cô để khóa luận hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Diệu Linh
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của khoá luận 7
7. Cấu trúc khoá luận 7
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1. Những chuyển biến về xã hội, văn học từ năm 1975 8
1.1.1. Chuyển biến về mặt xã hội 8
1.1.2. Chuyển biến về mặt văn học 8
1.2 Nhà văn Chu Lai – cuộc đời và sự nghiệp sáng tác. 12
1.2.1 Cuộc đời 12
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác 14
CHƢƠNG 2. CUỘC SỐNG NGƢỜI LÍNH SAU CHIẾN TRANH TRONG

chiến tranh các tác giả cưa làm được. Sau năm 1975, mặc dù không còn chiếm
vị trí độc tôn như trong giai đoạn 1945 – 1975 nhưng đề tài chiến tranh vẫn được
các nhà văn mặc áo lính chú ý khai thác và đã để lại dấu ấn sau sắc trong lòng
độc giả.
Chu Lai là một tác giả đứng ở địa vị từng là một người lính, ông có một bề
dày thực tế phong phú và sự chiêm nghiệm sâu sắc từ hiện thực chiến tranh, ông
không bằng lòng với những gì đã có. Với ông, chiến tranh không chỉ là chuyện
sống chết mà cao hơn là giá trị nhân văn, giá trị hiện thực. Chu Lai, bằng sự
nhạy cảm của một tài năng văn học, bằng sự trải nghiệm của người lính trở về
sau chiến tranh hoà chung vào tinh thần đổi mới văn học, ông đã phát hiện ra
vấn đề. Một trong những vấn đề đó là giá trị đạo đức, là nhân cách là nhân phẩm
con người trong chiến tranh và hậu chiến. Với cuốn tiểu thuyết Phố và các tác
phẩm khác đã đưa Chu Lai trở thành một trong những nhà văn hàng đầu về đề
tài chiến tranh ở Việt Nam năm 1975.

2
Tiểu thuyết Phố của nhà văn Chu Lai đã được coi là tiểu thuyết dặc sắc
nhất viết về cuộc sống người lính thời hậu chiến và đã chuyển thể thành bộ phim
truyền hình Người Hà Nội phát trên Đài Truyền hình Việt Nam.
Trong cuộc sống hôm nay, do sự tác động nhiều mặt của đời sống, nhiều
thế hệ trẻ chưa hiểu hết được ý nghĩa cuộc chiến vĩ đại của dân tộc và chưa biết
trân trọng biết ơn những gì mình được thừa hưởng tù những con người đã hy
sinh vì màu cờ của Tổ quốc chịu mất mát một phần máu thịt cho họ có cuộc
sống như ngày hôm nay.
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một cái nhìn mới về hình
tượng người lính trở về sau chiến tranh trong tiểu thuyết Phố của nhà văn Chu
Lai. Qua đó đem lại những giá trị tinh thần to lớn để cuộc sống hôm nay ngày
càng tốt đẹp hơn. Đó là lý do khiến chúng tôi chọn đề tài: “Cuộc sống người lính
trở về sau chiến tranh trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai”.
2. Lịch sử vấn đề

văn chiến sĩ, khẳng định phẩm chất người lính trong chiến tranh: “Trong truyện
Chu Lai, cái vốn tri thức văn hoá, trí tuệ sáng suốt của người lính trẻ đã thấm
nhuyễn một cách tự nhiên vào từng chi tiết nhỏ của truyện, trong từng phán
đoán nhạy bén, quả quyết, để dẫn tới chiến thắng cuối cùng ở nhân vật”[5]
Trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tháng 2/1993, trong bài Một đề tài không
cạn kiệt, Bùi Việt Thắng viết: “Nhân vật Chu Lai được thể hiện như những con
người tâm linh. Họ sống bởi những ám ảnh của ảo giác, hối thúc của sự sám
hối, luôn tìm kiếm sự giải thoát. Đó là những con người trở về sau chiến tranh
bị mất thăng bằng, khó tìm được sự yên ổn trong tâm hồn. Họ sống trong cảm
giác không bình yên… đi vào ngõ ngách đời sống tâm linh con người. Chu Lai
làm người đọc bất ngờ vì những khám phá nghệ thuật của mình: Nhân vật Chu
Lai thường tự soi tỏ mình, khám phá mình, khám phá một bản ngã hay là một
con người trong con người”[9,104]
Hồng Diệu nhận xét: “Chu Lai là nhà văn chung thuỷ với đề tài chiến
tranh, anh có nhiều tác phẩm viết về đề tài người lính trên cả ba mặt trận: Văn
học – Sân khấu - Điện ảnh”[2, 6]
Viết về người lính sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kì đổi mới,
Nguyễn Hương Giang cho rằng: “Sự thật về chiến tranh hôm nay được nhìn lại

4
là một sự thật trải qua những năm tháng đầy day dứt, trăn trở trong tâm hồn
nhà văn Chu Lai, hơn thế nó thực sự là những nếm trải của người “ chịu trận”,
người trong cuộc”[4]
Lý Hoài Thu cũng khẳng định: “ Dù trực tiếp viết về dĩ vãng mịt mù bom đạn
hay chuyển dịch sang tiếp cận những “kênh”, thông tin mới xô bồ của thời hiện
tại, bao giờ Chu Lai cũng nghiền ngẫm, suy tư về hiện thực với sự nhiệt tâm và
lòng trung thực của người lính”. Trong tập truyện ngắn Phố nhà binh, Lý Hoài
Thu viết: “Nếu như trước kia, các nhân vật của anh được mô tả chủ yếu ở cốt
cách anh hùng trận mạc thì hiện nay (…) Chu Lai tập chung khai thác quãng
đời thứ hai: quãng đời phía sau chiến trận của người lính”[11]

đột đặc biệt là cái nhìn khá mạnh dạn của Chu Lai. Ông nói rằng: “Vòng tròn
bội bạc của Chu Lai có những trang hấp dẫn, người đọc đã cầm đến sách là
phải đuổi theo câu chuyện đến cùng” [1, 9]
Bích Thu trong bài viết Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam từ
sau đổi mới cũng khẳng định: “Với Ăn mày dĩ vãng, nhà văn Chu Lai muốn gửi
đến bạn đọc thông điệp đừng lãng quên quá khứ. Nhân vật Hai Hùng với tư
cách người kể chuyện xưng tôi trong tác phẩm để từ một sự việc cụ thể của hiện
tại gợi lại trong ký ức của anh những kỷ niệm đã qua. Nhân vật chìm trong hồi
tưởng. Trạng thái cảm xúc, suy nghĩ, liên tưởng bất chợt như những dòng chảy,
thay thế nhau, đan xen nhau một cách lạ lùng, phi lôgic. Đó là dòng chảy tự
nhiên của ý thức con người, trong dòng chảy đó bộc lộ những bí mật của nội tâm
nhân vật” [2, 590 -591] . Ở một chỗ khác, Bích Thu lại đề cập đến một khía cạnh
của thi pháp tiểu thuyết sau 1975 và trong tiểu thuyết Chu Lai sau những năm đổi
mới đến nay đã sử dụng mô tuýp giấc mơ, giấc mơ chiêm bao như một ngôn ngữ
độc thoại đặc biệt để giả mã thể giới vô thức của con người. Thủ pháp này thể
hiện rõ trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai.
Nhìn chung, hình tượng người lính trở về sau chiến tranh trong văn xuôi
Việt Nam những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu với những ý
kiến khác nhau, phong phú và cũng có những ý kiến sâu sắc. Tuy nhiên chưa có
công trình nào đặt vấn đề tìm hiểu về cuộc sống người lính trở về sau chiến tranh
trong tiểu thuyết Phố một cách tập chung và có hệ thống.

6
Với Chu Lai, như tôi đã nói ở trên, ông vẫn còn là một nhà văn “mới” sau
1975, sáng tác của ông những năm 80 của thế kỉ XX cũng khá dày dặn và bề thế.
Sáng tác của ông ở chặng đường này còn ít được nghiên cứu. Như vậy, có thể
nói nghiên cứu về hình tượng người lính sau chiến tranh trong tiểu thuyết Phố
Chu Lai còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ ở những goá độ riêng tư nhất. Ý kiến của
những người đi trước là những gợi ý, những tư liệu quý giúp chúng tôi đi sâu
tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề người lính trong tiểu thuyết Chu Lai với một cái

tích các vấn đề đã nghiên cứu về đối tượng. Ngoài ra, so sánh đối chiếu với các
tác phẩm khác cùng viết về người lính của nhà văn Chu Lai.
5.3. Phƣơng pháp tổng hợp
Trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu tôi tiến hành khái quát tổng hợp lại
vấn đề trong một cái nhìn toàn vẹn nhất về hình tượng người lính thời hậu chiến
trong các sáng tác của nhà văn Chu Lai
6. Đóng góp của khoá luận
Thực hiện khoá luận này tôi mong muốn làm sáng tỏ và rõ nét hơn về đời
sống của người lính sau khi lập lại hoà bình, vị trí và vai trò của Chu Lai trong
nền văn học nước nhà đồng thời sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên
khoa Ngữ Văn trường Đại học Tây Bắc trong việc học tập, nghiên cứu và giảng
dạy các sáng tác của Chu Lai.
7. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, khoá luận được triển khai trong 3
chương.
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Cuộc sống người lính sau chiến tranh trong tiểu thuyết Phố của
nhà văn Chu Lai.
Chương 3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng người lính trong tiểu thuyết
Phố của Chu Lai

8
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Những chuyển biến về xã hội, văn học từ năm 1975
1.1.1. Chuyển biến về mặt xã hội
Từ năm 1945 – 1975, đất nước ta tập chung vào hai cuộc kháng chiến
chống xâm lược. Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp (1945-1954) và chiến
tranh chống Đế quốc Mĩ, một trong những đất nước hùng mạnh lúc bấy giờ
(1955- 1975). Sau năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông quy về

cao rộng và đi vào chiều sâu cá nhân của chủ thể sáng tạo và phản ánh những
mặt tiêu cực trong xã hội, các nhà văn giai đoạn này không còn né tránh những
vấn đề xấu, những vấn đề tiêu cực, văn học thời kì này đã dũng cảm vạch trần
cái xấu của xã hội ( kịch của Lưu Quang Vũ hay tiểu thuyết của Nguyễn Mạnh
Tuấn…. Nhìn thẳng vào những thất bại trong chiến tranh Đất Trắng của Nguyễn
Trọng Oánh. Các nhà văn đã đưa vào văn học những tấn bi kịch cá nhân của con
người Người đàn trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn
Minh Châu; Thời xa vắng của Lê Lựu hay Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng. Tham gia chống tiêu cực Phùng Gia Lộc – Cái đêm hôm ấy tên gì, Hoàng
Hữu Các – Tiếng đất, Hoàng Minh Tưởng – Làng giáo có gì vui.
Chất nhân văn nhân bản bộc lộ trông thân phận nhân vật, cá thể hoá về
phương pháp, đa dạng hơn phong cách mở rộng cách thức, thủ pháp nghệ thuật,
tạo lập ngôn từ, đổi mới tư tưởng thẩm mĩ, hệ thống thể loại, thi pháp, phong
cách nghệ thuật, mở rộng giao lưu với văn học thế giới nhưng vẫn đề cao tiêu
chí văn hoá và bản sắc dân tộc.
Văn học thời kì này không còn được nhìn nhận từ một phía nền văn học đã
phản ánh được nhiều chiều của cuộc sống. giờ đây bên cạnh nhiệm vụ tiếp tục
đề cao cái đẹp, cái mới, cái tốt, nhà văn được phép viết nhiều hơn về mặt trái
của xã hội, được khuyến khích chỉ ra cái tiêu cực trong đời sống xã hội cản trở
việc xây dựng chủ nghĩa xã hội gây phiền nhiễu cho nhân dân xét về phương
diện khác chủ trương của Đảng và nhà nước phù hợp với tâm trạng của quần
chúng và nguyện vọng của nhà văn, do hoàn cảnh chiến tranh các hiện tượng
trong đời sống, trong bộ máy nhà nước bị tạm giấu đi nay đền thời hoà bình
những hiện tượng đó được chú ý phơi bày cộng thêm những tiêu cực mới gây

10
bất mãn trong nhân dân, văn học tất yếu trở thành người phát ngôn cho xã hội,
nói lên tiếng nói của quần chúng, việc tố cáo cái ác và bất công, những thao thức
về tội lỗi và đau khổ vốn rất gần với thiên chức của văn học như một nhà văn
Nga đã nói: “chừng nào trong cuộc đời còn nhiều điều ác thì chừng đó có cớ để

tích cực vừa có tác động tiêu cực đối với đời sống người lính. Một mặt nó thanh
lọc, tẩy rửa những vết nhơ, vết hắc ám của cuộc sống đầy cạm bẫy và con người
có thể bị cuốn vào vòng xoáy của sự cám dỗ bất cứ lúc nào; mặt khác, nó kéo
căng hơn, xa hơn khoảng cách giữa những người lính và cộng đồng xung quanh
làm cho họ mất khả năng hoà nhập. Tác phẩm Tiễn biệt những ngày buồn của
Trung Trung Đỉnh kể về một xóm lính nhỏ năm ngay giữa lòng thủ đô mà như
đi bên lề của nó. Phố xá Hà thành sôi động phồn hoa là thế mà như không có
một dính dáng liên quan gì đến khu tập thể tồi tàn của những người lính làm
công tác văn hoá. Những căn phòng nhỏ hẹp, mối quan hệ giản đơn gợi cái ngột
ngạt, bế tắc, quanh quẩn. Họ buông cây súng trở về với đời thường một cách
bình lặng nếu như không nói là tẻ nhạt. Phía sau cuộc chiến sao còn lắm nỗi éo
le? Hình như có một sự tương phản rõ rệt giữa cuộc đời anh hùng trận mạc còn
nửa kia lại chỉ là một con tốt đen giữa bàn cờ, giữa đời thường. Số phận nhân
vật Nguyễn Vạn trong Bến không chồng của Dương Hướng là một ví dụ, ông
Đông trong Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Hai Hùng, Ba Thành
trong Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Kiên trong Thân phận tình yêu của Bảo
Ninh và Xoan, Luân, Ron, Hà trong Tiễn biệt những ngày buồn của Trung
Trung Đỉnh… Những người lính một thời coi cái chết nhẹ tựa lông hồng ấy bấy
giờ như lạc lõng, bơ vơ giữa dòng đời xô bồ, ồn ã. Họ không còn là những anh
hùng trận mạc, cũng không như những người bình thương, mà số phận của
họ,phần đời còn lại của họ đang nổi bão dông. Đi sâu vào miêu tả số phận người
lính hậu chiến với những diễn biến phức tạp trong nội tâm của mỗi nhân vật
cũng là khi các nhà văn đang đẩy nhanh tốc độ đổi mới tiểu thuyết ở nhiều bình
diện: đề tài, cảm hứng, nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người… Số phận
đời tư người lính sau chiến tranh là số phận bi kịch. Họ không chỉ là con người
xã hội mà trước hết là con người cá nhân, cá thể với đầy đủ sự phức tạp và đa
dạng của nó. Nhân vật Đông trong Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng
vốn là một người lính hiền lành, giản đơn trong quan niệm về hạnh phúc, khổ

12


13
Quê gốc là ở thôn Tam Nông, xã Hưng Hạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Cha ông là nhà viết kịch Học Phi. Gia đình Chu Lai chuyển lên Hà Nội sống từ
lâu bởi vậy, trong tâm hồn nhà văn Chu Lai chẳng những có hương vị ngọt ngào
của quê hương làng mạc mà còn có cốt cách lịch lãm của một người con trai đất
Kinh kỳ.
Học hết phổ thông, Chu Lai thi đỗ vào đại học. Chứng kiến cảnh đất nước
chìm trong khói lửa cuộc kháng chiến chống Mỹ, Chu Lai tình nguyện lên
đường nhập ngũ khi mới học hết năm thứ nhất đại học. Thời kì đâu quân ngũ
Chu Lai được điều về làm diễn viên Đoàn Kịch nói Tổng cục Chính Trị sau đó
Chu Lai xin ra chiến trường trực tiếp cầm súng chiến đấu và chuyển về đơn vị
đặc công chiến đấu ở vùng ven Sài Gòn trong những ngày gian khổ ác liệt nhất
của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong khoảng thơi gian là người chiến sĩ đặc
công, ông viết văn như viết nhật kí, trong lúc ông có sự đam mê, tình yêu
thương, lòng hận thù thôi thúc, để rồi những tác phẩm chắt lọc từ cuộc chiến đấu
được bỏ vào thùng đạn đại liên đem giấu xuống đáy sông Sài Gòn. Có lẽ những
năm tháng vào sinh ra tử ở những vùng ven đô Sài Gòn đã để lại dấu ấn sâu sắc
trong tâm hồn Chu Lai và cho ông vốn sống phong phú về số phận con người ở
nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ là gang tấc. Mười năm ở đơn vị đặc
công, Chu Lai giữ chức đại đội trưởng trinh sát chiến đấu cho đến ngày Miền
Nam giải phóng, thống nhất đất nước.
Sau năm 1975, ông trở về làm trợ lý tuyên huấn Quân khu VII. Cuối năm
1976, ông về trại sáng tác văn học Tổng cục chính trị, sau đó đi học lớp khoá I
của trường viết văn Nguyễn Du. Tốt nghiệp trường viết văn, ông về công tác tại
tạp chí Văn nghệ Quân đội. Với tố chất văn chương, nghiệp nhà văn cùng với
vốn sống, vốn chiến đấu lăn lộn mười năm ở chiến trường đã giúp ông tích luỹ
được những kinh nghiệm dày dặn và vốn sống phong phú. Và rồi “cái nghiệp
chướng văn chương đã khiến ông trở thành một người lao động cặm cụi khổ đau
trên cánh đồng chữ nghĩa”. Dù rất khiêm tốn tự nhận mình như “con tôm nuôi

“nói ra được nhiều điều cần nói về những năm tháng chiến tranh hôm nào mà
anh là người trong cuộc”. Nhà văn biết vượt qua khỏi sự mô tả hiện thực thông
thường, vượt lên trên những ràng buộc của thời sự và tuyên truyền để đi sâu
khám phá chiều sâu hiện thực và thế giới nội tâm người lính. Chu Lai, tác giả

15
của hàng loạt tiểu thuyết về chiến tranh: Phố; Ăn mày dĩ vãng; Vòng tròn bội
bạc; Ba lần và một lần đã từng có những năm tháng “chịu trận” như thế ở vùng
ven đo Sài Gòn, tuy Trung Đỉnh cũng là một nhà văn có nhiều vốn ống về chiến
tranh Tây Nguyên, đặc biệt là cuộc chiến tranh du kích mà nhà văn từng là một
người trong cuộc. Bùi Bình Thi, tác giả của Hành lang phía đông, mặc dù không
phải là người lính nhưng đã có nhiều năm lăn lộn với chiến trường. Lê Lựu,
Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Trí Huân, Trần Huy Quang cũng không nằm ngoài
hai trường hợp trên. Bởi thế, chiến tranh hiện diện trong tác phẩm của họ không
chỉ là sự kiện, những biến cố lịch sử mà còn là số phận con người”. [4,109]
Với tư cách là người từng tham chiến, vốn sống ở chiến trường đủ cho Chu
Lai tái hiện hiện thực chiến tranh với tất cả hình thái đặc thù của nó. Trong
những trang tiểu thuyết, không ít lần ông nói lên suy nghĩ của mình: “ chiến
tranh là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chả đến lượt chôn mình”. Một định
nghĩa ngắn gọn, giản dị, mộc mạc nhưng nó cho thấy được bộ mặt ghê rợn,
khủng khiếp của chiến tranh, thấy được cái tàn nhẫn, phi nhân tính mà chiến
tranh đã gieo rắc cho một dân tộc yêu chuộng hoà bình. Chu Lai không chỉ có cơ
hội quan sát mà còn sống đến tận cùng nỗi đau. Chiến tranh không phải là “
ngày hội lớn của dân tộc” mà là “một luật chơi tàn bạo”; không phải là “mảnh
đất bằng phẳng trồng toàn hoa” mà là nơi “ xác người xấp ngửa, xác muôn thú
cháy thui”. Không lẩn tránh sự thật, những mất mát đau thương được nhà văn
miêu tả đến tận cùng, qua việc khám phá hình tượng người lính.
Chu Lai còn có những phát biểu mang tính chính thức trong các hội thảo
thể hiện tâm huyết, năng lực của ông trong sự nghiệp cầm bút. Văn đàn là nơi
thể nghiệm, là nơi ác nhà văn dồn tâm tư, uẩn khúc, báo động cho cuộc đời biết

mới của công chúng ngày nay. Số phận con người được quan tâm ở nhiều góc
độ, đặc biệt là hình ảnh người lính trở về sau chiến tranh đã trở thành vấn đề
nhức nhối với một quá khứ ám ảnh mang nặng kí ức chiến tranh họ sẽ như thế
nào trong cuộc sống hiện đại thời bình? Đó chính là cảm hứng bao trùm lên các
sáng tác của Chu Lai.
1.2.2.4. Đề tài ngƣời lính trong các sáng tác của Chu Lai
Với mười một tiểu thuyết xoáy sâu vào một đề tài chủ lực là người lính thời

17
bình, mối quan hệ đa chiều của họ trong các lĩnh vực phức tạp của cuộc sống
hiện nay, Chu Lai là một trong những người ở vị trí hàng đầu của dòng chảy văn
học Việt Nam đương đại ở đề tài người lính thời hậu chiến. Các tiểu thuyết của
Chu Lai tuy tập chung ở một đề tài, song, thông qua đó, rất nhiều lĩnh vực của
cuộc sống được khai thác và phản ánh khá sâu sắc mà hình tượng người lính
luôn là tâm điểm.
Tiểu thuyết viết về người lính thời hậu chiến đã có được thành tựu rất đáng
ghi nhận. Người lính giữa lòng đời thường với bao bộn bề trăn trở chính là mối
quan tâm của các nhà văn. Những day dứt âm thầm về quá khứ như là một “căn
bệnh” cố hữu của người lính hôm nay. Trong tâm tưởng những người đã từng đi
qua nặng nề của chiến tranh, mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho người
lính hậu chiến không có được cuộc sống bình yên. Các nhà tiểu thuyết nghiêm
túc nhìn nhận lại cuộc chiến đã qua và đồng cảm sâu sắc với tâm tư của người
lính hôm nay. Đó là những giá trị thẩm mỹ cần được khẳng định.

18
CHƢƠNG 2. CUỘC SỐNG NGƢỜI LÍNH SAU CHIẾN TRANH
TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ CỦA NHÀ VĂN CHU LAI

2.1. Ngƣời lính với những hoài niệm về quá khứ
Chiến tranh đã qua hơn ba mươi năm, cuộc sống đang trong cơn lốc cựa

của vợ chồng Nam cũng phải thốt lên “ả đẹp thật!”. Sự xuất hiện của Thảo trong
chiến tranh giống như một phép lạ đối với tất cả người lính nhưng Nam thì
dường như không hề hay biết đến sự có mặt của cô ở đó cho đến khi anh “anh
ngỏ ý được đích thân đưa cô về” sau khi cô kiểm tra và điều trị cho những bệnh
binh sốt rét ác tính ở đại đội của anh. Vào đêm mưa rừng ấy hai người hai sắc
thái đối lập nhau đã trao cho nhau tình yêu và cũng chính nhờ có chiến tranh mà
họ đã nuôi dưỡng được tình yêu của mình trong suốt những năm tháng ác liệt, để
rồi khi hoà bình lặp lại cô và anh đã đi đến hôn nhân và có bé Niên Thảo. Nhưng
cuộc sống của họ không chỉ dừng lại ở đó, giữa cái ngổn ngang bề bộn của cuộc
sống, thiên hạ đang tự thoát xác để lao vào làm ăn thì vợ chồng Nam và Thảo
cũng phải đối mặt với những khó khăn „tiền điện tháng này lên đến gần bảy
mười ngàn anh ạ!”, “tiền học thêm của con các khoản gần bốn chục ngàn nữa”,
“thế chỉ còn một trăm năm mươi ngàn tổng thu nhập cái đồng lương thiếu tá
của em, hai vợ chồng ăn đủ chắc”[7,13]. Đối với Nam một người lính phóng
khoáng, anh chỉ có thể tính toán từng đồng bằng cách giảm các khoản chi tiêu
cho bản thân “tình nguyện bỏ ăn bữa sáng”, “xin bỏ thuốc là luôn”, “ta cắt
béng luôn cái khoản trà đi,nhỉ?” [7,14], tối đến vẽ công trình phụ để kiếm tiền.
Cuộc sống khó khăn với những lo toan bộn bề nhưng họ vẫn lui về thăm lại
những kỷ niệm cũ, mong cho nó luôn trọn vẹn để tìm nơi níu kéo tâm hồn, thanh
lọc những bụi bặm đời thường. Đối với cả Nam và Thảo thì quá khứ trở nên
thiêng liêng và quan trọng vô cùng. Mỗi khi gặp phải cơn lốc nào đó họ lại nhớ
về “miếng dù pháo sáng trải vội xuống nền đất ẩm ướt” [7,34]; một bằng chứng
tình yêu; bằng chứng của quá khứ mà họ luôn gìn giữ nó như một báu vật. Cả
hai người luôn khao khát tìm lại cảm giác yêu thương một thời bom đạn mà với
họ nó đầy ắp hạnh phúc. Khi có người thứ ba xen vào cuộc hôn nhân của họ là
Sáu Hùng – một người lính trinh sát và giờ là một giám đốc có uy tín, một kẻ
mặc cảm ăn vay hoài niệm. Hùng là một người đã từng va đập, cọ sát với nhiều

20
lĩnh vực trong cuộc sống hiện đại. May mắn và khôn khéo hơn Nam, Hùng có

21
vào nghệ thuật với mong muốn thực hiện một bộ phim về chiến tranh, với xã hội
ngày càng thay đổi, tốc độ trổ tường cơi nới mái nhanh đến chóng mặt và thị
hiếu của người xem thì cái danh từ chiến tranh nghe thật “ lãng xẹt ”. họ không
còn phí thời gian vào rạp để xem những cảnh chết chóc, đổ máu và thay vào đó
là những bộ phim mang tính chất giải trí, những tình huống yêu đương bùi ngùi
xúc động, ân ái thác loạn …thế là người đạo diễn mang nợ “Bình đang nợ ba
trăm triệu”, chỉ với mong muốn trụ lại ở “cái rốn cơn lốc phim trường” để anh
được khẳng định mình, khẳng định chân lý nghệ thuật. Với số nợ tiền vốn lên
đến ba trăm triệu anh đã phải khó khăn đi vay mượn bạn bè, đồng đội cũ anh
tiếp tục sự nghiệp làm phim với những sai lầm nghiêm trọng về thời gian “ bộ
phim ba tháng thì quay cơ bản là xong” một bộ phim nếu không muốn chết,
người ta chi có thể quay nó trong vòng nửa tháng hoặc cùng lắm là một
tháng,mặc dù đã dùng loại phim nhựa rẻ tiền nhất nhưng vốn đã cạn thế là phải
đi gọi thầu. Đoàn làm phim giải tán trong sự chia tay ngậm ngùi và lo lắng. Khi
bộ phim được mang lên chiếu thử ở trung tâm phát hành thì phim của anh mặc
dù được khen “ phim tốt. Có tính nhân văn. Cảm động. Tác dụng giáo dục cao.
Làm sống lại truyền thống đã bị lãng quên nhưng… [7,274]” không một ai mua
phim của anh. Cuối cùng người phó giám đốc phát hành một người quen cũ đã
thương tình mua lại bản quyền phim với giá sáu chục triệu. Sự nghiệp và cuộc
sống của anh dường như lại trở lại trong vô vọng khi vốn bỏ ra quá lớn mà
không thu lại được gì. Anh mệt mỏi vô vọng khi trở về nhà khách quân đội sau
khi nhục nhã đi “khất nợ” và “móc gói mì tôm ở gậm bàn lên , bóc ra thả vào
ca sau đó dội nước phích ”, “nằm xuống chiếc giường cá nhân mà tấm chiếu
trải ở trên vừa ngắn vừa rách lại vừa mốc bẩn, mắt mở thao láo nhìn lên đám
mạng nhện trên trần nhà ố nước…” [7,274]. Cuộc sống sẽ bế tắc và ngột ngạt
hơn nếu như “ người đàn bà ấy” và chị bạn Việt Kiều là đạo diễn không xuất
hiện và nói cho anh biết giá trị thực sự của bộ phim của anh? “Họ sẵn sàng trả
cho anh sáu mươi ngàn đô la Mỹ với điều kiện mua đứt bản quyền. Và chị ấy
nhờ em đến hỏi ý kiến anh trước” [7,284]. Vậy là nhà đạo diễn bán được phim


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status