sự thể hiện hình tượng người lính thời hậu chiến trong tác phẩm của chu lai - Pdf 31

1

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đến nay đã có những bớc chuyển
mình tơng đối rõ nét và toàn diện. Riêng thể loại tiểu thuyết đã góp phần
không nhỏ trong việc tạo nên bản sắc, diện mạo riêng cho thời kỳ văn học
này. Sự đổi mới về đề tài, cách miêu tả hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con
ngờithể hiện rất rõ trong tiểu thuyết. Trong đó, hình t ợng ngời lính thời hậu
chiến nh là một sự tiếp nối tự nhiên đề tài chiến tranh và ngời lính cách mạng,
tạo nên một mạch chảy nổi bật xuyên suốt hành trình văn học Việt Nam kể từ
sau Cách mạng tháng Tám. Chiến tranh đã qua đi, nhng vẫn còn đó biết bao
điều trăn trở, day dứt. Lấp đầy vết thơng da thịt, vật thể đã là quá sức, hàn gắn
vết thơng lòng càng không thể dễ dàng. Sau cuộc chiến, văn học nhìn lại chiến
tranh, nhìn thẳng vào cuộc đời trớc mặt. Các nhà văn nói chung, các nhà tiểu thuyết
nói riêng có điều kiện để chăm sóc ngòi bút của mình. Tiểu thuyết hậu chiến nh
đã bù đắp đợc phần thiếu hụt, phần hạn chế mà ngay trong thời kỳ khói lửa, các nhà
văn cha thể làm.
1.2. Chu Lai, một ngời lính, một nhà văn đợc độc giả biết đến từ những
năm chống Mỹ cứu nớc. ông thuộc thế hệ thứ hai của những ngời chiến sỹ
viết văn. Tiểu thuyết là thể loại mà Chu Lai gặt hái đợc nhiều thành công. Đó
là những tác phẩm chủ yếu viết sau chiến tranh nhng số phận ngời lính (kể cả
ngời lính trong cuộc chiến và sau cuộc chiến) lại là vấn đề cốt lõi. Chu Lai với
đồng đội, với chiến trận, một sự gắn bó nh là định mệnh. Có thể coi ông là
một trong những nhà tiểu thuyết hàng đầu viết về ngời lính thời hậu chiến.
Tiểu thuyết về thời kỳ hậu chiến nói chung, tiểu thuyết Chu Lai nói riêng, đặt
ra nhiều vấn đề mang tính chất thời sự nóng bỏng. Một trong những vấn đề đó
là giá trị đạo đức truyền thống, là nhân cách, nhân phẩm con ngời trong thời
đại ngày nay. Thế kỷ XX của dân tộc gắn liền với hai cuộc vệ quốc vĩ đại. Đó
là những năm tháng vinh quang, hào hùng. Đó là thời đại mà ngời lính là biểu
tợng đẹp nhất cho con ngời Việt Nam. Trong tiềm thức của thế hệ trẻ hôm

gắn bó máu thịt của Chu Lai với đề tài chiến tranh và ngời lính cách mạng


3
trong thời kỳ chống Mỹ và sự trở về của họ với dòng đời bề bộn trăn trở, lo
toan. Các bài nghiên cứu phê bình cũng đề cập đến vấn đề làm thế nào để tiểu
thuyết Chu Lai viết về những điều đã cũ ấy mà vẫn ăn khách, vẫn tạo đợc
sự hứng thú, đam mê của độc giả thời mở cửa. Chúng tôi tạm chia các bài
nghiên cứu về Chu Lai theo các nhóm sau:
Nhóm 1: Bao gồm các bài viết, bài phê bình mang tính chất tơng đối
quy mô đợc đăng tải trên các báo, tạp chí nh: Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn
nghệ Quân đội, các bài công bố trong các cuộc hội thảo lớn. Nhóm này bao
gồm nhiều bài đánh giá về đề tài, nhân vật, bút pháp trong sáng tác của Chu
Lai. Ngoài những bài trên còn có rất nhiều bài tập trung vào những tác phẩm
gây đợc tiếng vang nh nh: Ăn mày dĩ vãng, Phố, Cuộc đời dài lắm Phần lớn
các nhận định của những nhà phê bình, nghiên cứu cho rằng, đề tài xuyên suốt
và bao trùm trong sáng tác của Chu Lai là đề tài chiến tranh trong đó hình tợng trung tâm là ngời lính.
Trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tháng 2/1993, trong bài Một đề tài không
cạn kiệt, Bùi Việt Thắng đã viết: Nhân vật Chu Lai đợc thể hiện nh những con
ngời tâm linh. Họ sống bởi những ám ảnh của ảo giác, hối thúc bởi sự sám hối,
luôn tìm kiếm sự giải thoát. Đó là những con ngời trở về sau chiến tranh bị mất
thăng bằng, khó tìm đợc sự yên ổn trong tâm hồn. Họ sống trong cảm giác không
bình yênđi vào ngõ ngách đời sống tâm linh con ngời, Chu Lai làm ngời đọc bất
ngờ vì những khám phá nghệ thuật của mình: Nhân vật Chu Lai thờng tự soi tỏ
mình, khám phá mình, khám phá một bản ngã hay là một con ngời trong con ngời [63,104].
Hồng Diệu khẳng định: Chu Lai là nhà văn thuỷ chung với đề tài chiến
tranh, anh có nhiều tác phẩm viết về đề tài ngời lính trên cả ba mặt trận: Văn
học -Sân khấu - Điện ảnh [52,6].
Lý Hoài Thu nói rõ về sự gắn bó sâu nặng giữa cuộc đời binh nghiệp
Chu Lai với những sáng tác của chính anh. Với t cách là ngời từng tham chiến,

Nhiều nhà phê bình cũng đã chú ý tới mặt hạn chế của tác phẩm. Tựu
trung lại, tác phẩm còn có hạn chế về ngôn ngữ, cốt truyện hơi dài, vài tình
huống cha nhuyễn.


5
Nguyễn Thanh Tú với bài Cuộc đời dài lắm Một tiểu thuyết có tính
hấp dẫn (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tháng 01/2002) đánh giá rằng: Ngòi
bút tiểu thuyết Chu Lai vẫn cách xây dựng nhân vật đẩy đến tận cùng của bi
kịch. Có thể nói một cách khái quát là con ngời trong tiểu thuyết Chu Lai là
con ngời của bi kịch , con ngời của những mâu thuẫn, có khi thật quyết liệt dữ
dội; có số phận tận cùng ngang trái, có nhân cách vô cùng cao thợng, lại có
loại ngời tận cùng của sự gian xảo [72,101].
Gần đây có hai bài đáng chú ý: Hình tợng ngời lính trong văn học
cần một cái nhìn thực tế của Bùi Vũ Minh in trên Báo Văn nghệ, số 6/2006,
và bài Nội lực Chu Lai của Bùi Việt Thắng in trên Tạp chí Nhà văn, số
8/2006. Bùi Vũ Minh đặt ra mối quan hệ giữa ngời lính trong thực tại và ngời
lính trong văn học. Ông cho rằng ở đâu ngời lính cũng chịu nhiều thiệt thòi
hơn bất cứ ai. Bùi Việt Thắng chứng minh sức viết dồi dào của Chu Lai. Tác
giả đi sâu vào hai dấu son đỏ là Ăn mày dĩ vãng và Khúc bi tráng cuối cùng.
Đồng thời, ông còn đa ra những đánh giá mang tính bao quát toàn bộ các tác
phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của Chu Lai ở phơng diện nhân vật và giọng
điệu. Theo nhà nghiên cứu này, nhân vật nữ và nhân vật ngời lính là tài nghệ
của Chu Lai. Có thể nói, đây là bài viết mang tính tổng quan nhất trong các
đánh giá về Chu Lai từ trớc tới nay. Tuy nhiên, để tổng hợp tơng đối hoàn
chỉnh về mời một cuốn tiểu thuyết của Chu Lai thì còn cần nhiều hơn thế.
Nhóm 2: Bao gồm các bài nói chuyện, trò chuyện, trả lời phỏng vấn của
nhà văn Chu Lai xuất hiện rất nhiều trên các loại thông tin đại chúng nh báo
viết, báo hình, báo điện tửTheo chúng tôi, khi các phóng viên, bạn đọc trên
mạng Internet đặt ra những câu hỏi xung quanh nghề nghiệp, tác phẩm của

Lai đăng trên báo Pháp luật, số ra ngày chủ nhật, 25.12.2005. Tác giả bài báo
đặt ra vấn đề: Dờng nh bất cứ tác phẩm nào của anh cũng có ngời lính và
chiến tranh. Có phải mỗi lần anh ngồi vào bàn viết là ký ức chiến tranh lại ùa
về? [70,10]. Một lần nữa chính nhà văn Chu Lai khẳng định sự gắn bó của
anh với đề tài chiến tranh. Ngoài ra, bài báo còn đề cập tới một số vấn đề khác


7
nh: Chu Lai quan niệm nh thế nào là văn học chân chính và làm thế nào để có
một nền văn học vững mạnh? Sau cuốn Ăn mày dĩ vãng liệu Chu Lai có còn
viết đợc nữa không hay anh nh quả pháo đùng đã nổ tung hết ruột gan phèo
phổi không còn gì nữa [70,10].
Trong bài Bản chất cuộc đời là bi tráng (Báo Thanh niên, số 355, chủ
nhật 21/12/2003, hai tác giả Thu Hồng - Hơng Lan nói tới một số vấn đề khá
sâu sắc và cập nhật liên quan đến văn và ngời Chu Lai. Nổi bật nhất là vấn đề
sự độc đáo, mới lạ của Chu Lai trong quá trình khai thác đề tài chiến tranh:
Những ngời từng đi qua cuộc chiến, mỗi ngời có một cách hồi tởng chiến
tranh không giống nhau, nhng tựu trung lại vẫn là một cảm giác tự hào về một
thời oanh liệt. Chỉ riêng một mình Chu Lai khai thác chiến tranh ở một góc độ
khác hẳn [19,9]. Đó chính là sự tàn khốc của chiến tranh, những kỷ niệm
liên quan đến máu và nớc mắt. Đó là gam màu đậm chất bi tráng của cuộc đời
in hằn trên những trang văn của Chu Lai.
Bài Tôi đi chênh vênh trên miệng vực (Báo Quân đội nhân dân cuối
tuần) do Hồng Sơn thực hiện. Nhà báo Hồng Sơn đa ra một số câu hỏi đối với
nhà văn Chu Lai xung quanh việc viết về chiến tranh nh thế nào cho đúng, cho
hay, cho tâm huyết. Bản thân nhà văn tự nhận thấy mình đi chênh vênh trên
bờ vực, chỉ cần sa sang phải là lao xuống vực, ngả sang trái là vùng đất bằng
nhạt nhẽo
Tóm lại: Nhóm 1 tập trung những bài viết, những ý kiến đánh giá sát
thực, bộc lộ những cảm nhận sâu sắc của các nhà nghiên cứu đối với sáng tác

5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
đợc trình bày trong 3 chơng .

Chơng 1. Sự thể hiện hình tợng ngời lính thời hậu chiến trong tiểu
thuyết Việt Nam sau 1975.


9
Ch¬ng 2. Mét sè vÊn ®Ò næi bËt vÒ sè phËn ngêi lÝnh thêi hËu chiÕn
trong tiÓu thuyÕt Chu Lai.
Ch¬ng 3. Nh÷ng nÐt ®Æc s¾c vÒ nghÖ thuËt thÓ hiÖn h×nh tîng ngêi lÝnh
thêi hËu chiÕn trong tiÓu thuyÕt Chu Lai.


10
Chơng 1
Sự thể hiện hình tợng ngời lính thời hậu chiến trong
tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.1. Cơ sở xã hội, thẩm mĩ của việc thể hiện hình tợng ngời lính

thời

hậu chiến trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.1.1. Cơ sở xã hội
Chiến tranh, dù chính nghĩa hay phi nghĩa đều là tội ác đối với con ngời. Bao nhiêu đau thơng, bao nhiêu mất mát trong suốt ba mơi năm trờng. Dân
tộc Việt Nam đã từng kinh qua lửa đạn, tiếng súng, tiếng bom đâm nát bầu
trời, xuyên thấu bao trái tim con ngời. Đất nớc chúng ta đã chiến thắng vẻ
vang, đã ca khúc khải hoàn, nhng máu của ngời Việt Nam đã đổ quá nhiều.
Có những gia đình không còn sống sót một ngời nào. Có những đơn vị bộ đội

họ nh tĩnh tâm hơn để nhìn nhận lại cuộc chiến đã qua. Các nhà văn cũng nh
những ngời yêu mến văn học đã bình tĩnh hơn để soi ngắm lại chính mình.
Lịch sử không mắc lỗi, không thiếu sót, nhng hình nh văn học thì còn thiếu
một cái gì đó thuộc về riêng t, thuộc về cá thể. Và đây chính là lúc để bù đắp
sự thiếu hụt đó, chính là lúc văn học có điều kiện đi sâu vào khám phá những
điều sâu kín, thế giới vi mô tinh tế và nhạy cảm nhất của con ngời. Đội ngũ
những ngời sáng tác văn học nói chung, những nhà tiểu thuyết nói riêng đã và
đang nổ lực để không tụt hậu, không đi lại con đờng mòn, không vấp hai lần
cùng một mô đất. Họ tìm kiếm những đề tài mới, một cách thể hiện mới sao
cho phù hợp với thời đại, với công chúng độc giả.
Việc mở rộng mối quan hệ và giao lu văn hoá với các nớc trên thế giới
cũng tạo cơ hội rất lớn cho sáng tác. Chúng ta có một đội ngũ ngời cầm bút
trẻ, năng động, sáng tạo tiếp cận nền văn minh tri thức nhạy bén. Bên cạnh đó,
còn một tầng lớp nhà văn trởng thành qua hai cuộc kháng chiến, những ngời
giàu kinh nghiệm, chắt chiu cho nghề những tinh chất suốt một đời cầm bút.
Về phía những ngời làm công tác nghiên cứu phê bình, thẩm định giá
trị văn học, họ cũng đã tiếp cận đợc nền lí luận hiện đại của thế giới. Trong
thời đại dân chủ này, họ góp phần tích cực cho định hớng tiếp nhận văn học.


12
Sự quản lý văn học cũng mang tính chất chuyên nghiệp hơn trớc. Vấn đề bản
quyền, xử lý vi phạm bản quyền đợc đảm bảo, tạo tâm lý an tâm cho sáng tác
văn học.
Nh vậy, cả hai phơng diện khách quan và chủ quan đều đem đến những
thuận lợi cần thiết cho văn học sau 1975 nói chung và tiểu thuyết về ngời lính
hậu chiến nói riêng.
1.1.2.Cơ sở thẩm mĩ
Trớc 1975, trong văn học, quan niệm về cuộc sống, về con ngời, về cái
đẹp chịu sự chi phối của khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Có thể

quan trọng nhất của đời sống văn học hôm nay.
Thể loại tiểu thuyết với sự bề thế của nó về phạm vi phản ánh hiện
thực, đã trở thành sự quan tâm, tìm kiếm của cả ngời sáng tác, ngời nghiên
cứu phê bình và bạn đọc. Đã có nhiều cuộc hội thảo và các cuộc thi viết tiểu
thuyết đợc tổ chức. Điều này cho thấy thể loại tiểu thuyết đang đợc u tiên phát
triển. Chúng ta đang vơn tới một nền tiểu thuyết hiện đại thực sự. Tiểu thuyết
thời hậu chiến đã có chiều dài ba mơi năm. Ba mơi năm đó, tuy ngắn ngủi so
với chiều dài của một nền văn học nhng cũng đủ để nhìn nhận đâu là sự đổi
mới đáng mừng. Đối với đề tài ngời lính thời hậu chiến, tiểu thuyết Việt Nam
đã và đang có đợc những thành quả nghệ thuật cần đợc khẳng định. Điều này
nh một lẽ tự nhiên. Viết về chiến tranh và ngời lính cách mạng không còn là
một vấn đề mới nhng làm sao phải hiện đại, phải hấp dẫn, phải đáp ứng đòi
hỏi về nhu cầu thẩm mĩ của ngời đọc.
Nói tóm lại, đất nớc hòa bình, vấn đề cơm áo sau những năm đầu giải
phóng tuy còn chật vật, song đờng lối chủ trơng đổi mới đất nớc của Đảng đã
tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển cả kinh tế lẫn văn hoá, xã hội.
Đứng về phía ngời sáng tác, các nhà văn hơn bao giờ hết, phấn khởi, tâm
huyết với nghề, mong mỏi có những tác phẩm xứng đáng với tầm thời đại. Đối
với độc giả, trình độ và thị hiếu đã vợt xa so với trớc, họ đang cần có những
tác phẩm nghệ thuật đích thực. Với các tiền đề thuận lợi nh thế, một chân trời
nghệ thuật mới đang mở ra trớc mắt chúng ta. Trong đó, cái nhìn mới về chiến


14
tranh và số phận ngời lính là một vấn đề lớn mà văn học đang hớng tới, đang
tìm hiểu và khám phá.
1.2. Hình tợng ngời lính thời hậu chiến một đối tợng

đợc


lõng, đứng bên lề xã hội. Dù thể hiện ngời lính ở lĩnh vực nào, thì điểm dừng
và điểm đến của ngòi bút nghệ thuật vẫn là thế giới nội tâm đầy sóng gió và
biến động của mỗi số phận con ngời. Những ngời lính kể cả ngoài đời thờng
cũng nh trong văn học đều trở về từ rừng xanh Trờng Sơn ngút ngàn khói lửa.
Quá khứ là một cuộc chiến đầy máu và hoa. Đó là cuộc chiến của một dân
tộc vừa đánh giặc vừa làm thơ lng đeo gơm tay mềm mại bút hoa( Huy
Cận). Trong hành trang của ngời lính thời bình vẫn còn đó những đau thơng,
mất mát, những oanh liệt và vẻ vang. Hai mặt của cuộc chiến vẫn nh rất thân
quen, gần gũi. Nó ở đâu đây, ngay trong trái tim, hiện hữu trong cuộc sống
hàng ngày của ngời lính, khi họ đang sống, đang yêu thơng và cả khi đang
đau khổ. Những hành động, những nghĩ suy của ngời lính ngày hôm nay gắn
bó với quá khứ, với kỷ niệm nh là định mệnh. Phải chăng những năm tháng
chiến trờng, khói bom của rừng Trờng Sơn, sự hy sinh của đồng đội, tiếng thét
căm hờn đối với kẻ thù, tình yêu của lính tất cả đã là máu thịt, là con tim
khối óc của ngời lính. Giờ đây, những ngời đã hy sinh mang theo hoài niệm
vào cõi tâm linh vĩnh hằng. Những ngời còn sống cũng không thể nào nguôi
ngoai kỷ niệm. Các nhà tiểu thuyết đã viết một cách đầy hứng khởi và mê say
về điều này. Họ vẫn tôn vinh và ngợi ca những năm tháng oai hùng đó. Chỉ có
điều cách viết, cách thể hiện và xây dựng nhân vật đã có nhiều đổi mới so với
trớc. Hình dáng tổ quốc vinh quang, cùng với những ngời lính trên tuyến đầu
chống Mĩ gắn với mạch cảm hứng sử thi đã đợc thay thế bằng những chiêm
nghiệm, suy t và trăn trở của chính những ngời lính ngày ấy trớc cuộc đời
hôm nay.
Hình tợng ngời lính gắn với cảm hứng sử thi tuy nhạt dần nhng cũng
không hẳn là không còn tồn tại. Đâu đó vẫn còn những trang, những chơng,
thậm chí là cả tác phẩm đợc viết bằng giọng văn hào sảng oai hùng, bằng cảm
hứng lãng mạn bay bổng (Ông cố vấn; Quãng đời xa in bóng) Tuy nhiên,
bật nổi hơn vẫn là dòng mạch cảm hứng thế sự, sinh hoạt. Những trang viết về





17
đời sống của họ. Một mặt, nó thanh lọc, tẩy rửa những vết nhơ, vết hắc ám
của cuộc sống đầy cạm bẫy và con ngời có thể bị cuốn vào vòng xoáy của sự
cám dỗ bất cứ lúc nào; một mặt, nó kéo căng hơn, xa hơn khoảng cách giữa
ngời lính và cộng đồng xung quanh, làm cho họ mất khả năng hòa nhập.
Tìm hiểu tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, chúng ta đã
tìm về nỗi đau cùng với sự dấm dứt khôn nguôi trong tâm hồn Kiên, một cựu
chiến binh, một nhà văn phờng. Tác giả đã diễn tả một cách tinh tế, sinh động
sự dằn vặt sâu kín trong tâm hồn Kiên. Đó chính là nỗi buồn dai dẳng nh cắn
xé vào máu thịt, vào tâm can con ngời. Với Kiên, nỗi buồn chiến tranh gắn
liền với tất cả những sự kiện dọc suốt cuộc đời trai trẻ của anh. Tình yêu với
Phơng, ngời bạn gái từ thuở học trò, tình đồng đội những tháng năm ở Trờng
Sơn, kẻ còn, ngời mấtnhững kỷ niệm đó chẳng hề nguôi ngoai mà cứ chất
đầy, cứ nhân lên, tạo thành nỗi buồn đặc quánh trong tiềm thức của Kiên. Trở
về từ cuộc chiến, đặc biệt dấu ấn của trận tử chiến Truông Gọi Hồn, Kiên trở
nên bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời xô bồ náo nhiệt. Thứ mà anh có ngày hôm
nay chỉ là một cuộc sống ngột ngạt, tù túng và oi bức. Một thế giới nh là vô
cảm, thờ ơ. Đáng buồn thay, thế giới đó lại do chính anh cùng những đồng đội
đã đánh đổi bằng những năm tháng xuân trẻ của cuộc đời, thậm chí bằng cả
máu xơng và tính mạng. Quá khứ oai hùng ấy giờ sao đau thơng, ai oán và xót
xa. Nó choán ngợp toàn bộ cuộc sống của Kiên. Nó kéo anh ra khỏi cuộc đời
thực. Nó thúc ép anh sống chung, ăn chung và ngủ cùng với chính nó. Giữa
mớ đồ đạc và bàn ghế tồi tàn, giữa bốn bức tờng tróc lở, những sách báo
chồng đống trên sàn nhà bụi bặm, nứt nẻ, những vỏ chai lăn lóc, cái tủ đầy
gián, chiếc giờng xiêu vẹo, bừa bãi chăn màn xơ xác, anh đã viết một mạch
trọn vẹn với thần hứng không bao giờ còn có lại - thiên truyện đầu tiên trong
đời, làm sống dậy một cách đặc biệt tàn nhẫn trận tử chiến Truông Gọi Hồn
với những diễn biến nặng nề của nó và số phận bi thảm của tiểu đoàn

những nhân vật là ngời lính cũng trở nên bế tắc trớc cuộc đời hiện tại, lúc nào


19
cũng canh cánh bên lòng nỗi nhớ rừng xanh. Đó là Hai Hùng với mặc cảm
ăn mày dĩ vãng, là Linh trong Vòng tròn bội bạc, là Thảo, Nam trong Phố
Có lẽ sự ám ảnh của chiến tranh, những day dứt về nó cha thể dừng lại.
Ngời ta sẽ còn nói và viết về nó rất nhiều. Trong dòng chảy của văn học Việt
Nam sau 1975 nói chung, ở thể loại tiểu thuyết nói riêng, nếu thiếu đi cái ám
ảnh về quá khứ vừa oai hùng vừa bi thơng đó thì những tác phẩm viết về chiến
tranh và ngời lính hậu chiến sẽ trở nên khiếm khuyết. Các nhà tiểu thuyết dờng nh đã đặt nhân vật của mình trên một đôi chân: chân quá khứ và chân
hiện tại. Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới tập trung khai thác và tô đậm số phận
ngời lính trong và sau chiến tranh. Trong tiểu thuyết giai đoạn này, nhân vật
ngời lính đợc đặt ra với t cách con ngời cá thể, với tất cả các quan hệ chung và
riêng với xã hội.
Sau khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, khảo sát văn học các
nớc tham chiến, các nhà nghiên cứu nhận xét rằng: Con ngời trong văn học
Nga đi ra từ chiến tranh mà phơi phới niềm vui chiến thắng; con ngời trong
văn học Đức thì tràn ngập mặc cảm tội lỗi, còn con ngời trong văn học phơng
Tây thì mang những vết chấn thơng nặng nề về mặt tinh thần trở thành một
thế hệ bị huỷ hoại, một thế hệ vứt đi. Thực ra, điều này không hoàn toàn
đúng. Nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết chiến tranh hiện đại của thế giới từ Số
phận con ngời ( Sôlôkhôp ), Lựa chọn (Bônđarep) đến Phía tây không có gì
lạ, Ba ngời bạn (Rơmác)đều thiên về xu hớng tổng hợp ba mô hình trên.
Văn học Việt Nam cũng vậy. Ngời lính trong tiểu thuyết chiến tranh của ta trở
về giữa cuộc đời thờng dẫu có thấy lạ lẫm giữa phố phờng xanh đỏ, khi ngọn
gió rừng vẫn thổi mãi trong tâm hồn, vẫn cố gắng hoà nhập với cuộc đời mới,
khẳng định vị trí và giá trị ngời lính trong xã hội. Trên hành trình ấy không
phải ngời lính nào cũng chiến thắng. Họ đã vợt qua cái chết trong đầy rẫy
bom đạn nhng lại không một chút thanh thản trong cuộc sống hoà bình. Song

yêu vợ đợc nữa. Không biết trong hàng vạn thanh niên lên đờng vào Nam
đánh giặc kia có ai mang nỗi niềm nh Sài hay không? Theo bớc chân hành
quân của Giang Minh Sài, cuộc chiến tranh giải phóng đất nớc với muôn vàn


21
gian lao thử thách hiện lên một cách sinh động. Mặc dù chỉ đợc điểm qua một
số nét điển hình, tác giả không miêu tả quá khứ một cách chi tiết nhng qua
Giang Minh Sài ta có thể hình dung đó là một cuộc sống thiếu thốn khó khăn
mọi bề. Đói ăn, sốt rét, kẻ thù luôn đeo bám và rình rập. Ngời lính có thể ngã
xuống vì họng súng kẻ thù hay vì bệnh tật. Lòng gan dạ và sự quả cảm là một
viên ngọc quý luôn toả sáng trong chiến trận. Tuy dòng hồi tởng của Sài rất
ngắn, không có một chiến dịch nào, một trận đánh nào là cụ thể nhng tính
chất ác liệt của cuộc chiến lại hiện lên rất rõ. Nhng rồi, Sài không còn giữ đợc
chính kiến của mình khi anh đang sống cuộc đời của mình mà nh sống hộ ngời khác.
Có thể nói, Lê Lựu đã đóng góp cho thế giới chân dung những ngời lính
trong văn học Việt Nam sau chiến tranh một gơng mặt độc đáo. Một con ngời
thành đạt, giỏi giang nh Sài cuối cùng cũng chỉ là một số phận cực kỳ bất
hạnh. Trở về từ chiến trờng với đủ các loại huy chơng, với bằng cấp, với học
vị đáng nể vậy mà rút cục cuộc đời Sài chỉ là con số không tròn trĩnh. Xuất
ngũ, anh cũng rời luôn cái làng quê đã chôn vùi mối tình đầu trong trắng,
thiên thần, cũng là nơi ghi dấu cuộc hôn nhân quái ác kinh hoàng của anh, Sài
lên thành phố mong kiếm tìm đợc một cuộc sống mới đích thực cho mình.
Hào nhoáng đô thành đã nhanh chóng biến một dũng sĩ diệt Mĩ thành một gã
nô tỳ cho vợ con. Có nghiệt ngã quá chăng khi niềm vui nhỏ nhoi cuối cùng
của cuộc đời Sài cũng bị tớc đoạt? Đó là lúc anh phát hiện ra, Thùy, đứa con
gái bé bỏng bấy lâu nay anh chăm bẵm cũng chẳng phải là con đẻ của anh. Có
lẽ ở điểm này Lê Lựu đã có lý. Cái nghiệt ngã, cái khốc liệt không chỉ có
trong chiến tranh mà ngay cả trong thời bình cũng âm thầm, dữ dội không
kém. Những ngời lính nh Sài dù đã phải hy sinh quá nhiều, nh thế không có

không một phút yên lòng giữa cuộc đời thực tại. Tuy phẩm cách ngời lính vẫn
đợc bảo tồn nhng không phải không có những ngời sa ngã, rơi vào vòng xoáy
của cuộc đời để rồi không phân biệt đợc trắng đen, sai đúng. Dù ở phơng diện
nào thì ngời lính dờng nh vẫn cha thực sự thích nghi, hoà nhập với đời thờng.
Tác phẩm Tiễn biệt những ngày buồn của Trung Trung Đỉnh kể về một
xóm lính nhỏ nằm ngay giữa lòng thủ đô mà nh đi bên lề của nó. Phố xá Hà


23
thành sôi động phồn hoa là thế mà nh không có dính dáng liên quan gì đến
khu tập thể tồi tàn của những ngời lính làm công tác văn hoá. Những căn
phòng nhỏ hẹp, mối quan hệ giản đơn gợi cái ngột ngạt, bế tắc quanh quẩn.
Họ buông cây súng trở về với đời thờng một cách bình lặng nếu nh không nói
là tẻ nhạt.
Phía sau cuộc chiến sao còn lắm nỗi éo le? Hình nh có một sự tơng
phản rõ rệt giữa một nửa cuộc đời là anh hùng trận mạc còn nửa kia lại chỉ là
một con tốt đen giữa bàn cờ, giữa đời thờng. Số phận nhân vật Nguyễn Vạn
trong Bến không chồng của Dơng Hớng là một ví dụ. Cuộc đời Nguyễn Vạn
gắn liền với cái làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thời gian nghệ thuật của
tác phẩm chạy dọc theo cuộc đời Nguyễn Vạn, kể từ những năm Cải cách
ruộng đất kéo dài qua kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và đến ngày hoà
bình. Tác phẩm đặt ra hai vấn đề song song: vấn đề dòng họ ở nông thôn; vấn
đề số phận ngời lính thời hậu chiến.
Nguyễn Vạn vốn là thằng Vạn mắt toét bỏ làng đi[22,5]. Nhờ có
chiến tranh, Nguyễn Vạn trở thành ngời hùng. Và với t cách ấy, ông trở về
làng với những tấm huân chơng lấp lánh trên ngực [22,5]. Nói nh vậy có
nghĩa là, với Đảng, với chính phủ, với cả làng Đông, Nguyễn Vạn có công rất
lớn, Nguyễn Vạn đáng lẽ đợc tôn vinh. Là ngời của Đảng mà ông không thể
bớc qua lời nguyền. Ngoài chiến trờng chắc Nguyễn vạn phải anh dũng xông
pha trận mạc lắm thì mới có nhiều huân chơng nh vậy. Nhng trớc mối thù của

huy chơng lấp lánh trên ngực, có Hạnh, chị Nhân nh ng thực ra tất cả chỉ là
chất xúc tác làm tăng nồng độ cô đơn của cuộc đời Nguyễn Vạn mà thôi. Cả
ông và ngời cháu trai Nguyễn Nghĩa đều là những ngời thất bại. Thất bại trớc
chính số phận của họ giữa thời bình im ắng tiếng súng, tiếng bom.
Cũng nói về số phận ngời lính sau chiến tranh , khi nhận xét về nhân
vật Tuấn trong tác phẩm Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, tác giả
Nguyễn Hơng Giang đã viết : Tuấn trở về với hàng trăm vết sẹo bom na pan
chi chít trên ngực. Ngời yêu của anh, một cô kỹ s trẻ thấy anh nh một ngời xa
lạ, không còn phù hợp với cuộc sống của cô nữa. Chiến tranh đã biến anh từ A
sang A. Triết lý của cô đơn giản nh thế và Hảo đi lấy chồng . Cô không hoàn


25
toàn có lỗi nhng Tuấn phải chịu đựng một mất mát lớn nhất của đời anh
[16,110].
Có rất nhiều những gơng mặt, những mảnh đời khác nhau, nhng cũng
rất gần gũi của ngời lính thời hậu chiến. Đó là một Nguyễn Vạn trong Bến
không chồng của Dơng Hớng, một ông Đông trong Mùa lá rụng trong vờn của
Ma văn Kháng, Hai Hùng, Ba Thành trong Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, nhà
văn Kiên trong Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh và Xoan, Luân, Ron, Hà
trong Tiễn biệt những ngày buồn của Trung Trung Đỉnh Những ngời lính
một thời coi cái chết nhẹ tựa lông hồng ấy giờ đây nh lạc lõng, bơ vơ giữa
dòng đời xô bồ, ồn ã. Họ không còn là những những anh hùng trận mạc, cũng
không phải là những ngời bình thờng, mà số phận của họ, phần đời còn lại của
họ đang nổi bão giông. Đi sâu vào miêu tả số phận ngời lính hậu chiến với
những diễn biến phức tạp trong nội tâm của mỗi nhân vật cũng là khi các nhà
văn đang đẩy nhanh tốc độ đổi mới tiểu thuyết ở nhiều bình diện nh: đề tài,
cảm hứng, nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con ngời Số phận đời t ngời
lính sau chiến tranh là số phận bi kịch. Họ không chỉ là con ngời xã hội mà trớc hết là con ngời cá nhân, cá thể với đầy đủ sự phức tạp và đa dạng của nó.
Nhân vật Đông trong Mùa lá rụng trong vờn của Ma Văn Kháng vốn là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status