TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC - XÃ HỘI
BÙI THỊ THANH
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH VÀ BIỂN ĐẢO TRONG
SÁNG TÁC CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA SAU 1975
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2010-2014
Người hướng dẫn :Th.S, GVC. Lương Hồng Văn
ĐỒNG HỚI, 05/2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các nội dung nêu trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kì công trình nào khác.
Sinh viên
Bùi Thị Thanh
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo - thạc sĩ, giảng viên
chính Lương Hồng Văn đã tận tâm, tận tình, hướng dẫn, động viên, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo
khoa Khoa Học - Xã Hội, Quý thầy cô giáo của trường Đại Học Quảng Bình
đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích và tạo mọi điều kiện
cho tôi hoàn thành khóa học này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệpđã
quan tâm động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng song do thời gian thực hiện không nhiều,
năng lực bản thân có hạn nên luận văn chắc chắn có nhiều thiếu sót. Kính
mong nhận được sự lượng thứ và góp ý chân thành của các thầy, cô cùng toàn
thể các bạn để khóa luận này hoàn thiện hơn!
1
đã biểu hiện một cách chân thực, xúc động và đầy sức ám ảnh tình yêu đất
nước qua hình tượng người lính và biển đảo. Mặt khác, Biển Đông vẫn là một
khu vực bất ổn và sự căng thẳng liên quan đến tranh chấp chủ quyền biển đảo
tại khu vực khá nhạy cảm này đang diễn biến nguy hiểm. Là công dân Việt
Nam không ai không hướng về biển, đảo. Ngay từ thời mở nước, trong truyền
thuyết ngàn đời của dân tộc, có lẽ người đầu tiên sớm có "tầm nhìn biển đảo"
là Cha Lạc Long Quân, khi ông quyết định dắt 50 người con xuôi về hướng
biển để mở mang cõi bờ!
Việc thực hiện đề tài “Hình tượng người lính và biển đảo trong sáng tác
của Trần Đăng Khoa sau 1975” ngoài ý nghĩa phát hiện thêm những đóng góp
của nhà thơ ở giai đoạn trưởng thành vào nền thơ ca và văn xuôi đương đại,
chúng tôi h
Đó là những lý do mà chúng tôi chọn đề tài này.
2. Lịch sử vấn đề
Lịch sử vấn đề có vai trò hết sức quan trọng đối với những người làm
công tác nghiên cứu khoa học, bởi nó là nền tảng, là cơ sở để chúng ta có thể
tiến hành công việc nghiên cứu của mình. Hơn nữa từ kết quả đã đạt được
giúp chúng ta nảy sinh ra ý tưởng mới, hấp dẫn hơn những công trình trước
đó. Khi đi vào nghiên cứu lịch sử vấn đề của đề tài: “Hình tượng người lính
và biển đảo trong sáng tác của Trần Đăng Khoa sau 1975”. Chúng tôi tiến
hành trên hai phương diện: Lịch sử các công trình nghiên cứu, nhận định về
Trần Đăng Khoa và các công trình nghiên cứu có liên quan đến “Hình tượng
người lính và biển đảo trong sáng tác của Trần Đăng Khoa sau 1975”
Phương diện thứ nhất là những công trình nghiên cứu và những nhận
định về Trần Đăng Khoa. Ông được mệnh danh là thần đồng thơ khi là một
cậu bé 8 tuổi; có tập thơ đầu tay năm 10 tuổi. Trần Đăng Khoa là một “hiện
tượng lạ” không chỉ làm sững sờ biết bao bạn đọc trong nước mà còn lan
truyền sang nhiều nước trên thế giới. Người có công tìm hiểu và đưa Trần
Đăng Khoa đến với bạn đọc khắp thế giới là nhà thơ Xuân Diệu:“Tôi đã sung
tượng người lính và biển đảo; song nhìn chung đều có chung nhận xét
như Trần Thiện Khanh:
“Thơ Trần Đăng Khoa vẫn là một miền riêng, không trộn lẫn. Giống
như ca khúc Trịnh Công Sơn, giai điệu bài hát khi cất lên, dù nghe ở đâu vẫn
nhận ra chất nhạc của riêng một người…Nhà văn chỉ có thể đóng góp cái gì
đó cho nền văn học khi họ có cái gì đó của riêng mình. Trần Đăng Khoa có
cái “tôi” của riêng mình trong thơ”.
Trong “Mạn đàm quanh “Đảo chìm” do Phong Điệp thực hiện in trên
Báo Văn nghệ trẻ số 175, đã ghi lại một số nhận định của các nhà văn như
sau:
- Nhà văn Nguyễn Khắc Trường nhận xét:
Đây là tập sách hay, được viết trong một thời gian khá dài. Qua tập sách
này càng chứng tỏ thêm về khả năng văn xuôi của Trần Đăng Khoa, mà năm
ngoái, “Chân dung và đối thoại” đã nói lên điều đó. Hóm hỉnh và sắc sảo - có
thể nói ngắn gọn về văn xuôi của Trần Đăng Khoa như vậy.
- Nhà văn Lê Lựu thì cho rằng:
Tất cả những truyện viết trong Đảo chìm, Khoa đã kể cho tôi nghe
không dưới 10 lần (!), nhưng đến khi đọc văn vẫn thấy có cái gì như mình mới
khám phá, như mới bắt gặp, như mới đột nhiên ngỡ ngàng và cứ như thần. Mà
chuyện thì rõ ràng là đã nghe kể đến thuộc làu rồi.
Theo tôi, phần Đảo chìm là phần thần bút, vì những chuyện thông
thường, ai ra đảo cũng thấy thế hoặc không thấy thế mà tự nhiên có và vẫn thấy
như là có thật. Ví dụ như chuyện ông tướng ngồi gác, mổ ruột thừa bằng panh
4
sa lam có thể là Khoa bịa, nhưng vẫn chấp nhận được. Ý tưởng của tác phẩm
đã vượt ra ngoài những chuyện cụ thể, tưởng như rất vụn vặt. Chính vì thế, nó
có sức hấp dẫn đối với bạn đọc [3].
- Nhà phê bình Ngô Vĩnh Bình cũng đánh giá rất cao Trần Đăng Khoa:
Trần Đăng Khoa có cái nhìn khác người, và đặc biệt là rất sâu sắc. Chính
vì thế phần lớn các truyện trong “Đảo chìm” viết từ trước đây rất lâu (thậm chí
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nhằm tìm hiểu nghệ thuật khắc họa
hình tượng người lính và biển đảo bằng cách tiếp cận hệ thống các sáng tác
của Trần Đăng Khoa sau 1975 và các bài viết về sáng tác của Trần Đăng
Khoa.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Nhằm xây dựng hệ thống luận điểm,
luận cứ, luận chứng hợp lý để từ đó phân tích và tổng hợp vấn đề.
Phương pháp so sánh (đồng đại, lịch đại): Nhằm liên hệ, đối chiếu, so
sánh những điểm giống và khác nhau giữa sáng tác của Trần Đăng Khoa và
của một số các nhà thơ cùng thời. Qua đó để có cái nhìn đúng mức về tài
năng, tâm hồn Trần Đăng Khoa và những đóng góp của ông cho nền văn học
nước nhà.
Phương pháp thống kê: Qua việc khảo sát, chúng tôi sẽ thống kê các
hình ảnh, chi tiết được lặp lại nhiều lần nhằm tìm ra những nét riêng, nét độc
đáo của tài năng Trần Đăng Khoa.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận tập trung tìm hiểu và phát hiện những nét nổi bật của “hình
tượng người lính và biển đảo trong sáng tác của Trần Đăng Khoa sau năm
1975”. Nhằm mục đích bước đầu chỉ ra những đóng góp của Trần Đăng Khoa
với nền thơ ca Việt Nam, cụ thể là sau năm 1975. Đồng thời tìm hiểu để làm
rõ hình tượng người lính và biển đảo trong sáng tác của Trần Đăng Khoa,
khẳng định tài năng, phong cách riêng của thơ Trần Đăng Khoa, phát hiện
6
được vẻ đẹp của tâm hồn không chỉ của nhà thơ mà còn của đất nước, của dân
tộc.
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hy vọng đóng góp một chút công sức,
là tài liệu bổ ích cho việc giảng dạy và học tập ở nhà trường.
6. Cấu trúc bài khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần
nội dung khóa luận gồm có ba chương:
Chương I: Trần Đăng Khoa và những sáng tác sau năm 1975
“Có năm, triều Cảnh Thịnh, trong Lục bộ mà mấy anh em họ Trần - các cụ tổ
Trần Đăng Khoa - đã chiếm bốn, trong đó, cụ Trần Nhuận Minh Phủ là nhà
thơ” [8; 217].
Từ đó đến đời cha Trần Đăng Khoa thì không thấy xuất hiện trên văn
đàn. Đến đời Trần Nhuận Minh (anh ruột Trần Đăng Khoa) đã có năng khiếu
làm thơ văn nhưng khá khiêm nhường, bật lên trong thời kì đổi mới mà sau
này trong một cuộc trả lời phỏng vấn với báo chí, Trần Đăng Khoa đã cho đó
là một sự “lột xác”. Và đến Trần Đăng Khoa thì 9 đột ngột xuất hiện một
8
giọng thơ mới “hồn nhiên, trong trẻo đến mức khó tin” [14; 16]. Thời ấy,
người ta liên tục kéo đến nhà xem cho biết mặt mũi đứa trẻ ấy ra sao, có
giống như người bình thường không. Thậm chí, có một số nhà xuất bản đã cử
hẳn người đến nhà Trần Đăng Khoa trong thời gian dài để kiểm chứng sự thật
tài năng của cậu bé Khoa (Nguyễn Nghiệp đã theo lời Bộ trưởng Nguyễn Văn
Huyên đến nhà Trần Đăng Khoa cùng sống, cùng đi cất vó, câu cá, cùng đến
trường, cùng dự các buổi sinh hoạt…và chứng kiến những vụ sát hạch của các
thầy ở ty giáo dục Hải Hưng và các vị khách vãng lai). Rồi tất cả đều công
nhận “thần đồng thơ Trần Đăng Khoa” là sự thật chứ không phải là tin đồn.
Ảnh hưởng từ các nhà thơ, văn bậc thầy:
Một điều may mắn là trong quá trình sáng tác, Trần Đăng Khoa đã
được gặp và tiếp xúc với các bậc thầy văn thơ như: Tố Hữu, Huy Cận, Tô
Hoài, Chế Lan Viên,… Những nhà văn, nhà thơ ấy đã dìu dắt rất tận tình để
Trần Đăng Khoa vượt qua sự ấu trĩ mà phát triển tư duy nghệ thuật, nhanh
chóng trưởng thành trong việc sáng tác thơ. Đặc biệt hơn, ngay từ năm 1968,
sau khi gặp nhà thơ Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa mới có ý thức được sự vất
vả của việc làm thơ. Đó không phải là một cuộc rong chơi nhàn nhã mà đó
chính là “một công việc sáng tạo cực nhọc, nếu không muốn nói là nghề lao
động khổ ải”. Trần Đăng Khoa đã hiểu đựơc rằng: Thơ cần có tính chân thực
nhưng không phải là sự sao chép nguyên vẹn, thô thiển mà phải được sáng tạo
một cách công phu, linh hoạt. Hầu như, các bài viết của Trần Đăng Khoa đều
trung nhật kí”,… Chúng tôi không dám sánh Trần Đăng Khoa với Nguyễn
Du, Hồ Chí Minh,… mà chỉ muốn nói rằng, hồn thơ Trần Đăng Khoa được
hình thành và phát triển cũng là nhờ một phần vào yếu tố thời đại. Cuộc chiến
tranh xâm lược của đế quốc Mĩ đặt dân tộc ta trước những thử thách gay gắt.
Đó là một thời đại mà vận mệnh của đất nước, tự do và độc lập dân tộc đứng
trước nguy cơ một mất một còn. Đó là một thời đại mà đời sống mà số phận
của mỗi người phải gắn chặt với cuộc chiến đấu của dân tộc như lời của Chế
Lan Viên: “Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt. Nụ
10
cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau”. Đó là một thời đại mà với tính
chất gay go, quyết liệt của cuộc chiến đấu chống Mĩ, dân tộc ta phải huy động
và phát huy cao độ tất cả sức mạnh vật chất và tinh thần, phải gắn kết tất cả
lại với nhau, không phân biệt tầng lớp, lứa tuổi, giới tính, tôn giáo,… để tiến
hành công cuộc vệ quốc vĩ đại, khẳng định chính nghĩa, tinh thần và sức sống
bất diệt của đất nước và con người Việt Nam.
Trong thời “đất nước đứng lên” như thế, hồn thơ trẻ của Trần Đăng
Khoa bỗng vụt sáng như một hiện tượng lạ chưa từng có trong lịch sử văn học
nước nhà. Hồn thơ đó đã nói lên tiếng nói chung của cả dân tộc, được mọi
người đồng tình, ủng hộ và ngưỡng mộ.
Tóm lại, nếu không có những yếu tố như trên thì hồn thơ của Trần
Đăng Khoa sẽ không được hình thành và phát triển. Hoặc là, nếu có hình
thành và phát triển cũng không thể gây được tiếng vang như ngày hôm nay.
2. Nhìn lại những sáng tác của Trần Đăng Khoa sau năm 1975
Không biết tự bao giờ, cái tên Trần Đăng Khoa đã khắc sâu trong tâm
trí chúng ta. Những bài thơ của nhà thơ thần đồng đã được chúng ta thuộc
lòng ngay từ thuở đầu tiên đến trường và theo mãi suốt cuộc đời. Hơn 50 năm
nay, nhiều thế hệ học trò đã lớn lên mà tâm hồn được bồi đắp bằng những câu
thơ đẹp lành hồn hậu, dí dỏm và tinh anh một cách lạ lùng, hấp dẫn như có
ma lực của anh. Và không chỉ mảng thơ, mà còn truyện kí, chân dung văn học
ông đều rất xuất sắc. Chúng ta hãy nhìn lại đôi nét về sáng tác của Trần Đăng
từ thời thiếu nhi thuở Hạt gạo làng ta, và đã càng nổi tiếng khi được chắp
thêm cánh nhạc. Trần Đăng Khoa nặng lòng với quê hương, nơi sinh thành
ông. Trong tập thơ Bên cửa sổ máy bay, ông có nhiều bài thơ viết ở làng Điền
Trì, xã Quốc Tuấn (Nam Sách). Đó là những bài Về làng, Thấp thoi gốc rạ…,
Mưa xuân, Hồn quê. Ngay trong bài thơ được lấy làm tên gọi cho cả tập: Bên
cửa sổ máy bay ông cũng liên tưởng đến quê hương, nơi có người mẹ lam lũ,
tảo tần của mình. Có thể nói, tâm hồn nhà thơ luôn hoà hợp với thiên nhiên,
với quê hương nên tác giả có thể bắt được rất tài, rất nhạy thần sắc của nó.
12
Qua đó tác giả đã bộc lộ một tình yêu quê hương sâu sắc và truyền cho người
đọc tình yêu ấy.
Thơ ông sau 1975, vẫn nối tiếp mạch cảm xúc ưu tư ấy. Trong bài thơ
“Ở nghĩa trang Văn Điển” trước nghĩa trang, nơi yên nghỉ của những con
người với những số phận khác nhau, ông nhận ra sự thật của kiếp người, một
quy luật muôn thủa không bao giờ thay đổi của con người là không ai trường
tồn vĩnh cửu. Đó chính là quy luật khắc nghiệt tạo hóa đã ban cho con người
không thể khác được: Mỗi con người có một cuộc sống riêng, nhưng dù là ai,
địa vị nào, dù giàu, nghèo đến đâu, dù hạnh phúc hay khổ đau, theo quy luật
rồi cũng ra đi vào cõi vĩnh hằng. Trần Đăng Khoa muốn nói với chúng ta
rằng: cái quy luật khắc nghiệt đó đã nhắc nhở mỗi con người chúng ta hãy
biết sống vì nhau và hãy yêu thương nhau nhiều hơn.
Khi sống và học tập ở nước ngoài, chứng kiến những biến cố chính trị,
sự thay đổi của những giá trị xã hội, thơ ông trở nên ưu tư và gợi nhiều suy
nghĩ, liên tưởng cho người đọc. Nước Nga có nhiều kỷ niệm với ông, đã từng
Uống rượu với người bạn Nga cùng “ngồi dưới đất” để có “ngã thì không đau.
Tuy nhiên, nổi bật nhất với thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi trưởng
thành là mảng thơ viết về bộ đội, về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Tập Bên kia cửa sổ máy bay có thể gồm ba cụm chính. Một cụm các
bài thơ tình yêu. Một cụm thơ về đời sống bộ đội trên hải đảo. Một cụm thơ
nghĩ về đời, về thơ, về làng quê… Các bài thơ tình chưa có gì sâu sắc. Các bài
mong đợi. Hãy “mưa như chưa bao giờ mưa“, “mưa cho mãnh liệt“, rồi
“không mưa rào thì hãy mưa ngâu - hay mưa bụi mưa ti li cũng được”, “một
giọt nhỏ thôi…” cho đến mức cùng cực. “Dù mưa chẳng bao giờ đến nữa, thì
xin cứ hiện lên thăm thẳm cuối chân trời”. Cái sức vóc kiên nghị, cái kiêu
hãnh thách thức “dẫu chẳng có mưa chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo” đi
liền với nỗi mong mưa đến sốt ruột sốt gan… tất cả điều này, trước đây thơ
14
Khoa chưa làm được. Và có lẽ đấy là chỗ có thể thấy bước tiến của thơ Khoa
chăng?
Trần Đăng Khoa có duyên và rất dí dỏm, hóm hỉnh trong viết văn xuôi,
phê bình và chân dung văn học, trong thơ ông không đánh mất đi điều đó,
nhất là khi viết về người lính.
Thơ viết về người lính của Trần Đăng Khoa không cầu kỳ, có thể là
mộc mạc, nhưng đằm trong lòng người đọc. Từ sau năm 1975, có nhiều nhà
thơ viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính, nhưng viết về người
lính thời bình, đặc biệt là về Trường Sa và Bộ đội Hải quân, Trần Đăng Khoa
là một trong số ít nhà thơ tiên phong và có nhiều thành công.
Trần Đăng Khoa có duyên và rất dí dỏm, hóm hỉnh trong viết văn xuôi,
phê bình và chân dung văn học, trong thơ ông không đánh mất đi điều đó,
nhất là khi viết về người lính. Chính sự hài hước, hóm hỉnh đã tạo niềm tin,
lạc quan cho người lính, kể cả khi khó khăn, gian khổ nhất.
1.2. Chân dung văn học
Có người đã cho rằng “người đàn ông Trần Đăng Khoa bây giờ chỉ là
cái bóng mờ của cậu bé tám tuổi Trần Đăng Khoa xưa kia”. Đã có lúc, Trần
Đăng Khoa phải vừa tỏ ra khiêm nhường, nhưng cũng vừa tự tin bảo vệ cho
mình: “Tôi rất kinh ngạc có những người cứ lấy Trần Đăng Khoa ngày xưa để
đo Trần Đăng Khoa bây giờ. Ai mà đi lấy cậu bé ngày xưa mười tuổi để đo
tôi xù xì hôm nay? Phải đo cùng chủng loại mới đúng chứ?”
Bất ngờ, năm 1998, Trần Đăng Khoa cho ra đời tập “Chân dung và
đối thoại”, và được người đọc đón nhận như hiện tượng thứ hai trong cuộc đời
Với những tác phẩm thơ, như Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu,
năm bài lục bát của Nguyễn Đình Thi, Bằng Việt, Trúc Thông, Phạm Công
Trứ, Đồng Đức Bốn, ngòi bút của Trần Đăng Khoa đều mượn ngôn từ trong
thơ mà vẽ chân dung người như thế.
Dựng chân dung Tố Hữu, trước hết Trần Đăng Khoa đứng từ điểm nhìn
của văn học sử và có thêm suy nghĩ của riêng mình: “Tố Hữu là một nhà thơ
16
lớn. Cả cuộc đời ông gắn liền với cách mạng. Thơ với đời là một. Trước sau
đều nhất quán. Tố Hữu nhìn cách mạng bằng con mắt lãng mạn của một thi sĩ.
Thơ ông dường như chỉ có một giọng. Đó là giọng hát tưng bừng ca ngợi cách
mạng…” Nhưng đến khi đã “tập kích” vào nhà Tố Hữu theo cách tiếp cận của
“Lính Điện Biên Phủ”, thì ngay lập tức điểm nhìn đã thay đổi, và chân dung
Tố Hữu được vẽ gần gũi như một con người, một số phận ở giữa cõi đời “như
một vị nguyên soái đã giã từ vũ khí, giã từ mọi thứ xiêm áo lỉnh kỉnh mà tạo
hóa đã bỡn cợt khoác lên ông, nhiều khi che khuất cả chính ông, để ông chỉ
còn lại là một già làng, có phần cô đơn, bé nhỏ, da mồi, tóc bạc… dường như
đã quá quen với trận mạc, với mọi biến cố, thăng trầm của cõi đời dâu bể”.
Với Nguyễn Đình Thi, “người mà cái tài thì đàn ông ghen, cái tình thì
đàn bà ghen” (Kim Lân), Trần Đăng Khoa lại dựng chân dung ông bằng bài
thơ Quê hương Việt Nam rất quen thuộc. Nhưng ta thực sự thú vị với cách
bình thơ rất mới, rất Trần Đăng Khoa. Anh cho rằng Nguyễn Đình Thi là thái
cực của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân thì gò lưng luyện chữ, muốn đưa ra
những con chữ hoàn toàn mới, còn thì Nguyễn Đình Thi lại cố gắng xoá hết
những chữ mới đi, chọn những chữ mòn nhẵn, những con chữ mà các thi sĩ
khác vứt bỏ: “Mọi cố gắng của Nguyễn Đình Thi là để làm một nhà văn
không có chữ. Cái hay của thơ Nguyễn Đình Thi không nằm ở chữ. Nó là cái
hồn phảng phất ở đằng sau những con chữ bạc phếch kia”.
Trần Đăng Khoa còn vào vai ma trong bài viết Nguyễn Khắc Trường
và… để dựng chân dung các bậc tiền bối của nền văn học Việt Nam hiện đại
như Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,
“than thở” về tập ghi chép của mình rằng: “Mình viết văn xuôi chỉ là tay trái,
vậy mà lại nổi đình nổi đám mới chết chứ!…”. Bằng hình thức truyện kể,
18
ngòi bút khắc họa chân dung của Trần Đăng Khoa còn dừng lại ở chân dung
nhiều nhân vật khác như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Nguyễn Lân,
nữ sĩ Blaga Đimitrôva, nhà văn Tô Hoài, nhà thơ Vũ Cao, và nhiều nhất là
chân dung những người mà tác giả đã được gặp trong cuộc đời thường ngày.
Đó là Lão Chộp đã từng bắt phi công Mĩ trong thời kì chiến tranh phá hoại, là
chuyện của một cựu chiến binh, chuyện người cắm cờ trên Dinh Độc lập
trong ngày toàn thắng 30/4/1975, chuyện bi kịch của một người nổi tiếng,…
Với nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật, chúng ta có dịp hiểu thêm
một phương diện khác của tài năng Trần Đăng Khoa: Bên cạnh một Trần
Đăng Khoa thơ còn có một Trần Đăng Khoa phê bình văn học độc đáo. Qua
nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa, thể tài chân
dung văn học trở nên gần gũi hơn, bớt chất hàn lâm, thêm chất dân dã, giàu
chất thơ hơn nên sống động, dễ đi vào lòng người đọc hơn.
Theo Trần Đăng Khoa tự thấy, tập sách này là một cuốn “bình luận văn
chương”, vì “Cuốn sách có khen, có chê. Cả khen cả chê đều thẳng thắn. Tất
nhiên, tôi viết theo kiểu của tôi… Trong đời sống mở ra muôn ngả, có hàng
ngàn lối đi, cách nào cũng được, miễn là đi được tới đích và đến được với
đông đảo bạn đọc”.
1.3. Truyện ký
Đảo chìm là một tập truyện - ký của Trần Đăng Khoa viết từ cuối
những năm tám mươi. Đây là tác phẩm được nhà văn Lê Lựu đánh giá là
“thần bút” và được nhiều đối tượng độc giả yêu mến.
Phần một có tựa đề Thời sự và kí ức, phần hai với tựa đề Đảo
chìm gồm 16 truyện ngắn kể những người lính Quân đội Nhân dân Việt
Nam tại Quần đảo Trường Sa mà ông gặp trong thời gian quân ngũ tại đây.
Về quá trình viết phần hai, năm 1978 Trần Đăng Khoa hoàn thành một
cuốn tiểu thuyết dày 300 trang nhưng không hài lòng vì “đọc lại thấy truyện
20
Viết về bóng đá, Khoa lại tỏ ra sành điệu và đáng yêu hơn tất cả những
nhà bình luận bóng đá tài năng.Còn khi viết về lính, anh đã chứng tỏ mình là
một người lính thực sự. Anh khai thác đời sống những người lính đảo một
cách tài tình, giúp người đọc hiểu được những nỗi khó khăn vất vả nơi đây,
đồng thời biết yêu thương, kính trọng họ một cách tự nhiên, chân thành.
Đảo chìm là một trong không nhiều tác phẩm chứng tỏ sức mạnh kỳ
diệu của con người và tình yêu Tổ quốc của người lính. Chính vì vậy, ngay
sau khi tập sách ra đời, trước yêu cầu của người đọc, sách đã được in nối bản,
tái bản liên tiếp trong nhiều năm. Cùng với Chân dung và đối thoại, Đảo chìm
đã khẳng định Trần Đăng Khoa không chỉ là nhà thơ mà còn là nhà văn, nhà
bình luận văn học xuất sắc, có dấu ấn riêng trong lòng người đọc.
Trần Đăng Khoa chia sẻ: “Mọi sự việc dù cảm động đến đâu rồi cũng
phai mờ qua những biến động của thời gian. Tôi nghĩ thế và tôi đã lẩn mẩn
ghi lại tất cả những gì mình thấy, làm một cái “bảo tàng” nho nhỏ cho bạn
đọc, những người đến sau, không được thấy những gì tôi thấy”.
Sự thành công của Đảo chìm không chỉ là những gì Trần Đăng Khoa đã
viết cách đây rất lâu, nhưng trong hiện tại vẫn “mang tính thời sự …nóng hổi
và có phần gay gắt quyết liệt hơn”. Dù vậy, ở đó người đọc luôn được cuốn
hút bởi những trang viết chân thực, sinh động, có duyên riêng và hơn cả là sự
bắt gặp tấm lòng của nhà thơ đối với đất nước và con người.
21
Chương II: ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI
LÍNH VÀ BIỂN ĐẢO TRONG SÁNG TÁC CỦA TRẦN ĐĂNG
KHOA SAU 1975
1. Đặc điểm nổi bật của hình tượng người lính trong sáng tác của
Trần Đăng khoa sau 1975
1.1. Hình tượng nghệ thuật
Tất cả những sự vật và hiện tượng của đời sống được phản ánh một
cách sáng tạo và nghệ thuật trong tác phẩm đều có thể là những hình tượng