Giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay. - Pdf 56

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

GIÁO DỤC NĂNG LỰC VĂN HÓA ỨNG XỬ
HỌC ĐƯỜNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG
BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM


22
2 2

NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

GIÁO DỤC NĂNG LỰC VĂN HÓA ỨNG XỬ
HỌC ĐƯỜNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
HIỆN NAY

TRONG BỐI CẢNH

Ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC
Mã số: 9140102

5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15

Chữ viết tắt
CB
ĐBSCL
ĐH
GD & ĐT
GV
HS
KN
NL
PP
SVĐHSP
TN
VH
VHƯX
VHƯXHĐ
XH

Chữ đầy đủ


Bảng 2.4.

Các hành vi ứng xử của SV trong học tập

Bảng 2.5.

Các hành vi ứng xử trong các tình huống giao tiếp SV - SV

Bảng 2.6.

Các hành vi ứng xử trong các tình huống giao tiếp SV - CB/GV

Bảng 2.7.

Các hành vi ứng xử đối với những vấn đề cá nhân/riêng tưtrong mối quan hệ SV-SV

Bảng 2.8.

Thực trạng về mục tiêu giáo dục năng lực VHƯXHĐqua ý kiến của SV

Bảng 2.9.

Mục tiêu giáo dục năng lực VHƯXHĐ qua ý kiến của GV

Bảng 2.10.

Nội dung giáo dục năng lực VHƯXHĐ qua ý kiến của SV

Bảng 2.11.

Thang đánh giá kết quả bồi dưỡng, nâng cao nhận thức

Bảng 3.2.

Thang đánh giá kết quả hình thành kỹ năng

Bảng 3.3.

Danh mục các hoạt động rèn luyện năng lực VHƯXHĐ

Bảng 3.4.

Kết quả khảo sát đầu vào về nhận thức và kỹ năng của SV nhóm TN

Bảng 3.5.

Kết quả khảo sát sau thực nghiệm lần 1 và lần 2 về nhận thức và kỹ năng của SV
nhóm TN


7 7
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ


8 8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
VHƯX thể hiện trình độ trình độ đạo đức, thẩm mỹ, diện mạo nhân cách của cá nhân trong cộng
đồng. Thông qua những biểu hiện ứng xử của một cá nhân, một cộng đồng, một dân tộc, người ta có thể
đánh giá được trình độ phát triển của con người và của xã hội. Vì vậy, văn hóa ứng xử luôn là nội dung

trong Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 - 2025” (được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt ngày 3 tháng 10 năm 2018 và được Bộ GD&ĐT ban hành kế hoạch thực hiện theo Quyết
định số 1506/QĐ- BGDDT ngày 31/5/2019) nhằm đạt mục tiêu chung là tạo chuyển biến căn bản về ứng
xử văn hóa của CB quản lý, nhà giáo, nhân viên, HS, SV. Một trong những định hướng được xác định để
đạt mục tiêu nói trên là tổ chức các hoạt động về giáo dục VHƯX trong chương trình đào tạo GV trong các
cơ sở đào tạo sư phạm (Điều 1 - Khoản 2 - Mục 4) [76]. Bên cạnh đó, năng lực VHUX cũng là yêu cầu đối
với GV để Xây dựng môi trường giáo dục (tiêu chuẩn 3) và Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia
đình và XH (tiêu chuẩn 4) [77] được quy định trong Chuẩn nghề nghiệp GV (Ban hành kèm theo Thông
tư số 20/2018/TT- BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT)
Với những đặc trưng về văn hóa vùng miền cùng sự tác động của xu thế hội nhập và sự phát
triển của khoa học - công nghệ, SVĐHSP vùng ĐBSCL đã bộc lộ một số bất cập về sự linh hoạt, sự
phù hợp, sự lễ độ, sự tôn trọng, tính kỷ luật, sự phối hợp… trong mối quan hệ với CB/GV, với SV
trong các hoàn cảnh ứng xử đa dạng của học đường. Những bất cập này là nguyên nhân của sự rạn
nứt mối quan hệ bạn bè, những ấn tượng không tốt về hình ảnh SVĐHSP, những rào cản trong việc
xây dựng văn hóa nhà trường và môi trường giáo dục. Nếu không được giáo dục từ cơ sở đào tạo sư
phạm, những bất cập này sẽ trở thành thói quen và bộc lộ qua những biểu hiện ứng xử phi văn hóa
trong các mối quan hệ sư phạm, trong hoạt động nghề nghiệp. Do vậy, việc giáo dục năng lực
VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL - những thầy cô giáo tương lai - những người sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến văn hóa ứng xử của thế hệ HS sau này - là việc làm cấp thiết và có ý nghĩa đặc biệt.
Việc giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL đã được thực hiện tại các cơ sở đào
tạo sư phạm thuộc khu vực ĐBSCL với những hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên, để xây dựng
VHƯXHĐ trong bối cảnh hiện nay, cần xem năng lực VHƯXHĐ là một mục tiêu của quá trình đào tạo
để SV có thể thực hiện được năng lực VHƯXHĐ trong các tình huống đa dạng của mối quan hệ người người ở trường ĐH; đồng thời đặt nền tảng cho văn hóa ứng xử trong lao động sư phạm tương lai. Muốn
vậy, cần có những công trình nghiên cứu về lý luận và thực trạng của vấn đề này cùng những biện pháp
giáo dục đảm bảo tính khoa học và khả thi để thúc đẩy quá trình giáo dục diễn ra thuận lợi và đạt hiệu
quả. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học
đường cho sinh viên đại học sư phạm vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay ” để
thực hiện nghiên cứu Luận án Tiến sĩ Giáo dục học.


5.3. Đề xuất các biện pháp giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối
cảnh hiện nay.
5.4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Các hoạt động giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL .
6.2. Địa bàn điều tra thực trạng giới hạn trong SVĐHSP năm thứ 2 của 3 trường: Đại học Cần


1111
Thơ, Đại học An Giang và Đại học Đồng Tháp.
6.3. Thực nghiệm sư phạm được thực hiện đối với SVĐHSP năm thứ 2 của trường Đại học Đồng
Tháp.
6.4. VHƯXHĐ được giới hạn trong mối quan hệ người - người: SV-SV, SV-CB/GV trong các
tình huống ứng xử của đời sống học đường.
6.5. Các tình huống ứng xử được giới hạn trong phạm vi các diễn biến thường nhật trong
trường học và các vụ việc liên quan đến hoạt động dạy học, giáo dục của trường đại học.
6.6. Lao động sư phạm tương lai của SVĐHSP vùng ĐBSCL được giới hạn trong phạm vi các
trường phổ thông.
6.7. Năng lực VHƯXHĐ được xây dựng dựa vào Chuẩn nghề nghiệp giáo viên.
6.8. Việc giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL được thực hiện bởi lực
lượng giáo dục nhà trường.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1. Tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay là một hệ
thống gồm nhiều thành tố: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức giáo dục, các chủ
thể giáo dục (CB/GV), người được giáo dục (SV) và kết quả giáo dục. Mỗi thành tố có vai trò, chức năng
riêng nhưng không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Do đó, trong
nghiên cứu giáo dục năng lực VHƯXHĐ, nội hàm của mỗi thành tố cần thể hiện tính logic, nhất quán với các
thành tố còn lại và hướng đến mục tiêu giáo dục là các năng lực về VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL

Giáo dục năng lực VHƯXHĐ có nghĩa là thực hiện các tác động giáo dục nhằm hình thành năng
lực VHƯXHĐ. Hay nói cách khác là SV có thể vận dụng kiến thức, KN đã được lĩnh hội qua quá trình
giáo dục vào việc ứng xử trong các hoàn cảnh ứng xử cụ thể ở trường ĐH và trong lao động sư phạm
tương lai. Vì vậy, trong nghiên cứu về giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong
bối cảnh hiện nay, cần xác định khung năng lực phù hợp với yêu cầu của thực tiễn ứng xử trong trường
ĐH và tiệm cận với yêu cầu về năng lực VHUX trong lao động sư phạm tương lai.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sau khi thu thập, sưu tầm và đọc các tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về
VHƯXHĐ, giáo dục năng lực VHƯXHĐ và các vấn đề liên quan; tác giả sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, hệ thống hóa. khái quát hóa… nhằm xây dựng cơ sở lý luận của luận án.
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát các hoạt động giao tiếp - ứng xử của SV ngoài lớp học nhằm thu thập thông tin bổ sung
cho kết quả điều tra thực trạng từ phiếu khảo sát.
- Dự giờ để quan sát hoạt động học của SV trong các giờ lên lớp nhằm đánh giá thực trạng về năng
lực VHƯXHĐ của SV trong hoạt động học và vấn đề giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SV trong giờ
học.
7.2.2.2. Phương pháp điều tra giáo dục


1313
- Phương pháp dùng bảng hỏi (Anket): Dùng bảng hỏi đối với GV và SV đang giảng dạy, học tập
tại các địa bàn nghiên cứu để tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi về VHƯXHĐ và vấn đề giáo dục năng
lực VHƯXHĐ.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp GV và SV tại các địa bàn nghiên cứu để làm rõ
hơn những kết quả thu được qua bảng hỏi, đồng thời bổ sung thêm những thông tin cần thiết để phục vụ
cho việc nghiên cứu đề tài.
7.2.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
TN sư phạm được tiến hành trên đối tượng SVĐHSP năm thứ 2 của trường Đại học Đồng Tháp

Luận án đã có những đóng góp về mặt lý luận như sau:
- Bổ sung các lý thuyết nền tảng về năng lực VHƯXHĐ và giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho
SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
- Xác định nội hàm các thành tố cấu trúc của quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP
trong bối cảnh hiện nay.
- Xây dựng quy trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
9.2. Về mặt thực tiễn
Luận án đã có những đóng góp về mặt thực tiễn như sau:
- Phân tích và đánh giá thực trạng về năng lực VHƯXHĐ của SVĐHSP vùng ĐBSCL và thực
trạng về giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay.
- Xác định các yếu tố tác động đến việc giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL
trong bối cảnh hiện nay.
- Đề xuất biện pháp giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện
nay với qui trình thực hiện mang tính khoa học, cụ thể. Các biện pháp có giá trị tham khảo và gợi ý cho
việc vận dụng linh hoạt vào việc nghiên cứu và tổ chức hoạt động giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho
SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay tại các cơ sở đào tạo sư phạm thuộc ĐBSCL.
10. Cấu trúc luận án
Luận án gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư
phạm trong bối cảnh hiện nay.
Chương 2. Thực trạng giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm
vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay.
Chương 3. Biện pháp giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm
vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay.
Ngoài ra, luận án có phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục các tài liệu tham khảo và
Phụ lục.


1515


tác giả khác [70], [43], [61], [63]. Ví dụ, Perry den Brok, Mieke Brekelmans và Theo Wubbels (2004)
nghiên cứu về mối liên hệ giữa ứng xử GV- GV và kết quả hành vi của người học [65]; Alves, Helena;
Raposo, Mario (2010) tìm hiểu về tác động của hình ảnh nhà trường đến hành vi của SV [38]; các tác giả
Mucella Uluga, Melis Seray Ozdenb, Ahu Eryilmaz (2011) nghiên cứu về ảnh hưởng của thái độ của GV
đối với HS [61]; Fransa Weeks (2012) chỉ ra tác động của văn hóa học tập đến hành vi ứng xử của SV/HS
[48]; Nayereh Shahmohammadi (2014) quan tâm đến tác động của hành vi GV đến HS [63]; Radhika


1717
Kapur (2018) đề cập đến mối liên hệ của việc quản lý lớp học đến hành vi/ứng xử của SV [67. Theo các tác
giả, văn hóa tích cực từ nhà trường, lớp học tác động đến cảm xúc của HS/SV và những cảm xúc này được
thể hiện qua hành vi, thái độ ứng xử. Dấu hiệu cơ bản của văn hóa tích cực là tình yêu thương. Việc cảm
nhận đầy đủ tình yêu thương và những điều tốt đẹp là hạt giống nảy nở những hành vi tích cực của con
người. Một bầu không khí ứng xử không tốt sẽ dẫn tới những ứng xử XH xấu xí.
- Hướng thứ hai: Nghiên cứu về các biện pháp hình thành văn hóa ứng xử học đường. Theo
hướng nghiên cứu này có thể kể đến một số tác giả như: Botvin, G.J. (2000) nghiên cứu biện pháp ngăn
ngừa việc lạm dụng các chất gây nghiện trong trường học [39]; Lehr, C. A. & Christenson, S. L. (2002)
tìm hiểu việc thúc đẩy bầu không khí học đường tích cực [56]; Johnson; S. L. (2009) với công trình "Cải
thiện môi trường học đường để giảm thiểu bạo lực học đường” [52], David và Roger Johnson (1999) đề
xuất mô hình 3C cho một trường học an toàn. Đó là: Tập thể hợp tác (Cooperative community), Giải
quyết xung đột có tính xây dựng (Constructive conflict resolution), Giá trị công dân (Civic values) [36,
tr.364].
- Hướng thứ ba: Một số tác giả tiếp cận VHƯXHĐ theo hướng nghiên cứu những bất cập trong
hành vi ứng xử. Ví dụ: Chen (2008) tìm hiểu về yếu tố tác động đến hành vi ứng xử lệch chuẩn của người
học [51]; Langley, Dene John (2009) đề cập đến ảnh hưởng của hành vi ứng xử mang tính thách thức của
HS đến văn hóa lớp học [55]; Johnson SL1 (2009) chỉ ra hệ quả của các hành vi ứng xử lệch chuẩn [52];
Rachel C. F. Sun và Daniel T. L. Shek (2012) tập trung vào hành vi phi chuẩn mực trong lớp học của
HS/SV [66]. Love, P. & Simmons, J. (1998) nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến sự gian lận trong
học thuật của SVSP năm cuối [57]; Szabo, Attila, Underwood, Jean (2004) đề cập đến mối liên hệ của
công nghệ thông tin và truyền thông với sự không trung thực trong học tập như: trong thi cử, trong việc

nhận dạng loại tình huống và định hướng cách giải quyết [33]. Các tác giả Nguyễn Văn Hộ, Trịnh
Trúc Lâm (2000), Bùi Văn Huệ, Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Hoàng Thị Xuân Hoa (2004), Trần
Văn Tính (2013)… đưa ra những lưu ý về ứng xử hoặc những định hướng ứng xử dưới dạng tình
huống ứng xử, câu chuyện ứng xử [8], [10], [33].
- Nghiên cứu VHƯXHĐ theo tiếp cận trực tiếp, các tác giả Dương Thị Thúy Hà (2007), Tô Lan
Phương, Lê Gia Khánh (2011) đã xây dựng được một số vấn đề lý luận về VHƯXHĐ như: nội hàm, cấu
trúc, vai trò, đặc điểm, biểu hiện của VHƯXHĐ tương ứng với vai trò của từng chủ thể, thực trạng của
VHƯXHĐ. Nguyễn Thị Việt Hương, Tô Lan Phương (2011) chỉ ra những yếu tố tác động đến VHƯXHĐ
[11], [21].
Như vậy, cho đến nay, các tài liệu, công bố liên quan đến VHƯXHĐ của SV ĐH được tìm thấy
rộng rãi qua một số công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong nhà trường nói chung. Những kết quả
nghiên cứu ngoài nước tập trung vào việc tìm hiểu các yếu tố tác động và các biểu hiện ứng xử. Các
nghiên cứu trong nước đã xây dựng nên nền tảng tri thức phong phú về nội hàm, ý nghĩa, biểu hiện, yếu
tố tác động, qui tắc ứng xử; đồng thời chỉ ra thực tiễn đa dạng của ứng xử học đường. Tuy nhiên, những
vấn đề lý luận liên quan đến năng lực VHƯXHĐ vẫn chưa được tìm thấy trong các nghiên cứu về chủ đề
này.
1.1.2. Những nghiên cứu về giáo dục năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại học


1919
1.1.2.1. Những nghiên cứu ngoài nước về giáo dục năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại
học
Các nghiên cứu ngoài nước tập trung vào những biện pháp tác động để hình thành hành vi ứng xử.
Dưới đây là những kết quả có thể áp dụng với đối tượng là sinh viên đại học:
Các tác giả Carr, E. G., Dunlap, G., Horner, R. H., Koegel, R. L., Turnbull, A. P. (2002); Sailor,
W., và cộng sự (2002): Crone, D. A., & Horner, R. H. (2004); McCurdy, B. L., Mannella, M. C., &
Eldridge, N. (2003). Luiselli, J. K., Putnam, R. F., Handler, M. W., & Feinberg, A. B. (2005); Sugai, G.,
Horner, R. H., Lewis-Palmer, T., & Todd, A. (2005); Brian C, McKevitt, Angelisa D. Braaksma (2008)
tập trung vào việc xây dựng hệ thống hỗ trợ ứng xử trong trường học nằm giúp HS/SV khắc phục, hạn
chế hoặc vượt qua những vấn đề về ứng xử; Kent Johnson (2015) nghiên cứu về giáo dục ứng xử trong

rằng, ứng xử đẹp và kỷ luật là nền tảng của việc học tập. Theo các tác giả Doug Maraffa (2015), Brian C.
McKevitt, Angelisa D. Braaksma (2008), những ứng xử của nhà trường dưới hình thức đình chỉ hoặc
đuổi học đối với những vi phạm của người học sẽ làm gia tăng nguy cơ dấn sâu vào việc lạm dụng chất
gây nghiện hoặc tội ác [40], [86].
1.1.2.2. Những nghiên cứu trong nước về giáo dục năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại
học
Ở Việt Nam, khái niệm NL được nhắc đến khá phổ biến từ năm 2011 khi đề cập đến lĩnh vực
GD&ĐT. Các nghiên cứu về NL tập trung vào các chủ đề xây dựng, phát triển chương trình đào tạo
và nhiều nhất là trong hoạt động dạy học. Nghiên cứu của tác giả Đặng Thành Hưng thể hiện rằng:
Giáo dục theo tiếp cận năng lực là kiểu giáo dục có 2 mặt: 1/ Xem năng lực của người học là mục tiêu
đào tạo, là kết quả giáo dục; 2/ Xem năng lực là nền tảng, là chỗ dựa của giáo dục, tức là giáo dục
phải dựa vào năng lực người học, đặc biệt là kinh nghiệm nền tảng và kinh nghiệm thường trực được
huy động thuộc vùng cận phát triển (L.X. Vygotsky) [13].
Điểm qua các công bố và các công trình khoa học trong nước, tác giả nhận thấy vấn đề giáo dục
năng lực VHƯXHĐ chưa được đề cập trong các nghiên cứu. Chủ đề được quan tâm nhiều nhất là nghiên
cứu về giáo dục VH giao tiếp trong nhà trường. Các nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng, sự cần
thiết của việc giáo dục, hình thành VHƯXHĐ. Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Kim Hồng (2011) cho rằng:
“Vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử, giao tiếp trong nhà trường đang trở thành vấn đề cấp thiết. Trường học
không chỉ mang đến cho HS/SV kiến thức mà còn phải xây dựng cho các em nền tảng VH giao tiếp, ứng
xử, biết cách sống chan hòa với mọi người … VHƯX trong trường học cần phải được bàn luận, được dạy
và được học ngay từ khi trẻ bắt đầu đến trường...; cần phải có những qui định rõ ràng về cách ứng xử sao
cho có văn hóa” [11, tr.29]; hoặc khi tiếp cận vấn đề theo phạm trù bạo lực học đường, hai tác giả
Nguyễn Đạt Đạm và Nguyễn Minh Thức nhận định: Giáo dục hành vi ứng xử VH cho HS/SV là nội dung
quan trọng góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực học đường [37, tr.155].
Trên cơ sở chỉ ra tầm quan trọng của việc giáo dục VHƯXHĐ, nghiên cứu của nhiều tác giả đã đề
xuất nhiều biện pháp giáo dục mang tính khái quát. Đó là giáo dục nhận thức, tình cảm; đồng thời rèn
luyện thói quen, hành vi ứng xử văn hóa (Nguyễn Đạt Đạm và Nguyễn Minh Thức, 2016), nâng cao chất


2121

từ và điều chỉnh giọng nói, KN giao tiếp phi ngôn ngữ, KN lắng nghe, KN thấu hiểu sự khác biệt và giải
quyết những xung đột, KN kiềm chế cảm xúc bản thân…. Tác giả Đào Thị Oanh (2016) đề xuất các biện
pháp kiểm soát, ngăn ngừa bạo lực thông qua quản lý lớp học như: giáo dục giải quyết xung đột, giáo dục


2222
cách hòa giải và đàm phán hiệu quả, giáo dục trách nhiệm cho HS [36].
Như vậy, mặc dù phạm trù giáo dục năng lực VHƯXHĐ chưa được các tác giả chọn làm đối tượng
nghiên cứu nhưng nội hàm của năng lực VHƯXHĐ đã được các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước đề cập theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau với nội dung và biện pháp giáo dục cụ thể, trong đó
chú trọng đến việc hình thành môi trường giáo dục thuận lợi cùng các điều kiện để giáo dục để hình thành
văn hóa học đường. Những biện pháp này có giá trị như một cơ sở tham khảo quý báu cho việc nghiên
cứu vế vấn đề giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
1.1.3. Nhận xét các kết quả nghiên cứu về vấn đề liên quan đến luận án
1.1.3.1. Những vấn đề đã được nghiên cứu
Nhìn chung, các nghiên cứu đã mang lại những đóng góp quý báu cho việc hình thành hệ thống lý
luận về vấn đề VHƯXHĐ cho SV ĐH. Những vấn đề đã được nghiên cứu tập trung và đầy đủ bao gồm:
- Tầm quan trọng, vai trò của VHƯXHĐ và giáo dục VHƯXHĐ đối với sự phát triển của nhà
trường, đặc biệt là đối với người GV trong công tác dạy học, giáo dục con người.
- Ứng xử học đường trong mối quan hệ với văn hóa nhà trường, với văn hóa giao tiếp trong nhà
trường.
- Các mối quan hệ nảy sinh ứng xử học đường.
- Các tình huống ứng xử trong mối quan hệ thầy - trò trên lớp học.
- Thực trạng của VHƯXHĐ.
- Một số nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục VHƯXHĐ.
1.1.3.2. Những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã được đề cập nhưng cần được tiếp tục nghiên cứu
a. Những vấn đề chưa được nghiên cứu
Do các tác giả chưa chọn tiếp cận NL là hướng nghiên cứu nên những yếu tố thuộc về nội hàm vấn
đề giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐH nói chung và SVĐHSP nói riêng chưa được xây dựng về mặt
lý thuyết và thực tiễn.

Sự vận động và phát triển của xã hội đã tạo ra những tác động đa dạng đến VHƯXHĐ của
SVĐHSP. Vì vậy, trong công tác giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP, cần xác định được đặc
điểm của xã hội hiện nay để lấy đó làm cơ sở cho việc xác định các nhiệm vụ giáo dục và các biện pháp
giáo dục nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Căn cứ vào thực tiễn xã hội, tác giả xác định bối cảnh
xã hội hiện nay có những đặc điểm như sau
a. Sự phát triển của khoa học công nghệ và sự bùng nổ thông tin
Sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ kéo theo sự xuất hiện của internet cùng các
phương tiện hỗ trợ như: điện thoại thông minh, thiết bị ghi hình, laptop/ máy điện toán kết nối wifi… đã
tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức có thể tham gia vào hoạt động truyền thông hướng về cá
nhân hoặc đại chúng. Truyền thông cá nhân có các hình thức: Trò chuyện, giao lưu, chat qua mạng xã hội.
Truyền thông đại chúng có các hình thức: Báo online, chương trình giải trí: gameshow, talkshow, video
clip, hình ảnh… phục vụ cho nhu cầu giải trí, quảng bá/ chia sẻ thông tin, bày tỏ, thể hiện quan điểm, suy
nghĩ hướng về chiến lược/mục tiêu hoạt động của cá nhân, của tập thể/tổ chức…
Trò chuyện qua mạng xã hội tạo điều kiện cho con người được tiếp cận với nhiều nhân cách đa
dạng trong và ngoài nước về quan điểm sống, giá trị sống, lối sống. Truyền thông đại chúng tạo nên


2424
sự đa dạng trong thông tin được chuyển tải và xuất hiện xu hướng cạnh tranh trong các đơn vị, tổ
chức truyền thông; giữa các nhân vật tham gia các chương trình giải trí nhằm tạo nên cái mới, lạ gây
sự tò mò, chú ý của người xem/ của khách hàng. Hệ quả của việc này là sự bùng nổ các chiêu trò chơi
xấu, nói xấu; những thông tin về tài sản, thói quen trong sinh hoạt, lối sống, cách cư xử phản cảm,
khác người, phi chuẩn mực của một bộ phận người trong xã hội.
Ngoài ra, sự phát triển của mạng xã hội và tình trạng di chuyển lao động, di cư xuyên biên giới, du
học … đã tạo ra xu thế toàn cầu hóa văn hóa. Điều này tạo điều kiện cho việc giao lưu văn hóa và tư
tưởng rộng rãi, trong đó có đa văn hóa của đa quốc gia bao gồm những yếu tố tích cực và tiêu cực đối với
mỗi cá nhân.
b. Nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường tạo ra sự đa dạng trong sản phẩm vật chất và tinh thần mang lại nhiều tiện
ích cho cuộc sống và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Sự tiện ích cùng những phương

triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin và vấn đề kinh tế thị trường là 2 yếu tố mà luận án
cần tập trung nghiên cứu có thể tìm ra những biện pháp góp phần giảm thiểu hoặc ngăn ngừa mặt trái của
2 yếu tố này
1.3.1.2. Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học
sư phạm trong bối cảnh hiện nay
Có ý kiến cho rằng vấn đề lớn nhất của văn hóa Việt Nam hiện nay là hiện tượng lệch lạc về giá trị
[87]. Trong sự đan xen giữa yếu tố tích cực - tiêu cực, đúng - sai, thật - giả, tốt - xấu mà những yếu tố tiêu
cực như: tính cạnh tranh, quyền lợi cá nhân/cục bộ, nhu cầu vật chất đang có phần chiếm ưu thế đã gây
khó khăn cho việc lựa chọn giá trị của SV trong ứng xử học đường. Nếu không có “bộ lọc”, SV sẽ dễ tiếp
thu không chọn lọc những tác động tiêu cực, xem những điều bất cập là bình thường; thậm chí đưa ra
những ý kiến bình luận, đánh giá về sự “lạc hậu, cổ hủ, không thức thời” khi chứng kiến điều ngược lại.
Điều này không chỉ gây hệ quả tiêu cực đối với SVĐHSP mà còn tác động đến hành vi ứng xử của HS
trường phổ thông khi SV tham gia hoạt động nghề nghiệp tương lai; cũng như tác động đến hành vi ứng
xử trong các mối quan hệ xã hội. Như vậy, vấn đề đặt ra trong việc giáo dục VHƯXHĐ cho SVĐHSP là
cần giúp SV nhận biết đâu là hệ thống giá trị cốt lõi trong ứng xử, giúp SV tin tưởng vào sự cần thiết phải
duy trì và thể hiện hệ thống giá trị cốt lõi đó trong ứng xử học đường; đồng thời hình thành cho SV thói
quen hành vi VHƯXHĐ đúng mẫu, đúng chuẩn mực và phù hợp trong các tình huống, hoàn cảnh ứng xử
học đường cụ thể.
1.3.2. Giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm trong bối cảnh
hiện nay
1.3.2.1. Khái niệm về giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm trong
bối cảnh hiện nay



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status