VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TRUNG
TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG:
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TRUNG
TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG:
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA
Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN
HÀ NỘI, năm 2019
2.2. Các nguyên nhân và điều kiện tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An
Giang………………………………………………………………………..55
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI
BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG…………………… .56
3.1. Dự báo tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang trong thời gian
tới............................................................................................................ 61
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên
địa bàn tỉnh An Giang………………………………………………………75
KẾT LUẬN....................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. ANTT
: An ninh trật tự
2. BLHS: Bộ luật hình sự
3.CA
: Công an
4. TAND
: Tòa án nhân dân
5. TA
: Tòa án
Bảng 1.1. Thực trạng tình hình buôn lậu ở An Giang (2013 – 2017).............17
Bảng 1.2. Tỉ trọng tội buôn lậu so với mức độ tổng quan của tình hình tội
phạm trên địa bàn tỉnh tỉnh An Giang giai đoạn 2013 – 2017........................ 17
Bảng 1.3. Cơ số tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2013- 2017
Bảng 1.4: Diễn biến của tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn
2013- 2017………………………………………………………………… 18
Bảng 1.5: Cơ cấu của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang giai
đoạn 2013- 2017……………………………………………………………..
Bảng 1.6: Mật độ tội buôn lậu từ năm 2013- 2017 ở 11 đơn vị cấp huyện của
tỉnh An Giang……………………………………………………………… 19
Bảng 1.7: Cấp độ nguy hiểm của tình hình tội buôn lậu giai đoạn 2013-2017
trên cơ sở kết hợp hai yếu tố dân cư và diện tích……………………………
Bảng 1.8. Cơ cấu số vụ buôn lậu trong tổng số vụ phạm tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế tỉnh An Giang giai đoạn 2013-2017.......................................24
Bảng 1.9. Cơ cấu của tình hình tội buôn lậu tỉnh An Giang giai đoạn 2013 –
2017 theo giới tính..........................................................................................25
Bảng 1.10. Cơ cấu về độ tuổi của người phạm tội buôn lậu ở An Giang
giai
đoạn (2013 – 2017).........................................................................................26
Bảng 1.11. Cơ cấu của tình hình tội phạm buôn lậu tỉnh An Giang giai đoạn
2013- 2017 theo trình độ học vấn................................................................... 27
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
An Giang là một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế
- xã hội, an ninh - quốc phòng của khu vực miền Tây Nam Bộ, phía Bắc giáp
hai tỉnh Kandal và Takéo của Campuchia, phía Nam giáp thành phố Cần Thơ,
chọn vấn đề: “Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang: Tình hình, nguyên
nhân và phòng ngừa” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, ở nước ta đã có một số công trình, đề tài nghiên
cứu khoa học có liên quan được công bố như:
- Nguyễn Đức Bình (2000), “Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu hoặc
vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”, Luận án Tiến sĩ luật
học, Đại học luật Hà Nội, Hà Nội.
- Dương Thị Nhàn (2006), “Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã
hội, Hà Nội.
- Nguyễn Hữu Hoan (2011), “Hoạt động nghiệp vụ trinh sát trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm trên tuyến giao thông đường thủy nội địa của
lực lượng Cảnh sát đường thủy”, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện CSND.
- Lê Đặng Quốc Phong (2012), “Phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Thùy Trang (2016), “Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn:
Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện
khoa học xã hội, Hà Nội. Và một số đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của
các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu. Các công trình
nghiên cứu trên đã làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác đấu tranh
phòng chống tội buôn lậu, hoặc đề cập đến công tác đấu tranh chống buôn lậu
2
của một lực lượng, chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về công tác
đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên một địa bàn tỉnh An Giang, cũng như
giải pháp để phòng ngừa, ngăn chặn loại tội phạm này và vì vậy đề tài được
- Về tội danh, đề tài đề cập đến tình hình tội buôn lậu được quy định tại
điều 188 của Bộ luật hình sự 2015.
- Về không gian, đề tài sử dụng số liệu thực tế trên địa bàn tỉnh An
Giang, bao gồm số liệu thống kê của cơ quan Công an, Tòa án tỉnh An Giang.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu được giới hạn trong thời gian từ 2013
đến 2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
chủ nghĩa Mác-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng làm
cơ sở, phương pháp luận cho việc nghiên cứu để giải quyết những vấn đề về
lý luận tình hình tội buôn lậu, thực trạng, nguyên nhân và điều kiện tội buôn
lậu từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An
Giang làm cơ sở thực tiễn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương
pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, và
phương pháp diễn giải.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ
nhiều vấn đề lý luận về tình hình tội buôn lậu, nguyên nhân và điều kiện của
tội buôn lậu, nhân thân người phạm tội và giải pháp phòng ngừa tội buôn lậu
trên địa bàn tỉnh An Giang.
6.2. Về mặt thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể giúp các cơ quan tổ chức
tham khảo để vận dụng vào việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ nhận
thức và ý thức pháp luật cho nhân dân, vận dụng công tác điều tra, truy tố
4
xét xử, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống tội
buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang.
trốn đóng thuế theo quy định”. Như vậy, có nghĩa là trong kinh doanh, buôn bán
nếu có các hành vi trốn lậu, gian lận… thì đều được xem là buôn lậu. Khác với
nhận thức trên, thuật ngữ buôn lậu có nguồn gốc tiếng Anh “Smuggle” và trong
tiếng Việt có nghĩa là: “hành vi mang hàng hoá một cách bí mật và không hợp
pháp vào hoặc ra khỏi một nước” để buôn bán kiếm lời và thực chất nó là hành
vi buôn bán trái phép qua biên giới; quan điểm này đã được nhiều quốc gia trên
thế giới thừa nhận; Đối với nước ta, theo Từ điển Tiếng Việt thì buôn lậu có
nghĩa là: “buôn bán hàng cấm hoặc hàng
6
trốn thuế”[27, tr.121]; theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì
buôn lậu là: “hành vi buôn bán trái phép qua biên giới thể hiện dưới các dạng:
buôn bán các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm nhập khẩu, xuất khẩu, nhưng đã
tìm mọi cách để trốn thuế, sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ không hợp lệ hoặc trái
với quy định về xuất khẩu, nhập khẩu”[9, tr.97] ; còn tại Điều 188 Bộ luật hình
sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị coi là tội phạm buôn lậu nếu có hành
vi buôn bán trái phép qua biên giới “hàng hoá, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim
khí quý, đá quý có giá trị từ 100 trăm triệu đồng trở lên hoặc dưới 100 triệu
đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này” [7, tr.42].
Như vậy, từ những phân tích ở trên cho thấy Việt Nam cũng có cùng
quan điểm với các quốc gia trên thế giới khi nhìn nhận về vấn đề buôn lậu.
Xuất phát từ thực tiễn tình hình khách quan của hoạt động buôn lậu,
cũng như thực tiễn hình thành hoạt động buôn lậu và yêu cầu phòng ngừa, đấu
tranh chống tội phạm buôn lậu ở Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm về buôn
lậu ở nước ta như sau: “Buôn lậu là hành vi buôn bán hàng hoá, tiền tệ, kim
khí quý, đá quý, di vật, cổ vật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội
địa Việt Nam hoặc ngược lại trái pháp luật”[42, tr.244]..
xác định đối tượng tác động, nếu cần phải trưng cầu giám định của cơ quan
chuyên môn thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định.
- Mặt khách quan của tội phạm
+ Hành vi khách quan:
Đặc trưng của hành vi khách quan tội buôn lậu đó là buôn bán trái pháp
luật nhằm mục đích thu lợi [42, tr.245].
Việc buôn bán trái phép được thể hiện ở chỗ mua hoặc bán không có
giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép xuất, nhập khẩu và các
quy định khác của Nhà nước về hải quan (ví dụ: Giấy phép nhập khẩu là máy
móc, thiết bị dùng cho sản xuất nông nghiệp nhưng thực tế lại mua bán máy
móc sử dụng cho tiêu dùng như tủ lạnh, xe gắn máy, ti vi…)
8
Trường hợp kinh doanh xuất nhập khẩu đúng giấy phép nhưng khai không
đúng số lượng (khai ít hơn số lượng thực nhập) hoặc nhập vượt quá mức mà giấy
phép xuất, nhập khẩu cho phép thì cũng bị coi là buôn lậu nhưng chỉ truy cứu
trách nhiệm đối với phần chưa khai hoặc xuất nhập khẩu vượt mức cho phép.
Thủ đoạn của tội buôn lậu rất đa dạng. Có nhiều trường hợp người phạm
tội móc nối với cơ quan Hải quan để nhập hàng không đúng với giấy phép.
Một thủ đoạn buôn lậu thường gặp và cũng khó phát hiện, đó là việc nhập
hàng hoá núp dưới hình thức tạm nhập, tái xuất. Nhưng khi hàng đã nhập về
rồi thì không xuất mà tiêu thụ ngay trong nước.
Có thể nói, những thủ đoạn buôn lậu mà người phạm tội thực hiện rất đa
dạng, tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội cũng như các chính sách của Nhà
nước đối với việc xuất nhập khẩu.
Ngoài hành vi khách quan, đối với tội buôn lậu, nhà làm luật quy định
một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu băt buộc của cấu thành tội phạm
như: Giá trị, số lượng hàng phạm pháp; địa điểm phạm tội. Nếu thiếu các dấu
nguy hiểm cho xã hội nhưng mong muốn thực hiện hành vi đó. Động cơ phạm
tội là động cơ tư lợi, nhưng động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc
của cấu thành tội phạm [42, tr.248].
- Hình phạt
Tội buôn lậu có 4 khung hình phạt tương ứng với 04 khoản (từ khoản 1
đến khoản 4)
+ Khoản 1: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; Khoản 2: Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến
1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm; Khoản 3: Phạt tiền từ
1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15
năm; Khoản 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Ngoài ra, điều 188 BLHS năm 2015 còn bổ sung thêm trường hợp phạm
tội buôn lậu đối với pháp nhân thương mại, theo đó: “Phạt tiền từ
10
300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng nếu thực hiện hành vi tại khoản 1;
Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ
1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy
định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến
7.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc bị
đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm; Phạm tội thuộc
trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động
vĩnh viễn” [7, tr.42].
1.1.3. Lý luận về tình hình tội phạm buôn lậu
- Tình hình tội phạm là một khái niệm cơ bản của tội phạm học. Tình
hình tội phạm buôn lậu là một trong những biểu hiện của tình hình tội phạm
nói chung, vì vậy tình hình tội phạm buôn lậu cũng có đầy đủ các đặc điểm
của tình hình tội phạm nói chung. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm buôn lậu
được các cơ quan chức năng phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và được đưa
vào thống kê hình sự hay còn gọi là phần tội phạm rõ. Còn một phần tội phạm
buôn lậu đáng kể khác xảy ra trên thực tế, nhưng do nhiều lý do khác nhau mà
các cơ quan chức năng chưa phát hiện được, do đó chưa đưa vào thống kê
hình sự - đó là phần tội phạm ẩn. Quan hệ giữa phần tội phạm ẩn và tội phạm
rõ là quan hệ bù trừ trong một chỉnh thể, tức là khi phần tội phạm rõ lớn thì
phần tội phạm ẩn nhỏ và ngược lại. Do vậy, cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm buôn lậu cần phải hướng vào việc loại trừ, phát hiện các tội phạm ẩn,
coi đây là mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm
1.2. Tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn
2013- 2017
An Giang là một tỉnh thuộc khu vực khu vực miền Tây Nam Bộ với diện
12
tích tự nhiên 3.406,2 km2; phía Bắc giáp hai tỉnh Kandal và Takéo của
Campuchia, phía Nam giáp thành phố Cần Thơ, phía Đông giáp tỉnh Đồng
Tháp, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang. Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính
trực thuộc, gồm 02 thành phố trực thuộc tỉnh (thành phố Long Xuyên và
thành phố Châu Đốc), 01 thị xã (thị xã Tân Châu) và 08 huyện (An Phú, Phú
Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới); có
156 đơn vị hành chính cấp xã (16 thị trấn, 21 phường và 119 xã).
Dân số tỉnh An Giang có 2.297.600, đứng thứ 6 trong cả nước về quy mô
dân số. Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm
5,17% tổng dân số toàn tỉnh, Trong đó có 92.137 người dân tộc Khơme;
15.449 người dân tộc Hoa, 12.774 người dân tộc Chăm. Hơn 80% dân cư
sống ở vùng nông thôn, chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, nuôi
thuỷ sản; bên cạnh đó, có một bộ phận dân cư hoạt động thương mại khá nhộn
nhịp, tập trung tại các khu vực chợ biên giới giáp Campuchia và các vùng đô
địa bàn tỉnh An Giang đã hình thành một số đường dây vận chuyển thuê hàng
nhập lậu từ biên giới về nội địa, có tổ chức chặt chẽ, sử dụng điện thoại di
động trao đổi thông tin, báo động. Có các nhóm chuyên canh đường thường
xuyên theo dõi toàn bộ hoạt động của cán bộ ở trụ sở các đơn vị chức năng
chống buôn lậu để dễ dàng hoạt động. Ngoài ra còn có các thủ đoạn khác như
sử dụng hóa đơn hợp pháp xoay vòng để vận chuyển hàng nhập lậu; thay bao,
đổi nhãn thành hàng nội địa để vận chuyển, mua bán hàng nhập lậu; cất giấu
xen lẫn hàng hợp pháp, làm hầm bí mật trên các phương tiện như ô tô, ghe
tàu… Một vài nhóm đối tượng sử dụng xe mô tô tốc độ cao công khai vận
chuyển hàng nhập lậu trên các tuyến đường bộ, đặc biệt là quốc lộ 91 gây mất
trật tự an toàn giao thông, tạo hình ảnh không tốt về tình hình an ninh trật tự ở
địa phương.
14
Các đầu nậu thuê mướn đông đảo người đai vác, vận chuyển hàng nhập
lậu nhỏ lẻ, liên tục, ồ ạt trên tuyến biên giới, phân tán cất giấu hàng hóa nhiều
nơi; có sự thỏa thuận giao trách nhiệm quản lý hàng hóa để không để lộ mặt
chủ hàng, tránh bị xử lý. Do được giao khoán hàng hóa vận chuyển nên người
đai vác sẵn sàng chống đối lực lượng kiểm soát, giành giật hàng hóa khi bị bắt
giữ, có lúc chống trả rất quyết liệt gây không ít khó khăn cho các cơ quan
chức năng.
Mặt hàng nhập lậu rất đa dạng, phong phú về chủng loại, giá trị, đặc biệt
nhạy cảm vói tình hình giá cả và nhu cầu thị trường nội địa. Một số hàng hóa
thường xuyên bị phát hiện bắt giữ là thuốc lá ngoại, đồ điện tử, điện lạnh,
quần áo cũ, nước giải khát, phụ tùng xe ô tô, mô tô, điện thoại di động, đường
cát Thái Lan… Mặt hàng xuất lậu chủ yếu là xăng dầu và đô la Mỹ. Do giá
xăng dầu biến động, giá trong nước luôn thấp hơn giá ở Campuchia nên các
đối tượng buôn lậu tìm cách vận chuyển nhỏ lẻ qua biên giới, bằng nhiều
1.2.1.1. Thực trạng (mức độ) của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh
An Giang trong giai đoạn (2013-2017)
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh “thực trạng của tình hình tội
phạm là số lượng các tội phạm đã được thực hiện và những người thực hiện
các tội phạm đó ở một địa hình nhất định và trong một khoảng thời gian nhất
định” [21- tr.62]; Thực trạng của tình hình tội buôn lậu là tổng số vụ buôn lậu
và số bị cáo đã bị các TA trên địa bàn tỉnh An Giang xét xử, tuyên án bằng
bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Để mô tả và đánh giá một cách chính xác
thực trạng của tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang, tác giả
sử dụng số liệu thống kê của TAND tỉnh từ năm 2013 đến 2017, số kết quả xét
xử sơ thẩm các vụ án hình sự, 200 bản án hình sự sơ thẩm, bản kết luận điều
tra và các báo cáo tổng kết hàng năm để làm chất liệu nghiên cứu. Dưới đây là
bảng số liệu chi tiết về số vụ cũng như số người phạm tội buôn lậu đã bị truy
tố, xét xử trên địa bàn tỉnh An Giang trong 5 năm.
16
Bảng 1.1. Thực trạng tình hình buôn lậu ở An Giang (2013 – 2017)
Năm
Tội phạm buôn lậu
Số vụ án
Số bị cáo
2013
76
147
Nguồn: Thống kê hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Qua số liệu thống kê (Bảng 1.1) cho thấy, trong 5 năm từ 2013 đến 2017,
trên địa bản tỉnh An Giang đã xảy ra 285 vụ buôn lậu với 455 bị cáo. Trong đó
tập trung chủ yếu vào năm 2013 với 76 vụ và 147 bị cáo. Như vậy, trung bình
mỗi năm trên địa bàn tỉnh xảy ra 57 vụ với khoảng 91 đối tượng phạm tội
buôn lậu bị đưa ra xét xử.
Để thấy rõ hơn thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh
An Giang từ năm 2013 – 2017, chúng ta cần so sánh tình hình tội phạm buôn
lậu với tình hình tội phạm nói chung xảy ra trên địa bàn tỉnh An Giang.
Bảng 1.2. Tỉ trọng tội buôn lậu so với mức độ tổng quan của tình hình tội
phạm trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2013 – 2017
Năm
Buôn lậu
Tội phạm chung
Tỉ lệ %
Số vụ(3) Số bị cáo(4)
(1)/(3) (2)/(4)
Số vụ(1)
Số bị cáo(2)
2013
94
631
954
9,8
9,9
2016
46
75
583
726
7,9
10,3
17
2017
45
tỉ lệ đáng kể trong cơ cấu tội phạm bởi lẽ tội buôn lậu là hành vi nguy hiểm
cho xã hội, gây ra những hậu quả, tác hại to lớn, làm suy yếu các ngành công
nghiệp, sản xuất; giảm nguồn thu ngân sách, ảnh hưởng tới chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước, sự tồn tại của loại tội phạm
này gây mất ổn định về ANTT tại địa phương, gây bức xúc trong đời sống của
nhân dân.
Đánh giá thực trạng của tình hình tội phạm không thể bỏ qua cơ số tội
phạm, nhất là khi đánh giá thực trạng của tình hình tội phạm qua các khoảng
thời gian khác nhau trên một địa bàn hoặc ở các địa bàn khác nhau trong cùng
khoảng thời gian nhất định. Cơ số tội phạm được xác định để tìm hiểu mức độ
phổ biến của tội phạm trong dân cư. Cơ số tội phạm được tính theo tỉ lệ số tội
phạm (hoặc vụ phạm tội) trên 100.000 người dân hoặc 10.000 người dân. Cơ
số tội phạm luôn được xác định gắn liền với một địa bàn nhất định và trong
một khoảng thời gian nhất định.
Bảng 1.3: Cơ số tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang
giai đoạn 2013- 2017
Năm
2013
Số bị cáo
Số dân
(1000 người)
147
1.993.500
18
56
2.297.600
41.029
Trung bình
91
2.149.540
23.621
Nguồn: Cục thống kê tỉnh An Giang, Thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang 1.2.1.2. Diễn biến của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An
Giang giai đoạn 2013- 2017
Diễn biến của tình hình tội phạm là sự vận động và sự thay đổi của thực
trạng và cơ cấu của tình hình tội phạm trong một khoảng thời gian nhất định
(một năm, ba năm, năm năm, mười năm…).
Như vậy, diễn biến tình hình tội buôn lậu chính là sự phản ánh sự thay
đổi, xu hướng tăng, giảm hoặc ổn định tương đối của tình hình tội buôn lậu
xảy ra trong khoảng thời gian nhất định và trên một địa bàn nhất định.
Bảng 1.4: Diễn biến của tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang
giai đoạn 2013- 2017
Năm
Số vụ
Số bị cáo
2016
46
60% (- 40%)
75
52% (- 48%)
2017
45
59% (- 41%)
56
39% (- 61%)
Nguồn: Số liệu thống kê Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Theo số liệu thống kê nêu trên có thể thấy giai đoạn 2013-2017, tội buôn
lậu trên địa bàn tỉnh An Giang có xu hướng giảm dần cả số vụ và số bị cáo, tội
buôn lậu bị xử lý nhiều nhất tập trung vào năm 2013 với 76 vụ và 147 bị cáo,
đến năm 2017 tội buôn lậu đã giảm 41% số vụ và 61% số bị cáo so với
19