VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÙY TRANG
TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN:
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÙY TRANG
TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN:
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số
: 60 38 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. HỒ TRỌNG NGŨ
Lạng Sơn ......................................................................................................... 28
CHƢƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI
BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN..................................... 42
3.1. Dự báo tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian
tới..................................................................................................................... 42
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn ..................................................................................... 51
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 67
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng1.1: Thực trạng tình hình buôn lậu ở Lạng Sơn (2011 – 2015) .................. 13
Bảng 1.2: Cơ cấu số vụ buôn lậu trong tổng số vụ phạm tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế ...................................................................................................... 16
Bảng 1.3: Cơ cấu về đối tượng của người phạm tội buôn lậuở tỉnh Lạng Sơn
(2011 – 2015)
...................................................................................................... 17
Bảng 1.4: Cơ cấu về độ tuổi của người phạm tội buôn lậuở Lạng Sơn (2011 –
2015) ....................................................................................................................... 18
Bảng 1.5: Cơ cấu theo trình độ học vấn ................................................................ 19
Biểu đồ 1.1: Diễn biến tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàntỉnh Lạng Sơn
(2011 - 2015) ................................................................................................... 15
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lạng sơn là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Đông Bắc, giáp các tỉnh
nhau vẫn còn nhiều vụ án buôn lậu chưa được phát hiện và xử lý hình sự.
Điều đó chứng tỏ công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm này trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn chưa đạt được hiệu quả mong muốn. Vì vậy, việc nghiên cứu
thực trạng, tìm ra nguyên nhân của tội phạm buôn lậu, dự báo xu hướng biến
động để xây dựng giải pháp phòng ngừa có hiệu quả nhóm tội phạm này trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn là một việc làm có tính cấp bách trong tình hình hiện
nay. Xuất phát từ lí do đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Tội buôn lậu trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa” làm đề tài
cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, vấn đề buôn lậu và đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu
đã được nhiều bộ, ngành, địa phương chỉ đạo thực hiện, tác giả đã nghiên cứu
và thu thập trong nhiều báo cáo khoa học, các báo, tạp chí như:
- Luận án Tiến sĩ Luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Bình với
đề tài “Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng
hóa, tiền tệ qua biên giới”, năm 2000. Luận án đi vào nghiên cứu một các có
hệ thống thực trạng buôn lậu, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội buôn lậu
hoặc vận chuyển trải phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới và để đề ra các giải
pháp hữu hiệu cho cuộc đấu tranh, hạn chế và từng bước đẩy lùi tệ nạn buôn
lậu hoặc vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới.
- Các công trình khác dưới dạng luận văn thạc sĩ như: Luận văn Thạc sĩ
Luận học của tác giả Dương Thị Nhàn, Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, năm 2006; Luận văn Thạc sĩ Luận học của Lê
2
Đặng Quốc Phong, Phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang,
năm 2012; Thạc sĩ Lê Văn Tới, Buôn lậu và chống buôn lậu, nhận diện và
giải pháp, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000; Luận văn Thạc sĩ Luật
học của Nguyễn Đăng Phú, Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu trên
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là làm rõ hơn những lý luận cơ
bản về tình hình tội buôn lậu, nguyên nhân và điều kiện của tội buôn lậu và
các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn; thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu ở nước ta trong thời gian 5 năm
(từ năm 2011 đến 2015).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung , đề tài được thực hiện dưới góc độ tội phạm học thuộc
chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm;
- Về tội danh, đề tài phải đề cập đến tình hình tội buôn lậu được quy
định tại điều 188 của Bộ luật hình sự 2015
- Về không gian, đề tài sử dụng số liệu thực tế trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn, bao gồm số liệu thống kê của cơ quan Tòa án tỉnh Lạng Sơn.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu được giới hạn trong thời gian từ 2011
đến 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp
luậnchủ nghĩa Mác-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng
làm cơ sở, phương pháp luận cho việc nghiên cứu để giải quyết những vấn đề
về lý luận tình hình tội buôn lậu, thực trạng, nguyên nhân và điều kiện tội
buôn lậu từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn làm cơ sở thực tiễn.
4
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương
pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh,
phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp diễn giải.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
khu kinh tế động lực, đa chức năng với các cơ chế, chính sách, ưu đãi, phát triển
năng động đóng vai trò là đầu cầu liên kết của tuyến hành lang kinh tế Nam
Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải phòng - Quảng Ninh. Với chính sách mở cửa
hội nhập của đất nước, với việc bình thường hóa quan hệ 2 nước Việt Nam
Trung Quốc, hoạt động xuất nhập khẩu ở biên giới 2 nước Việt - Trung
trở nên nhộn nhịp hơn, sôi động hơn.Tuy nhiên, bên cạnh đó, Lạng Sơn cũng
được xác định là địa bàn phức tạp về buôn lậu tại tuyến biên giới phía Bắc.
Cùng với Quảng Ninh, Lạng Sơn là một trong hai địa bàn trọng điểm về buôn
lậu hàng hóa do Trung Quốc sản xuất.
* Điều kiện về kinh tế xã hội
Tình hình buôn lậu ở Lạng Sơn trên tuyến đường sắt Đồng Đăng - Hà
Nội lại sôi động. Điển hình là vào ngày 25-12, tại ga liên vận quốc tế Đồng Đăng
(Cao Lộc), các lực lượng chống buôn lậu của tỉnh đã kiểm tra tàu chở khách hiệu
DD6, chạy tuyến Đồng Đăng - Hà Nội, phát hiện trên ba toa tàu có chứa nhiều
mặt hàng do nước ngoài sản xuất, có dấu hiệu vi phạm hóa đơn, chứng từ, có
nhiều mặt hàng nghi là hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ... Toàn bộ số hàng
này đã được các lực lượng chức năng thu giữ để điều tra làm rõ.
9
Từ nhiều năm nay, khu vực thị trấn Đồng Đăng, trong đó có ga liên vận
quốc tế Đồng Đăng, luôn là tâm điểm tập kết hàng lậu. Thị trấn Đồng Đăng
chỉ cách đường biên giới từ 2 đến 3 km, có hai cửa khẩu quốc tế đường bộ và
đường sắt, lại có nhiều đường mòn, lối tắt qua biên giới. Đối diện với thị trấn
Đồng Đăng là khu trung tâm thương mại Bằng Tường, Quảng Tây (Trung
Quốc) có nhiều kho hàng lớn. Từ đây, hàng lậu, hàng cấm được xé lẻ, vận
chuyển với nhiều thủ đoạn, như: mang vác, xách tay, lợi dụng đêm tối vượt
biên qua đường mòn, lối tắt. Khi đã vào khu vực biên giới, hàng được cất giấu
trong khu vực dân cư nằm sát biên giới, chờ cơ hội lên xe ô-tô, vận chuyển
Trong mấy năm gần đây ở tỉnh Lạng Sơn, các chủ hàng, chủ đầu nậu đã
áp dụng thủ đoạn chia nhỏ, xé lẻ các lô hàng để vận chuyển qua biên giới,
hàng nhập lậu được vận chuyển bằng nhiều loại phương tiện: ô tô, xe máy,
mang vác chạy bộ đi qua hai ben cánh gà của các trạm kiểm soát dọc biên
giới; hàng hóa được tập kết ở một số nhà dân ven đường, bìa rừng, khi có điều
kiện thì chuyển hàng lên các phương tiện như xe tải, xe chở khách, xe con…
vận chuyển sâu vào nội địa để tiêu thụ.
Sau một thời gian hoạt động với thủ đoạn lợi dụng các phương tiện, đối
tượng giả danh thương binh, người tàn tật để vận chuyển hàng lậu bị các lực
lượng chức năng phát hiện, xử lý triệt để, thì các đối tượng buôn lậu lại
chuyển đổi phương thức hoạt động sang sử dụng các loại xe 4 chỗ ngồi, xe du
lịch, xe gắn máy dùng biển số giả… để vận chuyển hàng quý hiếm, động vật
hoang dã quý hiếm; hàng hóa vận chuyển được tháo rời chi tiết không đồng
bộ, vận chuyển thành nhiều cung đoạn để tránh sự phát hiện.
Trong các năm gần đây đã phát triển được thủ đoạn mới là các đối
tượng lợi dụng danh nghĩa các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa để móc nối tổ chức buôn lậu, khai báo sai xuất xứ hàng hóa, tháo rời hàng
hóa thành các chi tiết (chủ yếu là loại hàng hóa ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy nổ,
xe máy…) sau đó làm thủ tục nhập khẩu dưới dạng linh kiện phụ tùng ở nhiều
của khẩu khác nhau nhằm hợp thức hóa, trốn thuế, thu lợi bất chính lớn…
11
Một phương thức khác là để che giấu hành vi buôn lậu, một số nhóm
đối tượng chuyên buôn lậu, vận chuyển hàng hóa đã huy động vốn thành
lập các công ty trách nhiệm hữu hạn có chức năng xuất – nhập khẩu, chúng
lợi dụng việc nhập khẩu hàng hóa hoặc làm thủ tục mua hàng thanh lý để
sử dụng quay vòng hóa đơn chứng từ. Thủ đoạn của các đối tượng là nhập
khẩu hàng hóa hoặc mua hàng phát mại đưa về kho của công ty rồi mới
xuất hàng từ kho kèm theo hóa đơn thuế giá trị gia tăng vận chuyển đi các
Năm
Tội phạm buôn lậu
Số vụ án
Số bị cáo
2011
87
155
2012
22
37
2013
36
63
2014
34
50
Như vậy qua số liệu thống kê của tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011
– 2015 xẩy ra 207 vụ với 355 bị cáo. Nhưng tình hình buôn lậu diễn ra nhiều
nhất và phức tạp với số lượng bị cáo nhiều nhất tập trung chủ yếu vào năm
2011. Từ năm 2013 – 2015 tình hình tội phạm buôn lậu đã được đưa ra xét xử
không có nhiều thay đổi và sự biến động lớn.
Từ việc nghiên cứu, phân tích kết quả xét xử trên có thể kết luận trong
5 năm qua, tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có xu hướng giảm về số
vụ nhưng số lượng bị cáo vẫn không giảm.
1.2.1.2. Diễn biến của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
trong thời gian gần đây
Từ việc nghiên cứu, phân tích kết quả xét xử trên có thể kết luận, 5 năm
qua, tội buôn lậu trên tuyến biên giới Đông Bắc có xu hướng phát triển không
đều, có năm tăng có năm giảm, năm tăng cao nhất là 2011, nhưng nhìn chung
tỷ lệ tăng giảm của những năm gần đây không đáng kể . Mức độ gia tăng của
tình hình tội buôn lậu trên tuyến biên giới Đông Bắc từ năm 2011 đến năm
2015 được phản ánh rõ qua biểu đồ 1.2.
14
Biểu đồ 1.1: Diễn biến tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn (2011 - 2015)
Nguồn: Thống kê hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn
Theo biểu đồ 1.2 ta có thể nhận thấy số lượng tội phạm buôn lậu trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến năm 2015 có xu hướng giảm dần qua từng
năm. Tuy nhiên trong năm 2014 là năm kinh tế xã hội của tỉnh và cả nước gặp
nhiều khó khăn (Trung Quốc đặt hạ giàn khoan 981 vào trong vùng đặc quyền
kinh tế của Việt Nam làm ảnh hưởng quan hệ ngoại giao, nhu cầu tiêu dùng hàng
hóa cũng giảm nhưng các vụ buôn lậu trong năm 2014, xét xử 34 vụ (49 bị cáo),
số bị cáo không tăng so với năm 2013. Tình hình trên càng đáng lo ngại hơn khi
Tội buôn lậu
phạm TTQLKT
số tội phạm xâm
phạm TTQLKT
Số vụ án Số bị cáo Số vụ án Số bị cáo Cơ cấu
Cơ cấu
đã xét xử đã xét xử đã xét xử đã xét xử về số vụ
về số
(tỷ lệ %)
người
phạm tội
(tỷ lệ %)
2011
77
144
185
250
41,62
57,60
2012
22
57
125
57,9
39,2
2015
28
50
84
105
33,33
47,61
16
Theo bảng 1.3 cho thấy tỷ trọng của tội buôn lậu trong tổng số các tội
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tăng giảm qua các năm , năm 2011 chiếm
41,62%; năm 2012 chiếm 37,93%; năm 2013 chiếm 38,70%; năm 2014 chiếm
57,90% ; năm 2015 chiếm 33,33%.
10
12
2013
-
-
23
13
2014
-
-
30
4
2015
-
-
* Cơ cấu về độ tuổi người phạm tội
Bảng 1.4: Cơ cấu về độ tuổi của người phạm tội buôn lậu
ở Lạng Sơn (2011 – 2015)
Độ tuổi người phạm tội
Năm
2011
Từ đủ 14 đến
dưới 16
-
Từ đủ 16 đến
dưới 18
31
2012
-
3
19
2013
-
6
30
yếu là người từ 18 đến 30 tuổi chủ yếu phạm tội này. Đây là độ tuổi đã thành
niên và cũng là phản ánh thực tế khách quan, hợp lý bởi ở độ tuổi chưa thành
18
niên chủ thể này không thể có đủ khả năng về nhận thức, tư duy để có thể
thực hành loại tội phạm có tính chất, quy mô tổ chức cao và phức tạp này.
* Cơ cấu theo các hình thức xử lý bị cáo phạm tội buôn lậu
Nghiên cứu hơn 200 bản án hình sự sơ thẩm với 355 bị cáo do Tòa
án nhân dân tỉnh Lạng Sơn thì số bị cáo đã bị xét xử về tội buôn lậu, phân
tích các hình phạt chính đã áp dụng được kết quả như sau: Miễn hình phạt:
0 trường hợp, phạt tiền: 10 trường hợp, phạt tù có thời hạn dưới 3 năm cho
hưởng án treo o trường hợp , phạt tù có thời hạn dưới 3 năm 163 trường
hợp chiếm tỷ lệ; phạt tù có thời hạn từ 3 năm đến dưới 7 năm: 57 trường
hợp, chiếm tỷ lệ , phạt tù có thời hạn từ 7 - 15 năm: 16 trường hợp, phạt tù
từ trên 15 năm đến 20 năm 1 trường hợp, phạt ừ chung thân và tử hình 1
trường hợp, xử phạt hành chính 5 trường hợp.
Ngoài các hình phạt chính, Tòa án nhân dân các cấp còn áp dụng hình
phạt bổ sung phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một
phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định từ một năm đến năm năm của 88 trường hợp.
+ Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội buôn lậu
Bảng 1.5: Cơ cấu theo trình độ học vấn
Năm
2011
2012
2013
2014
2015
12
56
phân tích các bị cáo phạm tội buôn lậu trên tuyến biên giới Lạng
Sơn đã bị Tòa án các cấp ở các tỉnh Lạng Sơn xét xử từ năm 2011 đến năm
19
2015, thấy: Số có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất (91
người, chiếm 18,5%); số người không rõ trình độ (56 người, chiếm 14%); tiếp
đó là số người có trình độ học vấn trung học phổ thông (48 người, chiếm
11%); số người có trình độ đại học khá thấp (12 người, chiếm 5,0%).
Tóm lại: Trong cơ cấu hình phạt ở cấp sơ thẩm của tội buôn lậu trên tuyến
biên giới phía Bắc 5 năm qua, hình phạt tù có thời hạn dưới 3 năm có tỷ lệ cao
nhất, chiếm tỷ lệ 51%; nhưng trong số này lại áp dụng biện pháp cho hưởng án
treo có tỷ lệ rất cao so với tổng số bị cáo đã xét xử (khoảng 31,4%); hình phạt
tiền cũng đã được áp dụng, chiếm tỷ lệ 20%. Đặc biệt có rất ít trường hợp bị áp
dụng tù có thời hạn từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Tóm lại, việc phân tích thực trạng, diễn biến, đối tượng, độ tuổi, có ý
nghĩa rất quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
buôn lậu một cách có trọng tâm, trọng điểm và đạt hiệu quả cao, đặc biệt là
trong việc tổ chức lức lượng, xây dựng chiến lược, kế hoạch, biện pháp
phòng, chống cho phù hợp.
1.2.1.4. Tính chất của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng sơn
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Tính chất của tình hình tội
phạm thể hiện ở số lượng của các tội phạm nguy hiểm nhất cho xã hội trong
cơ cấu của tình hình tội phạm cũng như ở các đặc điểm nhân thân của những
người thực hiện tội phạm: tính chất của tình hình tội phạm được làm sáng tỏ
thông qua cơ số của nó”.
Nhân thân người phạm tội buôn lậu có đặc trưng trình độ văn hóa thấp