TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TRẦN THỊ THÚY
ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CÁC PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG
ĐƢỜNG THỦY VÀ ĐƢỜNG HÀNG KHÔNG
TRONG TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI, 2019
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TRẦN THỊ THÚY
ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CÁC PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG
ĐƢỜNG THỦY VÀ ĐƢỜNG HÀNG KHÔNG
TRONG TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN VĂN THẠO
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2019
Ngƣời thực hiện
Trần Thị Thúy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài ................................................................................ 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................... 1
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 2
4. Phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu .................................................... 2
5. Đóng góp của khóa luận ........................................................................... 3
6. Bố cục của khóa luận ................................................................................ 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH TÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN ............................................................................................................ 4
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................... 4
1.1.1. Nghiên cứu về phương tiện giao thông ............................................... 4
1.1.2. Nghiên cứu định danh trong tiếng Việt ............................................... 4
1.2. Phƣơng tiện giao thông, phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy và
phƣơng tiện giao thông đƣờng hàng không. ............................................... 6
1.2.1. Phương tiện giao thông ....................................................................... 6
1.2.2. Phương tiện giao thông đường thủy ................................................... 6
1.2.3. Phương tiện giao thông đường hàng không ....................................... 8
1.3. Lý thuyết định danh trong ngôn ngữ ................................................... 8
1.3.1. Định danh trong ngôn ngữ .................................................................. 8
1.3.2. Cơ sở định danh trong ngôn ngữ ...................................................... 10
Tiểu kết chƣơng 1 ....................................................................................... 17
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tổng hợp tên gọi các phƣơng tiện đƣờng thủy theo mô hình
đơn ........................................................................................................ …..18
Bảng 2.2. Tổng hợp tên gọi theo mô hình phức hợp ................................. 19
Bảng 2.3. Tổng hợp tên gọi phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy............. 20
Bảng 3.1. Tổng hợp tên gọi theo mô hình định danh đơn ........................ 43
Bảng 3.2. Tổng hợp tên gọi theo mô hình định danh phức hợp ............... 43
Bảng 3.3. Tổng hợp tên gọi phƣơng tiện giao thông đƣờng hàng không. 44
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngôn ngữ là một yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển của xã hội
loài ngƣời. Với tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh chóng, ngôn ngữ
giao tiếp ngày càng đƣợc mở rộng. Tiếng Việt cũng vì thế mà đƣợc con ngƣời
tạo ra rất nhiều từ mới để đáp ứng nhu cầu đƣợc diễn đạt và bày tỏ cảm xúc.
Nhờ hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ cùng các cách thức định danh nhƣ:
phƣơng thức ẩn dụ và phƣơng thức hoán dụ đã tạo ra một kho tàng từ vựng
mới nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp của ngƣời Việt. Tên gọi các phƣơng tiện
giao thông cũng nhờ đó mà đƣợc mở rộng và rất đa dạng. Giao thông Việt
Nam những năm gần đây rất phát triển, đặc biệt là giao thông đƣờng thủy và
đƣờng hàng không. Ngoài các phƣơng tiện giao thông cũ thì hàng loạt các
phƣơng tiện giao thông mới ra đời kéo theo nhu cầu gọi tên các sự vật mới.
Đa số, trong giao tiếp, chúng ta chỉ biết đến các phƣơng tiện giao thông mà
không hiểu đƣợc nguồn gốc và ngữ nghĩa cũng nhƣ cách thức gọi tên chúng.
Tên gọi các phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy và đƣờng hàng không cũng
đƣợc định danh theo những cơ chế nhƣ những sự vật hiện tƣợng khác trong
tiếng Việt. Bài khóa luận này, chúng ta sẽ phần nào hiểu rõ hơn tại sao lại có
và đƣờng hàng không.
4. Phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi sử dụng
chủ yếu một số phƣơng pháp nghiên cứu sau.
4.1. Các phương pháp nghiên cứu
4.1.1. Phương pháp phân tích thành tố ngữ nghĩa
Đây là phƣơng pháp pháp làm cơ sở để phân tích hiện tƣợng chuyển
nghĩa và từ nhiều nghĩa. Đồng thời nó cũng làm cơ sở để phân tích ý nghĩa
của những tên gọi phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy và đƣờng hàng không
trong tiếng pháp làm cơ sở để phân tích hiện tƣợng chuyển nghĩa và từ nhiều
nghĩa. Đồng thời nó cũng làm cơ sở để phân tích ý nghĩa của những tên gọi
phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy và đƣờng hàng không trong tiếng Việt.
4.1.2. Phương pháp miêu tả
2
Đây là phƣơng pháp làm cơ sở để phân tích hiện tƣợng chuyển nghĩa và
từ nhiều nghĩa. Đồng thời nó cũng làm cơ sở để phân tích ý nghĩa của những
tên gọi phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy và đƣờng hàng không trong tiếng
Việt.
Ngoài ra, bên cạnh các phƣơng pháp nghiên cứu kể trên, chúng tôi còn
sử dụng một số phƣơng pháp khác nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp,
phƣơng pháp phân tích ngữ cảnh… để giải quyết các vấn đề của khóa luận.
4.2. Thủ pháp nghiên cứu
Trong bài khóa luận này, chúng tôi sử dụng thủ pháp thống kê, phân
loại. Đây là thủ pháp quan trọng góp phần cho sự thành công của khóa luận
này. Thủ pháp giúp xác định số lƣợng và tỉ lệ tên gọi các phƣơng tiện giao
thông đƣờng thủy và đƣờng hàng không trong tiếng Việt.
5. Đóng góp của khóa luận
đã trả lời cho độc giả những câu hỏi: Vận tải đƣờng thủy là gì? Các loại giao
thông đƣờng thủy là gì? Phƣơng tiện vận tải đƣờng thủy là gì? Loại phƣơng
tiện vận tải đƣờng biển phổ biến? [13]
Bài viết của Hoàng Linh đăng trên Zing.vn nói về “Lý dó khiến máy
bay vẫn là phƣơng tiện an toàn cao” [14]
Các tác giả trên đều đề cập đến về vấn đề giao thông ở nƣớc ta hiện
nay.
1.1.2. Nghiên cứu định danh trong tiếng Việt
Trong công trình nghiên cứu “Đặc trƣng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ
và tƣ duy”, Nguyễn Đức Tồn đã nêu lí thuyết về định danh ngôn ngữ và đặc
trƣng văn hóa – dân tộc của định danh ngôn ngữ. Đồng thời ông cũng tìm
hiểu cụ thể đặc trƣng văn hóa dân tộc của định danh ngôn ngữ qua một số
trƣờng từ vựng chỉ bộ phận cơ thể ngƣời, động vật, thực vật trong tiếng Việt
4
[4]. Đây là công trình nghiên cứu theo hƣớng lí thuyết thuộc lĩnh vực tâm lí
ngôn ngữ học tộc ngƣời. Công trình đó đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của
các nhà ngôn ngữ học.
Nguyễn Thúy Khanh có bài viết “Đặc điểm trƣờng từ vựng ngữ nghĩa
tên gọi động vật.” [5]
Nguyễn Thúy Hảo có bài viết: “Đặc điểm định danh của tên gọi các
loài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt.” [6]
Lê Thị Thanh Huyền có bài viết “Đặc điểm tri nhận của ngƣời Việt qua
trƣờng từ vựng chim chóc.” [7]
Việc nghiên cứu lý thuyết định danh, nghĩa của từ và các phƣơng thức
chuyển nghĩa của từ đã đƣợc rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu. Ở Việt
Nam, nghiên cứu chuyên sâu và kĩ lƣỡng nhất về vấn đề này có Đỗ Hữu Châu
trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” [2] và cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học
từ vựng”. [1]
nhau lại có những phƣơng tiện khác nhau. Mỗi ngành giao thông vận tải khác
nhau lại có những phƣơng tiện khác nhau. Mỗi phƣơng tiện ở mỗi ngành lại
phục vụ từng mục đích, chức năng khác nhau. Chính vì vậy mà cách đặt tên
phƣơng tiện giao thông cũng khác nhau. Phải đặt tên chúng khác nhau là bởi
lẽ còn phân biệt với những phƣơng tiện còn lại. Cơ sở hạ tầng ngành giao
thông ngày càng đƣợc mở rộng kéo theo các phƣơng tiện giao thông xuất hiện
rất nhiều về cả chủng loại, chất lƣợng và mẫu mã.
1.2.2. Phương tiện giao thông đường thủy
Giao thông đƣờng thủy ra đời khá sớm trên thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng. Bởi nƣớc ta có mạng lƣới sông ngòi dày đặc lại có đƣờng bờ
biển chạy dài nên giao thông đƣờng thủy cũng rất phát triển. Ngày nay, giao
thông đƣờng thủy phát triển hiện đại phục vụ cho các nhu cầu của con ngƣời
từ vận chuyển hàng hóa đến du lịch, thám hiểm. Khác với thời xƣa, ngày
nay có rất nhiều các phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy với nhiều tính năng
hiện đại giúp con ngƣời kiểm soát cũng nhƣ giữ đƣợc độ an toàn cao khi
6
tham gia giao thông trên mặt nƣớc. Có thể kể đến các phƣơng tiện giao
thông đƣờng thủy nhƣ: tàu, bè, thuyền, phà,… Vậy phƣơng tiện giao thông
đƣờng thủy là gì?
Phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy là loại phƣơng tiện dùng để di
chuyển trên mặt nƣớc. Các phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy cũng đƣợc
chia làm hai loại lớn: phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy nội địa và phƣơng
tiện giao thông đƣờng biển.
Phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy nội địa là những phƣơng tiện giao
thông hoạt động trên sông, ngòi, kênh, rạch, hồ, đầm, phá, vụng, vịnh, ven
bờ biển, ra đảo, nối các đảo đƣợc tổ chức quản lí và khai thác giao thông
vận tải thuộc nội thủy ở nƣớc ta. Hay nói cách khác, phƣơng tiện thủy nội
địa là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động
1.3. Lý thuyết định danh trong ngôn ngữ
1.3.1. Định danh trong ngôn ngữ
Con ngƣời luôn luôn có xu hƣớng và nhu cầu muốn đƣợc gọi tên các sự
vật, hiện tƣợng xung quanh mình hay nói cách khác là sử dụng cách định
danh đối với tất cả những thứ trong thế giới khách quan. Cách con ngƣời định
danh sự vật hiện tƣợng không chỉ là nhu cầu đƣợc gọi tên sự vật, hiện tƣợng
mà còn thể hiện khả năng tƣ duy trong đời sống xã hội. Hiện nay, nghiên cứu
về định danh phát triển vô cùng mạnh mẽ theo hƣớng đa liên ngành để có một
cái nhìn tổng thể và rõ ràng nhất về nó.
Thuật ngữ định danh đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu hiểu khác nhau.
Theo G.V.Cosanski, ông quan niệm định danh là “sự cố định (hay gắn) cho
một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm – biểu niệm (significant) phản ánh các
đặc trƣng của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ
của các đối tƣợng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các
đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ.”[9]
8
Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” của Nguyễn Nhƣ Ý định
nghĩa: “Định danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để
gọi tên, chia tách thành các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình
thành khái niệm tƣơng ứng trong hình thức từ, tổ hợp từ, thành ngữ và câu.”
[8,89]
Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” của Viện ngôn ngữ học Liên
Xô năm 1990, định danh là “việc tổ chức các đơn vị ngôn ngữ mang chức
năng định danh, có nghĩa là phục vụ cho việc gọi tên và phân chia các khúc
đoạn hiện thực và sự hình thành của những khái niệm tƣơng ứng trong hình
thức từ, tổ hợp từ, thành ngữ và câu.” [10]
Nguồn gốc của từ “định danh” là từ tiếng La tinh, nghĩa là “tên gọi”.
Định danh đƣợc hiểu đơn giản là một chức năng gọi tên sự vật, hiện tƣợng
hiện tƣợng không có đặc trƣng và nổi bật nhƣng vẫn có giá trị cao trong định
danh có thể khu biệt đƣợc với sự vật, hiện tƣợng khác.
Định danh có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống con ngƣời.
Việc con ngƣời định danh đƣợc sự vật hiện tƣợng chứng tỏ sự nhận thức và tƣ
duy về thế giới là một quá trình. Khi đã định danh đƣợc sự vật hiện tƣợng,
con ngƣời đã có thể chiếm lĩnh đƣợc nó trong toàn bộ nhận thức của mình và
chỉ có con ngƣời mới đặt tên đƣợc cho sự vật hiện tƣợng khách quan mà thôi.
Việc định danh còn giúp chúng ta hiểu hơn và hệ thống hơn đƣợc về ngôn
ngữ của chính dân tộc mình. Đồng thời, qua cách định danh, mỗi dân tộc lại
hình thành cho mình một vốn văn hóa, lịch sử và tƣ duy độc đáo khác nhau.
Chính vì thế mà qua lớp ngôn ngữ trong cách định danh, con ngƣời có thể lƣu
giữ đƣợc nếp nghĩ, nếp sống và văn hóa… của dân tộc mình.
1.3.2. Cơ sở định danh trong ngôn ngữ
1.3.2.1. Định danh theo phương thức ẩn dụ
Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật. A
vốn là tên gọi của x (tức x là ý nghĩa biểu vật chính của A). Phƣơng thức ẩn
dụ là phƣơng thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y) nếu nhƣ x
10
và y giống nhau. Trong trƣờng hợp này, x và y không có liên hệ khách quan,
chúng thuộc những phạm trù khác hoàn toàn nhau. Sự chuyển tên gọi diễn ra
tùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con ngƣời về sự giống
nhau giữa chúng. [2,155-156]
Xét trong mối quan hệ giữa sự vật chính và sự vật nhận tên gọi ẩn dụ
mà có ẩn dụ cụ thể - cụ thể, cụ thể - trừu tƣợng. Cụ thể ở đây là những sự vật
cảm nhận đƣợc bằng giác quan, còn trừu tƣợng là những sự vật không thể
cảm nhận đƣợc bằng giác quan. Trƣờng hợp ẩn dụ cụ thể - cụ thể nhƣ: chân
tay (bộ phận cơ thể ngƣời) với chân bàn, chân ghế, chân núi, chân tƣờng…
Ẩn dụ cụ thể - trừu tƣợng nhƣ: khối kiến thức, đập tan luận điệu xảo trá, nắm
nét nghĩa cùng tác động. Nắm đƣợc cơ chế các nét nghĩa là điều quan trọng và
cần thiết để hiểu sâu sắc ý nghĩa của từ.
1.3.2.2. Định danh theo phương thức hoán dụ
Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật. A
vốn là tên gọi của x (x là nghĩa biểu vật chính của A). Phƣơng thức hoán dụ là
lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế. Mối liên
hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của
con ngƣời. Do vậy, các hoán dụ có tính khách quan hơn các ẩn dụ.[2,155-156]
Các cơ chế của phương thức hoán dụ:
- Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận – toàn thể giữa hai ý nghĩa biểu vật
x và y; x là bộ phận của y hoặc x là toàn thể, y là bộ phận. Trong cơ chế này
đƣợc phân tách ra làm các dạng nhỏ nhƣ sau:
Thứ nhất, lấy tên gọi của bộ phận cơ thể thay cho cả cơ thể. Ví dụ nhƣ
các từ: chân, tay, miệng… đƣợc dùng để gọi cho toàn bộ cơ thể, cho một
ngƣời: có chân trong đội tuyển, một tay sát thủ, mấy miệng ăn…
Thứ hai, lấy tên gọi của tiếng kêu, của đặc điểm hình dáng để gọi tên con
vật. Ví dụ nhƣ: tú hú, tắc kè, con mèo… có tiếng kêu giống nhƣ tên gọi
của chúng.
Thứ ba, lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ để gọi đơn vị thời gian. Ví
dụ nhƣ gọi: xuân, hạ, thu, đông là dùng để chỉ một năm.
12
Thứ tƣ, lấy tên gọi của một số nhỏ để chỉ một số lớn, không đếm hết;
hoặc lấy tên gọi của một số cụ thể để chỉ một số không xác định. Ví dụ
nhƣ: trăm năm bia đá thì mòn, nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa… đều
là một số lớn, nhiều hơn chúng gấp bội.
Tiếng Việt thƣờng có cách nói phổ biến là lấy tên gọi của loại lớn để
chỉ sự vật cá thể loại nhỏ. Nhƣ ví dụ sau: “Bố mua cho con chiếc xe mới
tiếng động do hoạt động gây ra để gọi tên động tác đó. Ví dụ nhƣ “bịch” là
đấm vào ngực, “bi bô” là trẻ con nói, “đùng đùng đoàng đoàng” là tiếng
sấm…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và sản phẩm đƣợc tạo ra do
hoạt động đó.
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ. Ở trƣờng hợp
này, tên gọi của hoạt động dùng để gọi tên công cụ. Ví dụ nhƣ: cuốc – cái
cuốc, mài – hòn đá mài, cắt – con dao cắt…
- Hoán dụ dựa vào động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình sản xuất.
Trƣờng hợp này, cả hai từ đều là động từ. Ví dụ nhƣ: “đóng bàn” là hoạt
động làm ra cái bàn, “đẽo cày” là hoạt động làm ra cái cày…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa nguyên liệu và hoạt động dùng nguyên
liệu đó. Ví dụ nhƣ “muối dƣa”, “thịt gà”…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ sự vật và màu sắc. Trong những hoán dụ
này, tên gọi của sự vật mang màu sắc đƣợc chuyển nghĩa gọi tên các màu sắc.
Ví dụ nhƣ : màu da cam, da trời, nƣớc biển, rêu, xanh khói…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật.
Ví dụ nhƣ: “chất xám” biểu thị cho “năng lực, trí tuệ”, “chất cay” nói đến
“rƣợu”…
Hoán dụ xuất hiện rất nhiều trong đời sống hằng ngày và là phƣơng
thức chủ yếu trong cách định danh ngôn ngữ của ngƣời Việt. Vì chúng ta
thƣờng hay định danh sự vật hiện tƣợng bằng tên gọi có liên quan với nhau
trong thực tế.
14
1.3.2.3. Định danh theo cả phương thức ẩn dụ và hoán dụ
Trong tiếng Việt, có rất nhiều tên gọi theo cơ chế ẩn dụ và hoán dụ. Bài
khóa luận này chúng tôi chỉ trình bày những phƣơng thức ẩn dụ và hoán dụ
trong những quy luật chi phối sự biến đổi của từ vựng tiếng Việt. Hoặc hiện
tƣợng chuyển nghĩa do sự “cảm nhiễm” nghĩa của ngữ cảnh,…
16
Tiểu kết chƣơng 1
Trong xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con ngƣời không chỉ
dừng lại ở mức độ nhất định mà xu hƣớng sẽ ngày càng tăng lên. Định danh
là nhu cầu cần thiết của con ngƣời. Nó mang trong đó yếu tố tƣ duy và văn
hóa của mỗi con ngƣời, mỗi dân tộc. Đối với ngƣời Việt Nam, những sự vật
hiện tƣợng đƣợc con ngƣời tri nhận rất trực tiếp qua các giác quan. Từ những
thuộc tính thực tế của sự vật hiện tƣợng có thể nhìn thấy, sờ thấy hay nói cách
khác là tri giác đƣợc mà con ngƣời gọi tên cho nó. Do đó, khi nghiên cứu đề
tài này, chúng ta tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, tƣ duy để
thấy đƣợc cách tri nhận các phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy và đƣờng
hàng không qua việc đặt tên cho sự vật hiện tƣợng.
Giao thông là mối quan tâm đặc biệt của xã hội con ngƣời và phƣơng
tiện giao thông là bộ phận của nó. Ngành giao thông đƣờng thủy và hàng
không là hai ngành giao thông đã và đang có đà phát triển rất mạnh ở Việt
Nam. Trong đời sống, chúng ta chỉ quen gọi tên sự vật hiện tƣợng mà hầu hết
không hiểu rõ về những tên gọi đó. Bài khóa luận này, chúng tôi sẽ phần nào
giúp bạn đọc hiểu hơn về các tên gọi phƣơng tiện giao thông đƣờng thủy và
đƣờng hàng không.
17
CHƢƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ CHẾ ĐỊNH DANH CÁC PHƢƠNG TIỆN
10
3.
Theo phƣơng thức kinh doanh
15
7.2
4.
Phiên chuyển từ tiếng nƣớc ngoài
13
6.3
5.
Theo thƣơng hiệu, nhãn hiệu
13
6.3
6.
Theo phƣơng thức vận hành
Kết hợp hai tổng loại
8
3.8
11.
Theo phƣơng ngữ và địa danh riêng
7
3.3
12.
Theo mức độ cũ, mới và chất lƣợng
7
3.3
13.
Theo phạm vi hoạt đông
6
2.9