Dạy học luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo quan điểm tích hợp - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======

TRẦN THỊ HƯƠNG

DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO
HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM
TÍCH HỢP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

TS. PHẠM THỊ HÒA

HÀ NỘI, 2018


LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô trong
Khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trường Tiểu học Tiến Thắng A (Mê
Linh – Hà Nội) đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình
thực hiện khóa luận với đề tài “Dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5
theo quan điểm tích hợp”. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo TS.Phạm Thị Hòa đã chỉ bảo và giúp đỡ tận tình cho em hoàn thành khóa
luận.
Do thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức hạn chế, hơn nữa đây là bước
đầu em làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên khóa luận của em


NXB

Nhà xuất bản

PPDH

Phương pháp dạy học

THPT

Trung học phổ thông

SGK

Sách giáo khoa

VBT

Vở bài tập

Tr

Trang



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 1

1.2.2.1. Thực tiễn dạy học tích hợp dọc phân môn Luyện từ và câu cho
học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Tiến Thắng A........................................... 20
1.2.2.2. Thực tiễn dạy học tích hợp ngang phân môn Luyện từ và câu cho
học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Tiến Thắng A........................................... 21
1.3. Tiểu kết chương 1..................................................................................... 23
Chương 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP DỌC PHÂN
MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 5 ................................. 25
2.1. Hệ thống, nguyên tắc đảm bảo “tính hệ thống” của từ, câu trong dạy
học Luyện từ và câu ........................................................................................ 25
2.1.1. Khái quát về hệ thống ........................................................................... 25
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo “tính hệ thống” của từ, câu trong dạy học
Luyện từ và câu ............................................................................................... 25
2.2. Các biện pháp dạy học tích hợp dọc trong phân môn Luyện từ và
câu ................................................................................................................... 27
2.2.1. Biện pháp phát hiện các kiến thức có mối quan hệ hệ thống trong
khối lớp 5 ....................................................................................................... 27
2.2.1.1. Tích hợp nội bộ loạt bài quan hệ từ ................................................... 27
2.2.1.2. Tích hợp nội bộ loạt bài câu ghép...................................................... 28
2.2.1.3. Tích hợp bài quan hệ từ với bài nối các vế câu ghép......................... 29
2.2.2. Biện pháp phát hiện kiến thức có mối quan hệ hệ thống trong khối
lớp 5 với các khối lớp khác ............................................................................. 29
2.2.2.1. Tích hợp dọc luyện tập kiến thức về từ loại....................................... 30
2.2.2.2. Tích hợp dọc luyện tập kiến thức mở rộng vốn từ............................. 32
2.2.2.3. Tích hợp dọc luyện tập kiến thức về dấu câu .................................... 34
2.3. Tiểu kết chương 2..................................................................................... 35


CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP NGANG
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 5 ..................... 37
3.1. Biện pháp tích hợp phân môn Luyện từ và câu với Tập đọc ................... 37

củng cố, ôn tập giúp học sinh hệ thống hóa lại những kiến thức sơ giản về ngữ
pháp mà các em đã được tích lũy trong vốn sống của mình cũng như từ các
môn học khác để từ đó dần hình thành các quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo lập
văn bản trong giao tiếp. Vì vậy, việc tìm ra một phương pháp dạy học hiệu
quả cao là mong muốn của tất cả các giáo viên.

1


Là một giáo viên tương lai, tôi muốn tìm ra một phương pháp dạy học
hợp lí, làm cho giờ Luyện từ và câu trở nên hấp dẫn, thu hút được hứng thú
học tập của các em thông qua việc khai thác mối quan hệ hệ thống giữa các
bài học và các phân môn của Tiếng Việt. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Dạy học
Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo quan điểm tích hợp” với mong
muốn đóng góp một phần công sức của mình vào việc tìm ra một phương
pháp dạy học hợp lí, có hiệu quả. Đối với tôi, lựa chọn đề tài này để tích lũy
kiến thức, bước đầu là tiền đề cho việc nghiên cứu khoa học chuẩn bị cho quá
trình giảng dạy sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Bàn về phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp có rất nhiều nhà
khoa học, nhà giáo dục đề cập đến vấn đề này ở những mức độ khác nhau .
Có thể tạm chia các ý kiến thành hai hướng sau:
Hướng thứ nhất:bàn về vấn đề dạy học theo quan điểm tích hợp một
cách khái quát, có tính chất định hướng.
- Trong tài liệu “Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo đổi mới”
NXB Giáo dục - PGS.TS Nguyễn Trí đã chỉ rõ: việc dạy học theo hướng tích
hợp, hướng tích cực, hướng giao tiếp là những nhiệm vụ cấp thiết trong dạy
học Tiếng Việt hiện nay[12]
- Trong “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên”- NXB Đại học sư phạm và
trong các tài liệu “Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt” từ lớp 2 đến lớp 5 các tác

3. Mục đích nghiên cứu
Dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo quan điểm tích hợp
nhằm mục đích nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học, giúp cho học sinh có
hứng thú học tập phân môn Luyện từ và câu đồng thời rèn cho các em có thói
quen tư duy hệ thống khi học Luyện từ và câu nói riêng và Tiếng Việt nói
chung.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu


Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu sau


- Hệ thống các vấn đề lí thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài
- Tìm ra các biện pháp tích hợp dọc các kiến thức về từ và câu trong
dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5
- Tìm ra các biện pháp tích hợp ngang trong dạy học luyện từ và câu
với các phân môn khác cho học sinh lớp 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động dạy học Luyện từ và
câu theo quan điểm tích hợp cho học sinh lớp 5.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Tôi đặt trọng tâm nghiên cứu và đề xuất các biện pháp dạy học tích hợp
phân môn Luyện từ và câu theo hướng tích hợp dọc kiến thức từ lớp 2 đến lớp
5 và tích hợp ngang các phân môn ở khối lớp 5 trên đối tượng học sinh lớp 5
trường Tiểu học Tiến Thắng A.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp này được dùng để tổng hợp các vấn đề lí luận có liên

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Quan điểm tích hợp trong dạy học luyện từ và câu
1.1.1.1. Khái niệm tích hợp
Tích hợp là quan điểm dạy học hiện đại nhằm giải quyết mâu thuẫn
giữa khối lượng kiến thức ngày càng lớn trong khi thời gian học tập lại có
hạn. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra cách hiểu của mình về quan điểm
tích hợp. Sau đây, tôi xin trích dẫn một số ý kiến của một số nhà nghiên cứu:
Trong phần mở đầu SGK Ngữ văn, NXB Giáo dục – 2003 do GS.
Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên đã nêu: “Tích hợp là phương hướng nhằm
phối hợp một cách tối ưu cao quá trình học tập riêng rẽ các môn học khác
nhau theo các mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng các mục tiêu, mục
đích và những yêu cầu cụ thể khác nhau”. [8]
TS. Nguyễn Trọng Hoàn quan niệm: “Tích hợp là thuật ngữ mà nội
hàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác các giá trị của các
tri thức công cụ thuộc từng phân môn, trên cơ sở một văn bản có vai trò là
kiến thức nguồn.”[3, 20]
TS. Đỗ Ngọc Thống đưa ra quan điểm: “Tích hợp (theo cách hiểu trên
thế giới hiện nay) là theo tinh thần ba phân môn hợp nhất lại “hòa trộn” trong
nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại”.[9,130]
Ngoài ra, còn có rất nhiều ý kiến của các tác giả, nhà nghiên cứu khác
nữa, như: TS. Nguyễn Văn Đường, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Hải
Châu… Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất với khái niệm tích hợp được
nêu trong chương trình dự thảo THPT năm 2002 của Bộ GD&ĐT: “Tích hợp
là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có mối quan hệ mật thiết với nhau trong


thực tiễn để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau tạo nhằm
tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc” [1,27]
1.1.1.2. Bản chất của dạy học tích hợp

Một là duy trì các môn học riêng.
Hai là quan điểm đa môn: Chủ trương đề xuất những đề tài có thể
nghiên cứu ở các môn học khác nhau, các môn học này vẫn được duy trì riêng
rẽ.
Ba là quan điểm liên môn: Chủ trương đề xuất chỉ có thể tiếp cận một
cách hợp lý qua sự soi sáng của môn học.
Bốn là quan điểm xuyên môn: Chủ trương chủ yếu phát triển kĩ năng
mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các tình huống. Đó là các kĩ
năngxuyên môn.
Tuy vậy, nhu cầu xã hội hiện đại đòi hỏi phải hướng tới các quan điểm
liên môn và xuyên môn. Đó cũng là 2 quan điểm cơ bản của sư phạm tích hợp.
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa quan điểm dạy học tích hợp và quan điểm dạy học
tích cực
Chương trình được xây theo quan điểm tích hợp trước hết dựa trên
quan điểm giáo dục nhằm vào việc phát triển năng lực người học. Tức là
người học có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn
cuộc sống, giải quyết các vấn đề do cuộc sống đề ra một cách chủ động, độc
lập, sáng tạo. Như vậy, dạy học tích hợp giúp học sinh tích cực học tập và linh
hoạt vận dụng các kiến thức lí thuyết vào thực hành.
Dạy học theo quan điểm tích hợp tạo điều kiện để phát triển tri thức, kĩ
năng tốt. Theo quan điểm tích hợp, các quá trình học tập không tách rời cuộc
sống hằng ngày mà được tiến hành trong mối liên hệ với các tình huống cụ
thể. Xu hướng tích hợp nhằm rèn luyện tư duy tổng hợp cho học sinh. Đó
cũng là con đường hình thành cho học sinh một cách nhìn nhận, khái quát vấn


đề tổng hợp nhất, giúp học sinh thấy được các kiến thức lĩnh hội được có
quan hệ hữu cơ với nhau. Từ đó tư duy của học sinh sẽ nâng lên một bước
phát triển mới. Mối liên hệ giữa các kiến thức trong môn thì tích hợp là điều
kiện đảm bảo cho học sinh khả năng tư duy có hiệu quả những kiến thức và

sinh như mục tiêu của môn Tiếng Việt đã đề ra.

1.1.1.5. Các hình thức tích hợp được thể hiện trong sách giáo
khoa
Tiếng Việt
Tính tích hợp của SGK Tiếng Việt năm 2000 thể hiện ở 2 phương diện
đó là tích hợp ngang và tích hợp dọc.
a. Tích hợp ngang
Tích hợp ngang là tích hợp các mảng kiến thức, kĩ năng trong môn học
theo nguyên tắc đồng quy: Tích hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc mạch, phân
môn này với mạch, phân môn khác. Đối với môn Tiếng Việt thì đây là tích
hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, tự nhiên, con
người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy. Đây là giải pháp để thực hiện mục
tiêu: “Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên, con
người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Ở Tiểu học, hướng
tích hợp này được thực hiện thông qua hệ thống chủ điểm học tập. Theo quan
điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Chính tả, Tập viết,Luyện từ và câu,
Tập làm văn ) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh
trục chủ điểm và các bài học; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ
năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước. Trong bộ SGK, chủ điểm
được chọn làm khung cho cả cuốn sách. Mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị
học.Và các phân môn tập trung thể hiện, làm rõ cho chủ điểm ấy.
Chẳng hạn, trong tuần 2 SGK Tiếng Việt 3, tập 1 với chủ điểm Việt
Nam – Tổ quốc em thì các bài tập đọc đều về quê hương, Tổ quốc. Bài tập đọc
đầu tiên là Nghìn năm văn hiến nói về truyền thống khoa cử lâu đời của Việt
Nam. Đó là một bằng chứng về nền văn hiến của nước ta. Bài tập đọc tiếp


theo trong tuần là Sắc màu em yêu của Phạm Đình Ân nói lên tình cảm của
bạn nhỏ trong bài thơ với những sắc màu,những con người và sự vật xung

những nội dung hoàn toàn mới so với lớp 2
Sang lớp 4, các chủ điểm phản ánh những phương diện khác nhau của
con người, cụ thể là:
+ Các đức tính:
. Nhân hậu (Thương người như thể thương thân)
. Trung thực (Măng mọc thẳng)
. Dũng cảm (Những người quả cảm)
. Nghị lực (Có chí thì nên)
. Có óc thẩm mĩ (Vẻ đẹp muôn màu)
. Lạc quan, yêu đời (Tình yêu cuộc sống)
+ Năng lực (Người ta là hoa đất)
+ Ước mơ (Trên đôi cánh ước mơ)
+ Sở thích:
. Vui chơi (Tiếng sáo diều)
. Du lịch, thám hiểm (Khám phá thế giới)
Tới lớp 5 – lớp cuối bậc Tiểu học, các bài học có nội dung xoay quanh
những vấn đề lớn đặt ra cho đất nước, dân tộc toàn thể loài người như:
+ Yêu Tổ quốc (Việt Nam – Tổ quốc em)
+ Bảo vệ hòa bình, vun đăp tình hữu nghị giữa các dân tộc (Cánh chim
hòa bình)
+ Sống hài hòa với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên (Con người với
thiên nhiên)
+ Bảo vệ môi tường (Giữ lấy màu xanh)
+ Chống bệnh tật, đói nghèo, lạc hậu (Vì hạnh phúc con người)


+ Sống, làm việc theo pháp luật, xây dựng xã hội văn minh (Người
công dân)
+ Bảo vệ an ninh, trật tự xã hội (Vì cuộc sống thanh bình)
+ Giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống dân tộc (Nhớ nguồn)

b. Chú ý của học sinh Tiểu học
Ở đầu tuổi Tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm
soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú ý không chủ định
chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến
những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều
tranh ảnh,…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa
thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập.
Ở cuối tuổi Tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú
ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự
nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công
thức toán hay một bài hát dài,…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện
giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho
phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng
thời gian quy định. Biết được điều này, giáo viên nên giao cho học sinh
những công việc, bài tập hay tổ chức các hoạt động đòi hỏi sự chú ý và nên
giới hạn về mặt thời gian. Điều này tạo sự tích cực, chủ động, sáng tạo cho
học sinh, giúp các em dễ dàng tiếp thu được những kiến thức trừu tượng, khó
hiểu ở lớp 4 và 5.
c.Trí nhớ của học sinh Tiểu học
Ở lứa tuổi Tiểu học, do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất vẫn
chiếm ưu thế nên ở học sinh Tiểu học loại trí nhớ trực quan hình tượng vẫn
chiếu ưu thế hơn so với trí nhớ từ ngữ - logic


Giai đoạn lớp 1, 2, 3 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và
chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức
việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết
cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng
cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi

phát triển; lúc này, học sinh được học các bài lí thuyết về từ và câu (Ví dụ:
danh từ, đại từ, quan hệ từ, câu ghép,….).
e. Tưởng tượng của học sinh Tiểu học
Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong
hoạt động học và hoạt động khác. Tưởng tượng của học sinh tiểu học phát
triển và ngày càng phong phú hơn song nhìn chung tưởng tượng của các em
còn tản mạn ít có tổ chức. Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản hay thay
đổi hay chưa bền vững.
Ở các lớp cuối bậc (lớp 4, lớp 5) tưởng tượng của các em gần với hiện
thực hơn, các em có khả năng nhào nặn, gọt dũa những hình tượng cũ để sáng
tạo ra hình tượng mới. Có được điều này là những học sinh lớp 4, 5 đã biết
dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát hóa và trìu
tượng hơn. Tưởng tượng của các em đã gắn liền với sự phát triển của tư duy
và ngôn ngữ.
Đây là một điều kiện thuận lợi để giúp giáo viên dạy học tích hợp phân
môn Luyện từ và câu với các phân môn khác của Tiếng Việt. Từ đó, giúp học
sinh có hứng thú với bài học hơn, các em tiếp thu kiến thức mới một cách chủ
động, tích cực hơn.
1.1.2.2. Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc biệt quan trọng. Hầu hết học
sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status