ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HỒ HỮU ĐẠI
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN
THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
PLEIKU, TỈNH GIA LAI
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
Đà Nẵng - 2019
Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Ngƣời hƣớng dẫn KH: PGS.TS. Bùi Quang Bình
Phản biện 1: PGS.TS. Đặng Văn Mỹ
Phản biện 2: PGS.TS. Trần Nhuận Kiên
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Quản lý kinh tế họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng vào ngày 9 tháng 3 năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
-
hóa chất độc hại vì mục đích lợi nhuận cho bản thân thu lợi bất
chính, bất chấp các quy định của pháp luật về ATTP gây ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng, làm cho nguy cơ thực
phẩm bị nhiễm bẩn ngày càng gia tăng. Quy trình sản xuất, chế biến,
cơ sở giết mổ không đảm bảo vệ sinh ATTP là một trong những
nguyên nhân làm cho thực phẩm bị nhiễm bẩn, nhiễm khuẩn. Bên
2
cạnh đó các loại thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, không có
nhãn sản phẩm hoặc có nhãn nhưng không ghi ngày sản xuất, hạn sử
dụng, thực phẩm kém chất lượng vẫn còn trôi nổi trên thị trường khó
kiểm soát của cơ quan chức năng…
Thời gian qua, chính quyền thành phố Pleiku đã chú trọng ban
hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ATTP đưa ra nhiều biện
pháp, giải pháp nhằm đảm bảo ATVSTP, tăng cường công tác thanh,
kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật về an toàn thực
phẩm. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ,
công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về thực phẩm vẫn chưa
đạt chất lượng theo yêu cầu cấp thiết hiện nay. Việc xử lý vi phạm
hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm chưa thực sự nghiêm khắc,
chưa măng tính răng đe đối với chủ cơ sở sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm, còn qua loa, đại khái gây bức xúc trong trong xã
hội và người tiêu dùng thực phẩm.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành chọn nghiên cứu đề
tài “Quản lý nhà nƣớc về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa
bàn Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu luận
văn của mình nhằm góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước
về vệ sinh ATTP và giải quyết những tồn tại hạn chế và nguyên nhân
của những tồn tại hạn chế trong quá trình triển khai.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Gồm phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và phương pháp thu
thập số liệu sơ cấp
4.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
- Nghiên cứu các văn bản quản lý nhà nước về VSATTP nói chung
và các văn bản chỉ đạo, các chính sách về công tác quản lý nhà
4
nước về vệ sinh ATTP của thành phố Pleiku nói riêng xây dựng ban
hành, triển khai áp dụng; các tạp chí, sách tham khảo,… và các báo
cáo tổng hợp của các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh
thực phẩm trên địa bàn thành phố Pleiku.
- Trong phương pháp này luận văn còn sử dụng các nguồn dữ
liệu đã được công bố, ban hành của Tổng cục thống kê, Bộ Y
tế, Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, đồng thời sử dụng các quan điểm, đánh giá của các
chuyên gia đầu ngành về chính sách quản lý nhà nước về
VSATTP đã công bố áp dụng.
- Sau khi đã thu thập, thống kê được các số liệu thứ cấp tiến
hành lựa chọn, phân tích, đánh giá, sử dụng số liệu phù hợp,
kết hợp với phương pháp phỏng vấn, hình thành nên khung
lý thuyết nghiên cứu về thực trạng của chính sách quản lý
nhà nước về vệ sinh ATTP tại thành phố Pleiku giai đoạn
2013 - 2017.
4.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Gồm: phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra và phương
pháp quan sát.
4.1.2.1. Phương pháp phỏng vấn
nhất, dễ thực hiện nhưng rất hữu ích, đầy đủ các nội dung cần thu
thập. Người quan sát có thể sử dụng trực tiếp bằng tai, mắt, để nghe,
nhìn quan sát.
Luận văn sẽ tập trung quan sát trực tiếp điều kiện hoạt động,
phương thức sản xuất, chế biến thực phẩm, địa điểm kinh doanh thực
phẩm và cách thức quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về
VSATTP trên địa bàn thành phố Pleiku.
4.2. Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp phân tích: Dùng phương pháp này để phân tích dựa
trên các phương pháp thống kê truyền thống để so sánh, khái quát hóa
số liệu từ đó đưa ra kết luận chung nhất về vấn đề cần nghiên cứu về vệ
sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Pleiku.
Phương pháp so sánh: Từ những số liệu thu thập được thông qua
6
xử lý, phân tích định lượng, so sánh, tổng hợp, phương pháp thống
kê mô tả … so sánh các chỉ tiêu tương ứng giữa các năm để tìm ra ưu
điểm, nhược điểm của hoạt động QLNN về VSATTP từ đó đưa ra
những giải pháp để hoàn thiện công tác QLNN về VSATTP trên địa
bàn thành Pleiku.
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp thống kê số liệu thông qua các
báo cáo hằng năm, báo cáo chuyên đề của các cơ quan quản lý nhà
nước về vệ sinh an toàn thực phẩm.
4.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
- Thống kê về trình đọ chuyên môn nghiệp vụ của cán bọ làm
cong tác VSATTP:
+ Số luợng cán bọ, công chức.
+ Trình đọ: Chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ.
1.1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN
TOÀN THỰC PHẨM
1.1.1 Một số khái niệm
a. Thực phẩm
b. Vệ sinh an toàn thực phẩm
c. An toàn thực phẩm
d. Chuỗi thực phẩm
đ. Khái niệm quản lý nhà nước
e. Quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP
Như vậy, “Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ
chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ,
chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện
VSATTP của đơn vị sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả
nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các
vấn đề về VSATTP”.
1.1.2. Đặc điểm của hệ thống quản lý nhà nƣớc về vệ sinh an
toàn thực phẩm
Ở nước ta hiện nay, công tác QLNN về ATTP do nhiều Bộ,
ngành nhiều cơ quan thực hiện. Việc đảm bảo ATTP là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị nhưng trên hết vẫn là trách
nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước đã được quy định
tại Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và các quy định của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật An
toàn thực phẩm. Tại Điều 61, Luật An toàn thực phẩm Chính
phủ thống nhất QLNN về ATTP, Bộ Y tế chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện QLNN về ATTP; Trách
8
nhiệm của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
ngày 04/9/2018 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính
về an toàn thực phẩm; các Thông tư, Chỉ thị và các văn bản hướng
dẫn khác của Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn,… Đảm bảo các nội dung sau:
- Đảm bảo tính thống nhất quản lý.
- Đảm bảo tính công khai minh bạch.
- Đảm bảo tính cụ thể rõ ràng.
- Đảm bảo tính phổ thông, đại chúng.
1.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về VSATTP
Tổ chức bộ máy QLNN về ATTP phải bảo đảm tinh gọn, điều hành
tập trung, giải quyết kịp thời, thống nhất, thông suốt, linh hoạt, đúng
thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, Luật An toàn
thực phẩm đã được ban hành năm 2010 với nhiều nội dung đổi mới
quan trọng, như: Tiếp cận quản lý ATTP trong toàn bộ quá trình sản
xuất, bảo đảm truy xuất nguồn gốc thực phẩm, thu gọn đầu mối quản lý
ATTP từ 05 Bộ xuống còn 03 Bộ chịu trách nhiệm chính trong quản lý
về ATTP, gồm: Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn và có sự phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng Bộ về
quản lý ATTP tại Điều 62,63 và 64 Luật ATTP.
1.2.3. Công tác tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm
Thông tin, tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm là chuyển
tải thông tin, phổ biến kiến thức pháp luật về vệ sinh an toàn thực
phẩm nhằm nâng cao nhận thức góp phần thay đổi hành vi trong quá
trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm bằng những hình thức
cụ thể, phù hợp.
1.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật
về vệ sinh an toàn thực phẩm
Ngoài việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật thì các
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN
TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PLEIKU,
TỈNH GIA LAI
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA THÀNH
PHỐ PLEIKU ẢNH HƢỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
b. Địa hình
c. Thời tiết, khí hậu
2.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội
a. Dân số, mật độ dân số
Thành phố Pleiku có dân số đông, có 14 phường, 09 xã, dân số
230.489 người (số liệu thống kê năm 2016), bao gồm 28 dân tộc
đang sinh sống; người kinh chiếm đa số (87,5%); còn lại là các dân
tộc khác, chủ yếu là các dân tộc Jrai và Ba Na (12,5%).
b. Lao động, trình độ lao động
Trong những năm gần đây, đời sống kinh tế của người dân tại
thành phố Pleiku đã được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân một
lao động đang làm việc tại thành phố Pleiku tăng qua các năm, ước
tính năm 2017, thu nhập bình quân một lao động là 3,7 triệu đồng.
c. Tăng trưởng kinh tế-xã hội
Trong những năm gần đây Kinh tế thành phố Pleiku tiếp tục
chuyển dịch đúng hướng và đạt mức tăng trưởng 10,05%; Trong đó,
nông-lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,53%, công nghiệp và xây dựng
tăng 9,02%, dịch vụ tăng 11,29%; kim ngạch xuất khẩu đạt 298,4
triệu USD, tăng 59,48%. Tổng thu ngân sách nhà nước theo phân cấp
đạt 448,6 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ. Hiện nay toàn Thành
4
1
15
U
66
67
2.2.2. Công tác thông tin, tuyên truyền về vệ sinh an toàn
thực phẩm
Qua công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật phần nào giúp cải
thiện được công tác đảm bảo ATTP trên địa bàn Thành phố, nâng cao
ý thức của người dân trong việc lựa chọn, tiêu dùng thực phẩm an
toàn, bên cạnh đó các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngày
càng có xu hướng tuân thủ pháp luật.
14
Bảng 2.4. Tình hình tuyên truyền, phổ biến kiến thức về VSATTP
giai đoạn 2015-2017 trên địa bàn thành phố Pleiku
Hoạt động
truyền thông
Truyền hình
Phát thanh
Tuyên
miệng
Tờ rơi
vụ của cán bọ làm công tác Quản lý VSATTP trên địa bàn thành phố
tương đối đồng đều, hi n tại đang
đáp ứng đuợc yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, mọt số cán bọ chưa
được trang bị về an toàn thực phẩm và yếu về chuyên môn dẫn đến
gạp nhiều khó khan trong triển khai nhi m vụ. Truớc những yêu cầu
ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi vi c nâng cao kiến thức về chuyên
môn nghiệp vụ cho số cán bộ này ngày càng trở nên cấp bách.
Bảng 2.7. Tổng hợp trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác
Quản lý nhà nước về VSATTP
Đơn vị
Phòng Y tế thành phố
Trung tâm Y tế thành
phố
Trạm Y tế phường, xã
Cán bộ quản lý VSATTP
các phường, xã
16
2.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực
phẩm
Hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện trong
thời gian qua được tăng cường, qua đó kịp thời phát hiện và xử lý
nhiều vụ vi phạm pháp luật về ATTP; Theo số liệu báo cáo của
phòng Y tế Thành phố, từ năm 2015 đến năm 2017 thành lập 13 Ban
chỉ đạo liên ngành về ATTP, tổng số cơ sở sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm được kiểm tra 1.317 cơ sở.
Bảng 2.8. Tình hình thanh tra, kiểm tra VSATTP
Điều kiện
Ghi nhãn
5
6
Chất lượn
Tập huấn
7
8
9
Nguồn gố
Hàng hóa
Vi phạm k
(Nguồn: Phòng Y tế thành phố
Pleiku)
2.2.5. Công tác xử lý vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm
Công tác thanh tra, kiểm tra qua các năm đạt đuợc nhiều kết quả
tốt, tuy nhiên vi c xử lý vi phạm chua đuợc tốt. Số co sở vi phạm na m
sau nhiều hon nam truớc, và hình thức xử lý chủ yếu là nhắc nhở, cảnh
cáo... chua đủ mạnh để ran đe các hành vi vi phạm, đồng thời c ng chỉ ra
rằng thiếu phuong pháp và chế tài trong xử lý các co sở vi phạm.
Bảng 2.10. Tình hình xử lý vi phạm VSATTP trên địa
bàn thành phố Pleiku giai đoạn 2015– 2017
Nội dung
Số người chết d
(Nguồn: Phòng Y tế thành phố Pleiku)
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ PLEIKU, GIAI ĐOẠN 2013-2017