Luận văn thạc sỹ Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện thái thụy, tỉnh thái bình - Pdf 34

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan bài luận văn “Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực
phẩm trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” là công trình khoa học
nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Tất cả các nội dung của công trình nghiên cứu này
hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi.
Các số liệu và kết quả được nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết.
Tác giả

Ngô Thị Xuân


ii
LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế,
tác giả đã gặp nhiều khó khăn trong việc chuẩn bị tài liệu, thu thập dữ liệu sơ cấp và
thứ cấp. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận tình các thầy cô giáo
trường Đại học Thương mại, các cán bộ quản lý Khoa sau Đại học, cô giáo hướng
dẫn, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập và công tác.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban Giám hiệu trường Đại
học Thương mại, Khoa sau Đại học đã động viên và tạo mọi điều kiện để tác giả có
thể yên tâm với công việc nghiên cứu.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Ngọc - người đã
hướng dẫn chỉ bảo tận tình, động viên tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để
hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, cán bộ công nhân viên các Bộ, Ban
ngành gồm: Bộ Công thương, Bộ Y tế, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Sở Công
thương tỉnh Thái Bình, Trung tâm Y tế huyện Thái Thụy, Ủy ban Nhân dân huyện
Thái Thụy đã hỗ trợ cung cấp tài liệu để tác giả có cơ sở thực tiễn hoàn thành luận
văn.


Vệ sinh an toàn thực phẩm

ATTP

An toàn thực phẩm

NĐTP

Ngộ độc thực phẩm

QLNN

Quản lý nhà nước

CSKDDVAU

Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

TP

Thực phẩm

BYT

Bộ Y tế

TCQG

Tiêu chuẩn Quốc gia

Reference source not found
Bảng 2.1: Thể hiện các tiêu chí về thông tin VSATTP mà người sản xuất, tiêu
dùng và người bán hàng nhận được..............Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.5: Đánh giá hiệu quả sử dụng các phương pháp QLNN về VSATTP...
.................................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.2: Số lần đi tuyên truyền của cơ quan quản lý nhà nước về VSATTP
trên địa huyện Thái Thụy............................... Error: Reference source not found
Bảng 2.3: Kết quả điều tra và xử lý vi phạm VSATTP Error: Reference source
not found


v
trên địa bàn huyện Thái Thụy........................ Error: Reference source not found
Bảng 2.4: Cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP..........Error:
Reference source not found
Sơ đồ 2.1: Hệ thống QLNN về VSATTP theo chiều dọc Error: Reference source
not found


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) giữ vị trí rất quan trọng công tác bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh,
duy trì và phát triển nòi giống; tăng cường sức khỏe để lao động học tập, thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế – văn hóa – xã hội, thể hiện nếp sống văn minh của dân tộc,
nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.
Những năm gần đây, công tác bảo đảm chất lượng an toàn thực phẩm
(ATTP), phòng chống ngộ độc thực phẩm (NĐTP) và các bệnh truyền qua thực
phẩm ngày càng được các tầng lớp trong xã hội quan tâm. Sự vào cuộc quyết liệt

VSATTP. Vì vậy, quản lý nhà nước về VSATTP cũng được xem là vấn đề nổi cộm
cần giải quyết hiện nay.
Do đó, việc nghiên cứu đề tài Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực
phẩm là vấn đề rất cần thiết. Vì vậy, luận văn tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản lý
nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái
Bình”.
2. Tổng quan khách thể nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam và nước ngoài có rất nhiều công trình nghiên cứu đề tài về
QLNN đối với các đối tượng khác nhau. Với cách tiếp cận cũng như phương pháp
nghiên cứu khác nhau, mỗi tác giả đã tìm ra cho mình những hướng đi phù hợp để
đạt được hiệu quả cao.
An toàn vệ sinh thực phẩm đã và đang là một vấn đề được toàn xã hội quan
tâm. Trong những năm gần đây, nền kinh tế của nước ta chuyển sang cơ chế thị
trường. Các loại thực phẩm được sản xuất, chế biến trong nước và nước ngoài nhập
vào Việt Nam ngày càng nhiều chủng loại. Việc sử dụng các chất phụ gia trong sản
xuất trở nên phổ biến. Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng trong
pha chế nước giải khác, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn sẵn như thịt quay, giò
chả, … Nhiều loại thịt bán trên thị trường không qua kiểm duyệt thú y. Tình hình
sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất lượng và không theo đúng thành
phần nguyên liệu cũng như quy trình công nghệ đã đăng ký với cơ quan quản lý.


3
Nhãn hàng và quảng cáo không đúng sự thật vẫn xảy ra. Vì vậy, QLNN về
VSATTP đang được các cơ quan chức năng tập trung nghiên cứu một cách nghiêm
túc.
Trong nghiên cứu về: “Quản lý nhà nước về chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm” của GS. TS Nguyễn Đình Phan đã chỉ ra được những tồn tại trong quản lý
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm như: Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước còn
yếu, phân tán và thiếu sự đồng bộ. Chưa quan tâm đến việc đầu tư xây dưng các cơ

là xác định được mối liên quan giữa kiến thức với thực hành của người chế biến
thực phẩm ; đồng thời nghiên cứu này cũng tìm thấy rõ hơn sự cần thiết và tầm
quan trọng đặc biệt về tính chuyên nghiệp của người CBTP làm việc tại
CSKDDVAU tại Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong việc thực hiện các quy
định về bảo đảm ATTP; Ngoài ra, nghiên cứu còn thực hiện xét nghiệm vi sinh với
03 chỉ tiêu/mẫu đối với một số mẫu dụng cụ thớt dùng riêng cho thực phẩm chín,
tay người phục vụ, thức ăn chín để xác định tỷ lệ ô nhiễm thực phẩm đã qua chế
biến. Tuy nhiên, do điều kiện về nguồn lực và thời gian có hạn, nên nghiên cứu chỉ
được tiến hành tại 369 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại Thành phố Đà Lạt. Do
đó, kết quả của nghiên cứu không suy rộng ra địa phương khác, nghiên cứu này có
thể là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa có một công trình nghiên cứu tổng hợp độc
lập nào về quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thái
Thụy, tỉnh Thái Bình. Đây là một khoảng trống trong nghiên cứu cần khắc phục,
xuất phát từ tầm quan trọng của các chính sách QLNN cũng như thực tế đòi hỏi.
Vì vậy, đề tài: ”Quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” là một công trình nghiên cứu tiếp theo gắn với
địa bàn huyện Thái Thụy trong thời gian hiện nay. Qua đó, hy vọng có thể bổ sung,
hoàn thiện hơn những kết luận nghiên cứu trước đây nhằm góp phần hoàn thiện
việc QLNN về VSATTP ở các địa phương trong cả nước.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Với những lý do trên, luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Một là, hệ thống hóa và phân tích cơ sở lý luận đối với QLNN về VSATTP
trên địa bàn huyện Thái Thụy.


5
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng Vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Ba là, đề xuất một số giải pháp tăng cường Quản lý nhà nước về Vệ sinh an

huyện diễn ra như thế nào và đưa ra các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước trên
địa bàn huyện, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
a. Phương pháp thu thập dữ liệu: gồm phương pháp thu thập dữ liệu thứ
cấp và phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Luận văn thu thập, phân loại tài liệu đã được công bố đã được công bố về
thực trạng và chính sách nhà nước nhằm quản lý VSATTP như: các đề án, đề tài,
sách tham khảo, các bài báo khoa học chuyên ngành, các luận văn tiến sỹ, đồng thời
thu thập, phân loại các văn bản nhà nước về VSATTP nói chung và những văn bản
nhà nước được huyện Thái Thụy áp dụng nói riêng đã ban hành như: Luật, Nghị
định, Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết, Thông tư, liên quan đến VSATTP và quản lý
nhà nước về VSATTP.
Luận văn còn khai thác và sử dụng các số liệu trực tuyến trên Internet của
Tổng cục thống kê, Bộ Y tế, các tổ chức Chính phủ, đồng thời sử dụng các quan
điểm, đánh giá, nhận định của các chuyên gia về chính sách quản lý nhà nước về
VSATTP đã công bố.
Sau khi có các dữ liệu thứ cấp, tiến hành đánh giá, lựa chọn, sử dụng dữ liệu
phù hợp, kết hợp với phỏng vấn, hình thành nên khung lý thuyết nghiên cứu đồng
thời đánh giá thực trạng và tác động của chính sách nhà nước nhằm quản lý
VSATTP giai đoạn từ năm 2012 đến 2014.
 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Gồm phương pháp phỏng vấn,
phương pháp điều tra và phương pháp quan sát
+ Phương pháp phỏng vấn
Luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thông tin dựa trên
cơ sở quá trình giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra. Có 2 loại phỏng
vấn bao gồm: Phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm. Mỗi một loại đều có những


7
ưu nhược điểm riêng. Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn sử dụng phương pháp phỏng

8
Luận văn sẽ tập trung quan sát trực tiếp điều kiện, dụng cụ sản xuất, chế biến
thực phẩm, địa điểm kinh doanh thực phẩm và cách thức quản lý của các cơ quan
chức năng trong địa bàn Huyện về ATVSTP.
b. Phương pháp phân tích dữ liệu
 Phương pháp xử lý dự liệu sơ cấp
Để phân tích dữ liệu thu thập trên luận văn tập trung vào phương pháp
phân tích thống kê truyền thống, bảng excel. Khi sử dụng phương pháp này, các dữ
liệu xử lý bằng phần mềm excel, phần mềm SPSS và tổng hợp phân tích dựa trên
các phương pháp thống kê truyền thống, sử dụng bảng tính để so sánh, khái quát
hóa số liệu từ đồ đưa ra kết luận chung nhất về vấn đề cần nghiên cứu. Kết quả điều
tra có tổng số 200 phiếu phát ra và có 180 phiếu thu về hợp lệ, đạt tỷ lệ chung là
90%. Tỷ lệ phiếu phát ra và thu về, mẫu phiếu điều tra và kết quả cụ thể được trình
bày phần lục lục.
 Phương pháp xử lý dữ liệu thứ cấp
Sau khi tổng hợp các dữ liệu thứ cấp, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chung trong khoa học kinh tế như: phương pháp phân tích định lượng,
so sánh, tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả... từ đó đưa ra kết luận chung nhất.
c. Phương pháp khác
Ngoài ra, trong quá trình hoàn thành luận văn còn sử dụng các phương pháp
khác như phương pháp đồ thị, biểu đồ, hình vẽ hoặc mô hình. Từ các bảng số liệu,
lập ra biểu đồ để thông qua đó quan sát và rút ra những đánh giá tổng quát QLNN
về VSATTP trên địa bàn huyện Thái Thụy.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Quản lý nhà nước về VSATTP có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Nghiên
cứu đề tài này để thấy được thực tiễn vấn đề VSATTP đang diễn ra hết sức phức tạp
tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các chợ trên địa bàn toàn huyện.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng thể hiện những mặt hạn chế trong công tác QLNN về
VSATTP.


nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm
0.1.1 Khái niệm Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm


Thực phẩm (TP)

Theo tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế (Codex): "Thực phẩm là tất cả các chất
đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai,
ngậm, hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm,
nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như dược phẩm”
Theo Quyết định số 4196/1999/QĐ - BYT trong đó định nghĩa “ Thực phẩm
là những đồ ăn, uống của con người ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến
bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến
thực phẩm". Phạm vi thực phẩm ở đây lại hẹp hơn vì khái niệm này phục vụ cho
việc quản lý nhà nước của Bộ Y tế, thuốc lá được quản lý riêng.
Hai khái niệm trên có ý nghĩa trong từng thời kỳ khác nhau và ngày càng đầy
đủ hơn về chuyên môn. Hiện nay, một khái niệm được nhiều người công nhận hơn
cả là: "Thực phẩm là những sản phẩm dùng cho việc ăn, uống của con người ở dạng
nguyên liệu tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến và các chất được sử dụng trong
sản xuất, chế biến thực phẩm".
 An toàn thực phẩm (ATTP)
ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng
con người; thực phẩm không bị hư hỏng, biến chất, bị giảm chất lượng hoặc chất
lượng kém; thực phẩm không chứa các tác nhân hóa học, sinh học hoặc vật lý quá
giới hạn cho phép; không phải là sản phẩm của động vật bị bệnh có thể gây hại cho
người sử dụng .
Trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2012, công tác xây dựng và ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật về ATTP là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm, được các Bộ ngành ưu tiên hàng đầu để sớm đưa Luật an toàn thực phẩm vào


Ngày nay, nhận thức của con người về lợi ích và hiệu quả to lớn của quản lý trong


12
nền kinh tế nói chung, cũng như trong thương mại nói riêng ngày càng cao. Quản lý
trở thành vấn đề trọng tâm trong cải cách kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Ở
nước ta trong suốt 20 năm đổi mới vừa qua cũng là thời kỳ tiến hành cải cách kinh
tế và thay đổi cơ chế quản lý trên cả tầm vĩ mô và doanh nghiệp. [4]
Dựa vào khái niệm trên, có thể định nghĩa: Quản lý Nhà nước là dạng quản
lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều
chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển
các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ
của Nhà nước...
Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng được thực hiện bởi tất cả các cơ
quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều
hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức, được thực hiện trên cơ sở để thi
hành pháp luật, được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ
quản lý nhà nước). Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao
động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý [3].
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình trong điều hành và quản lý kinh
doanh thông qua ban hành và sử dụng các công cụ kế hoạch hóa, chính sách, luật
pháp và các quy định khác về kinh doanh để tác động tới các chủ thể người bán,
người mua trên thị trường. Sự tác động của hệ thống quản lý nhà nước về kinh
doanh đến đối tượng trao đổi luôn đặt trong mối quan hệ với môi trường cụ thể, xác
định trong từng thời kỳ. [4]
Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông
qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến
tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng
trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về

của nó có thể gây ra thiệt hại cho cộng đồng, cho Nhà nước. Trong trường hợp
những hành vi này diễn ra khác với ý muốn của Nhà nước, có thể gây ra những
nguy hại nghiêm trọng cho xã hội thì Nhà nước phải sử dụng phương pháp cưỡng
chế để ngay lập tức đưa hành vi đó tuân theo một chiều hường nhất định, trong
khuôn khổ chính sách, pháp luật về kinh tế. Chẳng hạn, những đơn vị nào kinh


14
doanh hàng nhái, hàng giả bị Nhà nước phát hiện sẽ phải chịu xử phạt hành chính
như: đình chỉ kinh doanh, nộp phạt, tịch thu tài sản…
 Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của Nhà nước, dựa trên
những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn lên các chủ thể là chủ các cơ sở sản xuất,
chế biến, kinh doanh thực phẩm thậm chí là người tiêu dùng thực phẩm, nhằm làm
cho đối tượng này tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động không bằng cưỡng chế hành
chính mà bằng lợi ích, tức là Nhà nước chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đặt ra
những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử
dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ. Có thể thấy đây là phương pháp
quản lý tốt nhất để thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Phương pháp kinh tế đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội qui định
nhiệm vụ mục tiêu phù hợp với thực tế. Sử dụng các định mức kinh tế (mức thuế,
lãi suất…), sử dụng các chính sách ưu đãi kinh tế, các biện pháp đòn bảy kích thích
kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các chủ thể phát triển theo hướng ích
nước, lợi nhà.
Phương pháp kinh tế được dùng khi cần điều chỉnh các hành vi không có
nguy cơ gây hậu quả xấu cho cộng đồng, cho Nhà nước hoặc chưa đủ điều kiện để
áp dụng phương pháp hành chính cưỡng chế. Trên thực tế, có những hành vi mà
nếu không có sự điều chỉnh của Nhà nước, sẽ không diễn ra theo chiều hướng có lợi
cho Nhà nước và cho cộng đồng, nhưng cũng không có nghĩa là nó gây ra những

người và tiền của. Trước những diễn biến đó thì vai trò của nhà nước đặc biệt quan
trọng.
Trước hết, nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản
pháp luật có liên quan đến VSATTP để hướng dẫn người tiêu dùng và các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch. Ngoài ra,
thông qua các văn bản, chính sách nhà nước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản lý của
từng bộ, ngành và các cấp để thay mặt nhà nước quản lý chặt chẽ vấn đề VSATTP.
Thứ hai, thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật,
các chương trình kế hoạch có liên quan đến VSATTP nhà nước sẽ trực tiếp quản lý


16
vấn đề VSATTP. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát, kiểm tra
cũng như công tác quản lý tại các địa điểm, các trung tâm diễn ra các hoạt động
buôn bán, tiêu dùng thực phẩm. Kiểm soát về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng
của tất cả các mặt hàng thực phẩm.
Thứ ba, nhà nước sử dụng công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra, Ủy
ban nhân dân ( UBND) các cấp để quản lý vấn đề VSATTP. Các bộ phận này có
trách nhiệm riêng biệt để thanh tra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo
đúng yêu cầu, tiêu chuẩn VSATTP của nhà nước. Đồng thời các bộ, ban, ngành có
liên quan phối hợp với Bộ Y Tế để cùng quản lý các vấn đề liên quan đến thực
phẩm và VSATTP.
Thứ tư, nhà nước tổ chức, tuyên truyền giáo dục về VSATTP cho nhân dân
để nâng cao ý thức và hiểu biết về vấn đề này. Tổ chức các tháng hành động về
VSATTP để đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền giáo dục đạt
hiệu quả.
Như vậy, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề VSATTP.
Nhà nước đóng vai trò quyết định trong mọi lĩnh vực có liên quan đến thực phẩm,
từ khâu sản xuất, chế biến, đến tiêu dung.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

vi phạm gây thiệt hại cho xã hội.
- Yêu cầu tính rõ ràng: Các văn bản quản lý nhà nước về VSATTP được quy
định cụ thể, dễ hiểu, không mâu thuẫn với nhau. Các điều kiện quy định xuất phát
từ thực tế giảm thiểu thiệt hại người và của trong quá trình thực hiện, giữ gìn vệ
sinh an toàn thực phẩm.
- Tính phổ thông, đại chúng: Các quy định nằm trong các văn bản quản lý
khác nhau nhưng được liên hệ chặt chẽ với nhau, tránh tình trạng tạo ra các khe hở
lớn tạo điều kiện cho các hình thức kinh doanh gian lận. Các văn bản phải có hệ
thống theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tránh tình trạnh lách luật của các doanh
nghiệp, cá nhân. Mặt khác, tính đồng bộ của các văn bản sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện đúng và đủ các quy định về VSATTP.
Chất lượng của công cụ kế hoạch hóa, chính sách và bộ máy tổ chức trong
quản lý nhà nước về VSATTP sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá
nhân sản xuất, chế biến, tiêu dùng thực phẩm phát triển đồng thời giảm thiểu ngộ
độc thực phẩm, nâng cao sức khỏe giống nòi.


18
1.2.2. Tổ chức thực hiện
Tổ chức thực hiện là bước tiếp theo trong nội dung quản lý nhà nước về
VSATTP. Các văn bản quản lý được xây dựng và ban hành sẽ được đưa vào thực
tế. Bản chất của việc tổ chức và quản lý hoạt động của cơ quan QLNN về VSATTP
các cấp là tuyên truyền phổ biến các văn bản luật này đến các doanh nghiệp, người
tiêu dùng để hướng dẫn họ thực hiện đúng quy định. Hơn nữa bước này thực hiện
còn nhằm mục đích đảm bảo thống nhất và phù hợp với hệ thống chính sách và cơ
chế phát triển thương mại, phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế
giới và khu vực. Cần có sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước để
các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân dẽ dàng tiếp cận các thông tin về chiến lược,
chính sách, quy hoạch, dự án và thông hiểu các quyết định của nhà nước. Trong
bước này, thực hiện một số nội dung chủ yếu như: xây dựng kế hoạch triển khai

cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn.
Thứ tư, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, truyền thông, nâng cao nhận thức về
ATTP ý thức chấp hành pháp luật về quản lý ATTP, ý thức trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh TP đối với cộng đồng, ý thức của người tiêu
dùng TP.
Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về ATTP trên địa bàn
quản lý.
Ngoài tra, nhà nước còn kết hợp hài hòa, đúng đắn các phương pháp kinh tế,
hành chính, giáo dục, tuyên truyền, động viên. Trong đó phương pháp kinh tế tạo
động lực trực tiếp đối với cả bên mua và bên bán, nhà kinh doanh và khách hàng,
nhà sản xuất đóng gói thực phẩm và cộng đồng người tiêu dùng. Phương pháp giáo
dục là tác động tích cực vào nhận thức và hành động của các chủ thể kinh doanh
thực phẩm cả về vấn đề kinh tế và pháp luật.
1.2.3. Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật
Ngoài việc tổ chức thực hiện quy định pháp luật thì các cơ quan QLNN cần
phải thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi các chính
sách và pháp luật của nhà nước đối với ATVSTP. Quy định rõ quyền hạn của các tổ
chức, cơ quan thực hiện kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về sản xuất,
chế biến, kinh doanh thực phẩm trên thị trường nước ta. Thực hiện đúng quy định


20
về thủ tục, thời gian kiểm tra, thanh tra nhằm kịp thời phát hiện sai phạm để xử lý
nghiêm các vi phạm.
Công tác kiểm tra, thanh tra về VSATTP luôn được coi là một hoạt động
quan trọng và ưu tiên của công tác quản lý nhà nước về VSATTP. Hoạt động thanh
tra, kiểm tra được tiến hành đồng loạt ở cấp Trung ương và địa phương, tiến hành
định kỳ vào các đợt cao điểm như mùa lễ hội, bão lụt.. hay đột xuất như dịch bệnh,
các sự cố đặc biệt như sữa nhiễm melamine... Với Nhà nước, kiểm tra là nội dung
không thể thiếu của công tác quản lý. Thông qua kiểm tra, các chủ thể quản lý tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status