Tác động của hiệp định thương mại tự do ASEAN úc new zealand đến quan hệ thương mại của việt nam với úc và new zealand TT - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HÀ PHƯƠNG

Tên đề tài luận án:

TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
ASEAN-ÚC- NEW ZEALAND ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
CỦA VIỆT NAM VỚI ÚC VÀ NEW ZEALAND

Chuyên ngành
Mã số

: Kinh tế quốc tế
: 9 31 01 06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Hà Nội, 2019


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội Việt
Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng
2. PGS.TS. Đặng Thị Phương Hoa

Phản biện 1: ...............................................................................

(AANZFTA) được ký kết tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 14 tại Thái
Lan. Vào năm sau đó, AANZFTA bắt đầu có hiệu lực. Theo đó,
AANZFTA là hiệp định thương mại đầu tiên giữa Australia và New
Zealand với các đối tác thương mại từ ASEAN trong đó có Việt Nam.
AANZFTA không chỉ mang đến nhiều cơ hội mà còn nhiều thách thức đối
với quan hệ kinh tế nói chung, thương mại hàng hóa nói riêng giữa Việt
Nam với Australia và New Zealand. Nếu biết tận dụng được cơ hội này,
đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để Việt Nam có thể dễ dàng mở rộng thị
trường, học hỏi được công nghệ tiên tiến và nâng cao số lượng cũng như
chất lượng của các mặt hàng xuất khẩu với Australia và New Zealand. Tuy
nhiên, so với một số quốc gia của ASEAN, trao đổi thương mại giữa Việt
Nam với hai quốc gia này còn khiêm tốn. Cụ thể, năm 2017, Việt Nam
đứng thứ 5 trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu với Australia và New
Zealand, sau Thái Lan, Malaysia, Singapore và Indonesia với một khoảng
cách tương đối xa. Do đó, việc tăng cường xuất khẩu hàng hóa thông qua
việc tận dụng các ưu đãi trong AANZFTA đối với hàng hóa xuất khẩu của
Việt Nam sang thị trường Australia, New Zealand là yêu cầu cấp bách cả
trong hiện tại và tương lai.
AANZFTA đã được ký kết và thực thi gần 10 năm, trong đó Việt Nam là
một thành viên chính thức. Quá trình thực thi Hiệp định đã có những thay
đổi trong quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với Australia và
New Zealand. Do đó, việc đi sâu nghiên cứu về các tác động của
AANZFTA đến quan hệ thương mại, cụ thể là xuất nhập khẩu hàng hóa
của Việt Nam với hai quốc gia này là vô cùng cần thiết trong việc đưa ra
những nhận định và đánh giá kịp thời để có những điều chỉnh chiến lược
1


phù hợp, tận dụng được các cam kết của AANZFTA trong việc thúc đẩy
thương mại và nâng tầm quan hệ với hai bạn hàng tiềm năng này.


Luận án xem xét sự dịch chuyển trong cơ cấu hàng hóa trong trao đổi
thương mại của Việt Nam với Australia và New Zealand trước và sau khi
AANZFTA được thực hiện.

Luận án đánh giá và phân tích tác động tạo lập thương mại và chuyển
hướng thương mại của AANZFTA đến thương mại của Việt Nam.

Luận án phân tích triển vọng và giải pháp để Việt Nam có thể tận
dụng được lợi thế của AANZFTA trong trao đổi thương mại hàng hóa với
Australia và New Zealand
2


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về tác động của việc thực thi cam kết AANZFTA đến
thương mại hàng hóa của Việt Nam và Australia và New Zealand dựa trên
3 nội dung: tác động đến giá trị thương mại hàng hóa, tác động đến cấu
trúc ngành thương mại, tạo lập và chuyển hướng thương mại.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
-Nội dung: Luận án giới hạn nội dung về quan hệ thương mại hàng
hóa cụ thể ở đây là xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam với Australia
và New Zealand, trong đó cơ cấu hàng hóa được phân loại theo hai dạng là
Nhóm hàng hóa theo mã HS 2012 và Nhóm hàng hóa theo giai đoạn sản
xuất.
-Thời gian: Luận án sẽ đánh giá trong giai đoạn 2002-2017 và định
hướng 2025.
-Không gian: Các nước trong Hiệp định AANZFTA (bao gồm
Australia, New Zealand, Việt Nam, Brunei, Campuchia, Lào, Indonesia,

hóa của Việt Nam với Australia và New Zealand.
4.2.2. Phương pháp định lượng
4.2.2.1. Phương pháp sử dụng chỉ số
Tác giả sử dụng các chỉ số để tính toán tác động của AANZFTA đến
thương mại bao gồm chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) và chỉ số định
hướng khu vực (ROI). Chỉ số RCA được áp dụng để tính toán lợi thế hay
bất lợi của Việt Nam so với Australia và New Zealand khi tham gia thương
mại tự do. Chỉ số ROI sẽ tính toán xem nhóm hàng nào Việt Nam xuất
khẩu vào khu vực AANZFTA có lợi thế hơn các khu vực khác. Luận án sẽ
kết hợp Chỉ số ROI và RCA để tìm ra các nhóm hàng có nguy cơ gây nên
chuyển hướng thương mại đối với Việt Nam.
4.2.2.2. Mô hình lực hấp dẫn
Để trả lời câu hỏi ảnh hưởng của AAZFTA là tạo thương mại hay
chệch hướng thương mại cho xuất nhập khẩu của Việt Nam thì tác giả sẽ
sử dụng mô hình lực hấp dẫn để đánh giá bằng việc đưa thêm biến giả
FTA và một số các biến liên quan đến trao đổi thương mại.
Đối với đề tài, để ước tính tác động của thương mại Việt Nam đến
các thành viên AANZFTA có ảnh hưởng nhất, cụ thể là New Zealand và
Australia, mô hình trọng lực sau được sử dụng:
Log Imvjt = βo + β1 log Yvt + β2 log Yjt + β3logDvjt + β4BothinFTA +
β5OneinFTA + uvjt (3)
Trong phương trình này, Log Imvjt là biến phụ thuộc, logYvt,
logYjt, logDvjt là các biến giải thích và BothinFTA và OneinFTA là biến
giả. Cụ thể:
• Imvjt là giá trị nhập khẩu của Việt Nam vào đất nước j trong năm t;
• Yvt là GDP của Việt Nam trong năm t;
• Yjt là GDP của đất nước j trong năm t;
• Dvjt là khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và đất nước j;
• β là các hệ số;
• uvjt là biến ngẫu nhiên.

yếu tố là loại dữ liệu và độ tin cậy.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
• Xây dựng được khung lý thuyết về tác động của FTA đến thương
mại hàng hóa của các quốc gia.
• Góp phần đánh giá đầy đủ về những tác động tích cực và những kết
quả chưa đạt được như kì vọng trong việc thực thi AANZFTA đến thương
mại hàng hóa của Việt Nam với Australia và New Zealand theo 3 tiêu chí
là giá trị thương mại hàng hóa, cơ cấu ngành thương mại hàng hóa, tạo lập
và chuyển hướng thương mại.
• Đưa ra các dự báo triển vọng trong quan hệ thương mại giữa Việt
Nam với Australia và New Zealand đến năm 2025.
• Đề xuất được sáu hàm ý cho Việt Nam để tận dụng được tối đa
những lợi ích mà hiệp định này mang lại trong thương mại hàng hóa với
Australia và New Zealand.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận án
5



Luận án làm rõ nội dung lý luận cơ bản về Hiệp định thương mại tự
do (FTA) như khái niệm, phân loại, quy tắc chính, các nội dung FTA mới,
tính minh bạch, cơ chế giải quyết tranh chấp.

Phân tích đánh giá một số lý thuyết liên quan đến tác động của FTA
đến thương mại hàng hóa của các quốc gia dựa trên bốn khía cạnh là hiệu
ứng động, lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu, lý thuyết về lợi thế so sánh,
tạo lập và chuyển hướng thương mại. Hệ thống lý luận được đưa ra trong
luận án là cơ sở cần thiết để các bài nghiên cứu có liên quan đến FTA và
đánh giá FTA đến quan hệ thương mại giữa các quốc gia áp dụng và đưa


6


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Vì hiệp định AANZFTA được ký kết vào năm 2009 và có hiệu lực
vào năm 2010 nên các nghiên cứu trong nước trực tiếp liên quan đến việc
đánh giá tác động của AANZFTA đến thương mại của Việt Nam với
Australia và New Zealand còn hạn chế. Vấn đề này được đề cập theo các
nội dung nổi bật sau đây: (1) Nghiên cứu về FTA; (2) Nghiên cứu về mối
quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Australia và New Zealand; (3) Nghiên
cứu về AANZFTA và đánh giá tác động của Hiệp định đến thương mại.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Cũng như các bài nghiên cứu trong nước, các bài nghiên cứu ngoài
nước liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu của luận án không nhiều.
Có thể nêu lên một số công trình nghiên cứu dựa trên các nội dung chính
sau: (1) Nghiên cứu về FTA và các phương pháp đánh giá quan hệ thương
mại giữa các quốc gia; (2) Về các phương pháp đánh giá tác động của FTA
nói chung đến thương mại của các quốc gia; (3) Nghiên cứu về mối quan
hệ thương mại giữa Việt Nam với Australia và New Zealand; và (4)
Nghiên cứu về AANZFTA và tác động của AANZFTA đến thương mại
của các quốc gia trong đó có Việt Nam.
1.3. Đánh giá về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cho đề
tài luận án cần tập trung nghiên cứu
Rõ ràng các vấn đề liên quan đến AANZFTA và đánh giá tác động
của Hiệp định đối với thương mại Việt Nam với Australia và New Zealand
đã thu hút các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước. Những kết quả
nghiên cứu được phân tích ở trên đã đóng góp vào việc làm rõ một số nội
dung lý luận và thực tiễn cơ bản về FTA nói chung, AANZFTA nói riêng.

Nghiên cứu về quan hệ thương mại quốc tế là những đánh giá và
phân tích về sự trao đổi trong vốn, hàng hóa và các dịch vụ giữa các quốc
gia với nhau. Trong đó, thương mại hàng hóa quốc tế là sự trao đổi hàng
hóa xuyên biên giới giữa các quốc gia với nhau. Để nghiên cứu quan hệ
thương mại quốc tế đối với hàng hóa cần phải xem xét những tương tác
của các quốc gia như chính sách, các chương trình hợp tác, chiến lược phát
triển đối với các sản phẩm là hàng hóa xuất nhập khẩu.
2.1.2. Hiệp định thương mại tự do
2.1.2.1. Khái niệm
Hiện nay có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về Hiệp
định thương mại tự do (FTA). Mỗi tổ chức, mỗi quốc gia và ở các thời
điểm đã đưa ra các định nghĩa riêng. Có thể rút ra nhận định chung về FTA
như sau: FTA là thỏa thuận giữa các bên liên quan để hình thành khối
thương mại tự do. Các thành viên tham gia thỏa thuận FTA sẽ tiến hành
cắt giảm và loại bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan theo lộ trình, thực
hiện các cam kết về đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ…cho
phép mỗi quốc gia tận dụng lợi thế so sánh, chuyên môn hóa sản xuất và
phân công lao động một cách hợp lý nhất để thu được lợi ích tối đa từ
thương mại gia tăng.
8


2.1.2.2. Phân loại Hiệp định thương mại tự do
Căn cứ theo quy mô, số lượng các thành viên tham gia FTA được chia
làm ba loại là FTA song phương, FTA đa phương (FTA khu vực và FTA
hỗn hợp).
2.1.2.3. Quy tắc chính về tự do thương mại hàng hóa trong FTA.
Đối với rất nhiều Hiệp định FTA, thương mại hàng hóa là lĩnh vực
quan tâm chính của các bên tham gia, tạo nên nền tảng của Hiệp định. Các
cam kết về thương mại hàng hóa sẽ giúp các bên hiện thực hóa mục tiêu

9


chuyên môn hóa sản xuất, tận dụng lợi thế của mình. Thương mại tự do
cũng tăng cường tổng hiệu quả tiêu thụ. Hay nói cách khác, người tiêu
dùng có cơ hội được tiếp cận với nguồn hàng phong phú hơn và với giá
thấp hơn so với trước khi có thương mại tự do.

2.2.3. Lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu và tác động đến quy trình sản xuất.

FTA là động lực để các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển
cải tiến sản xuất và nâng cao chất lượng đáp ứng các yêu cầu TBT và SPS
của phía đối tác để hưởng ưu đãi thuế quan. Quy trình sản xuất được cải
tiến cùng với lợi ích của các cam kết ưu đãi trong khối cũng là cơ hội để
quốc gia có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Sự phân mảnh của các
quy trình sản xuất dọc theo chuỗi giá trị, hay chuyên môn hóa dọc giúp các
quốc gia phát huy được lợi thế sản xuất của mình
2.2.4. Tạo lập thương mại và chuyển hướng thương mại
Vào năm 1950, Viner đã đưa ra nhận định rằng một liên minh thuế
quan có thể dẫn đến hai tác động là tạo lập thương mại và chuyển hướng
thương mại. Điều này cũng được khẳng định lại bởi Dominick Salvatore
vào năm 2004 trong cuốn sách Kinh tế quốc tế (International economics).
2.2.4.1. Tạo lập thương mại
Tạo lập thương mại xảy ra khi một số nền sản xuất trong nước của
một quốc gia mà là một thành viên của khối liên minh thuế quan, được
thay thế bởi hàng nhập khẩu giá thấp hơn từ một quốc gia thành viên khác.
2.2.4.2. Chuyển hướng thương mại.
Chuyển hướng thương mại xảy ra khi hàng nhập khẩu giá thấp hơn
bên ngoài khối liên minh thuế quan được thay thế bằng hàng nhập khẩu giá
cao hơn từ một thành viên trong khối.

2.3.2. Khái quát cam kết thương mại hàng hóa của Việt Nam, Australia
và New Zealand
2.3.2.1. Cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa của Việt Nam trong
AANZFTA
Việt Nam thuộc nhóm CLMV, nên Việt Nam được hưởng ưu đãi đặc
biệt hơn so với nhóm ASEAN-6. Theo đó, Việt Nam cam kết xoá bỏ thuế
quan 90% số dòng thuế của Biểu thuế nhập khẩu (Danh mục thông
thường). Trong đó, 54% số dòng thuế vào năm 2016; 85% số dòng thuế
vào năm 2018; 90% số dòng thuế vào năm 2020. Ngoài ra, Việt Nam cũng
đã cam kết xoá bỏ thuế quan vào năm 2016 cho một số sản phẩm mà
Australia và New Zealand đặc biệt quan tâm như thịt bò, thịt cừu, sữa
nguyên liệu, sản phẩm sữa, gỗ ván dăm… Để thực thi AANZFTA một
cách có hiệu quả, Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp
luật quy định và hướng dẫn cho cộng đồng và doanh nghiệp. Ngoài ra,
11


Chính phủ cũng ban hành thông tư chỉ đạo việc thực hiện Quy tắc xuất xứ
trong Hiệp định.
2.3.2.2. Cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa của Australia trong
AANZFTA
Thuế suất trung bình của Australia trong AANZFTA là khá thấp tạo
thuận lợi cho hàng xuất khẩu của các nước ASEAN thâm nhập thị trường
này. Có 96% dòng thuế đối với hàng xuất khẩu của ASEAN trong đó
Việt Nam sang Australia sẽ được cắt giảm vàloại bỏ ngay lập tức. Tất cả
các dòng thuế còn lại sẽ được loại bỏ vào năm 2020. Hơn 90% các dòng
thuế của Australia được cắt giảm giúp cho hàng xuất khẩu Việt Nam thâm
nhập thị trường nước này thuận lợi hơn.
Ngoài việc thực thi các quy định theo AANZFTA, Australia cũng
cam kết hỗ trợ các nước ASEAN trong đó có Việt Nam triển khai các biện

chủ yếu xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên, năng lượng và thực phẩm. Nhìn
chung, thị trường Australia khá cởi mở đối với hàng hóa nhập khẩu. Người
tiêu dùng Australia thường sẽ đưa ra quyết định cuối cùng dựa trên các yếu
tố như chất lượng, kiểu dáng và giá cả hơn là nguồn gốc xuất xứ
Ngày 26/2/1973 Việt Nam và Australia thiết lập quan hệ ngoại giao.
Tuy nhiên, quan hệ hợp tác kinh tế nói chung, thương mại nói riêng bắt
đầu khởi sắc khi hai quốc gia bắt đầu ký kết một số Hiệp định hợp tác
quan trọng. Những hợp tác về kinh tế và cụ thể là thương mại này đã là cơ
sở để mở ra một thời kỳ mới trong phát triển quan hệ kinh tế và thương
mại giữa hai quốc gia.
3.1.1.1. Tổng quan thị trường xuất nhập khẩu của New Zealand và hợp
tác thương mại giữa Việt Nam với New Zealand.
Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, nghề mỏ, năng lượng và đánh cá
đã đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của New Zealand, đặc biệt là
về mặt xuất khẩu và mặt lao động. New Zealand vẫn yêu cầu các quy định
chặt chẽ về an toàn vệ sinh động thực vật liên quan đến vấn đề sức khỏe, dán
nhãn xuất xứ, an toàn vệ sinh và hàm lượng nguồn gốc xuất xứ.
Ngày 19/6/1975, Việt Nam và New Zealand thiết lập quan hệ ngoại
giao. Tuy nhiên trong giai đoạn 1975-1989 hợp tác giữa hai nước hầu như
chưa có gì đáng kể. Giai đoạn 1990-2008, New Zealand khôi phục lại quan
hệ với Việt Nam và phải đến năm 1994, khi hai quốc gia bắt đầu ký kết
Hiệp định Hợp tác Kinh tế Thương mại, hợp tác kinh tế nói chung, thương
mại nói riêng mới có những chuyển biến khởi sắc.
3.1.2. Kết quả trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam với
Australia và New Zealand và những vấn đề đặt ra trước khi AANZFTA
được thực thi

13



Thứ ba, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Australia và
New Zealand so với các nước ASEAN đã có sự tăng trưởng vượt bậc.
Thứ tư, cán cân thương mại luôn nghiêng về Việt Nam và tốc độ
tăng trưởng trong xuất khẩu cao hơn nhập khẩu.
Thứ năm, AANZFTA giúp Việt Nam cân bằng trong trao đổi thương
mại giữa hai quốc gia.
Thứ sáu, tốc độ tăng trưởng thương mại hai chiều vẫn tăng giảm
không ổn định với biên độ lớn sau khi có hiệp định AANZFTA. Thứ bảy,
từ sau khi AANZFTA được ký kết, xuất siêu của Việt Nam có xu hướng
14


giảm dần qua các năm. Thứ tám, tỷ trọng thương mại của Việt Nam với
hai quốc gia này còn thấp hơn so với khu vực.
3.2.2. Tác động của AANZFTA đến cơ cấu thương mại của Việt Nam
với Australia và New Zealand.
Thứ nhất, từ khi AANZFTA được thực hiện vào năm 2010, cơ cấu
hàng hóa trong trao đổi thương mại của Việt Nam với Australia và New
Zealand đã dịch chuyển theo hướng chuyên biệt hóa sản xuất và xuất khẩu
các mặt hàng có lợi thế hơn.
Thứ hai, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được hưởng ưu đãi từ
AANZFTA đều tăng.
Thứ ba, từ sau khi AANZFTA thành lập, cơ cấu hàng xuất khẩu đã
có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng hóa vốn và
hàng hóa tiêu dùng, giảm dần tỷ trọng hàng nguyên liệu thô và sơ chế; cơ
cấu nhập khẩu chuyển dịch theo hướng ngược lại.
Thứ tư, một số mặt hàng có lợi thế lớn thì không thay đổi hoặc bị
giảm, nhất là xuất khẩu của Việt Nam.
Thứ năm, mặc dù có nhiều lợi ích song, chuyên môn hóa cũng khiến
cho Việt Nam gặp phải một số vấn đề nếu không cân đối được cơ cấu sản

thì nhập khẩu của Việt Nam với đối tác sẽ càng ít. So với các quốc gia
trong khối, khoảng cách của Việt Nam với Australia khá lớn nên đây sẽ là
điều khó khăn cho nhập khẩu của Việt Nam với quốc gia này.
• Biến BothinFTA và OneinFTA đều mang giá trị dương nên
AANZFTA sẽ tạo ra hiện tượng Tạo lập thương mại cho Việt Nam. Hay
nói cách khác, Việt Nam đang tăng khối lượng nhập khẩu các mặt hàng có
lợi thế so sánh, giá rẻ từ các nước trong khu vực. AANZFTA giúp tăng
cường chuyên môn hóa và tính kinh tế của quy mô nên tăng hiệu quả sản
xuất trong các nước thành viên.
Qua mô hình có thể thấy R-square = 0,451804, đây là con số không
cao. Nguyên nhân là vẫn có một số mặt hàng gây nên hiện tượng chuyển
hướng thương mại. Hiện tượng này xảy ra khi các quốc gia chuyển hướng
nhập khẩu nhiều hàng hóa từ các nước bạn hàng quen thuộc (với mức giá
trước khi có thuế rẻ hơn) sang nước nằm trong hiệp định (với mức giá
trước thuế đắt hơn). Chuyển hướng thương mại vừa có tác động tích cực
vừa có tác động tiêu cực đến thương mại hàng hóa hai chiều. Để tìm xem
mặt hàng nào gây hiện tượng chuyển hướng thương mại, đề tài sử dụng hệ
số RCA và ROI.
3.2.3.2. Mặt hàng gây hiện tượng chuyển hướng thương mại trong xuất
nhập khẩu của Việt Nam với Australia và New Zealand
Dựa vào số liệu đã tính toán, có thể thấy một số mặt hàng Australia
không có lợi thế so sánh so với Việt Nam song Việt Nam vẫn nhập khẩu
nhiều. Trong khi Australia tận dụng được việc giảm thuế trong AANZFTA
để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nước này không có lợi thế so với
Việt Nam thì ở chiều ngược lại, Việt Nam lại đánh mất cơ hội này đối với
một số mặt hàng. Đối với thị trường New Zealand, AANZFTA không gây
hiện tượng chuyển hướng thương mại cho thị trường nhập khẩu của Việt
Nam. Ở chiều ngược lại, thị trường New Zealand lại có một số mặt hàng
gây nên hiện tượng chuyển hướng thương mại khi đây không phải là mặt
hàng Việt Nam có lợi thế so sánh hơn New Zealand nhưng lại có xu hướng

mà Việt Nam tăng cường xuất khẩu sang hai thị trường này sau khi
AANZFTA được thành lập. Không chỉ vậy, từ sau khi AANZFTA thành
lập, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ
trọng nhóm hàng hóa vốn và hàng hóa tiêu dùng, giảm dần tỷ trọng hàng
nguyên liệu thô và sơ chế; cơ cấu nhập khẩu chuyển dịch theo hướng
ngược lại.AANZFTA là cơ sở quan trọng đối với thị trường nhập khẩu của
Việt Nam khi Việt Nam đang hưởng lợi từ việc tạo lập thương mại khi
tham gia FTA này. AANZFTA giúp tăng cường chuyên môn hóa và tính
kinh tế của quy mô nên tăng hiệu quả sản xuất trong các nước thành viên.
Tạo lập thương mại sẽ có tác động tích cực cho người dân và tổng thể phúc
lợi xã hội của Việt Nam.
3.3.1.2. Nguyên nhân
Thứ nhất, nhờ biết tận dụng các ưu đãi của AANZFTA mà thương
mại của Việt Nam với Australia và New Zealand được tăng cường.
17


Thứ hai, các cơ quan chức năng Việt Nam đã và đang tiến hành các
hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện AANZFTA.
Thứ ba, Australia và New Zealand đã có những chương trình hỗ trợ
phù hợp trong khuôn khổ AANZFTA để tăng cường thương mại hai bên.
Thứ tư, một số doanh nghiệp cũng đã chủ động trong việc tìm hiểu
và thực thi các cam kết của AANZFTA để được hưởng ưu đãi về thuế
quan và phi thuế quan
3.3.2. Tác động tiêu cực và nguyên nhân
3.3.2.1. Tác động tiêu cực
Sau khi AANZFTA được thực thi, Việt Nam vẫn gặp phải một số
hạn chế và không tận dụng được tối đa lợi ích của hiệp định mang lại. Giá
trị thương mại vẫn chưa đạt được kì vọng khi tốc độ tăng trưởng thương
mại hai chiều vẫn tăng giảm không ổn định với biên độ lớn. Xuất siêu của

hiện các cam kết AANZFTA, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ sáu, doanh nghiệp Australia và New Zealand còn chưa mạnh
dạn trong việc đầu tư sang Việt Nam.
CHƯƠNG 4: DỰ BÁO TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI AUSTRALIA VÀ NEW ZEALAND
ĐẾN NĂM 2025 VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
4.1. Bối cảnh thế giới và khu vực tác động đến quan hệ thương mại
của Việt Nam với Australia và New Zealand
4.1.1. Bối cảnh thế giới
Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang
diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt tự do hóa thương mại song phương
và khu vực được đẩy mạnh.
Bên cạnh quá trình toàn cầu hóa và tự do thương mại, quá trình bảo
hộ thương mại cũng đang trỗi dậy mạnh mẽ. Song hành xu thế toàn cầu
hóa là sự gia tăng phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật toàn cầu. Tình
hình kinh tế thế giới đang có dấu hiệu phục hồi sau cuộc khủng hoảng và
sẽ có những dấu hiệu tích cực cho đến năm 2025. mại trong AANZFTA sẽ
đạt được một cách hiệu quả và bền vững.
4.1.2. Bối cảnh trong nước và khu vực
Hội nhập thương mại Việt Nam với Australia và New Zealand bị ảnh
hưởng một phần bởi bối cảnh an ninh chính trị khu vực. Sự hình thành
Cộng đồng ASEAN (AC) sau năm 2015 là tiền đề cho phát triển thương
mại của Việt Nam với Australia và New Zealand. Thương mại hai chiều sẽ
tăng lên nhanh chóng nhờ các hiệp định khu vực và chủ trương hội nhập
của Việt Nam.
Như vậy, bối cảnh khu vực và quốc tế đang thay đổi một cách nhanh
chóng với nhiều biến động phức tạp và khó lường. Điều này sẽ tác động
đến quan hệ giữa các quốc gia nói chung, các thành viên trong AANZFTA
nói riêng cả tích cực và hạn chế. Do đó, Việt Nam cần phải nắm vững cơ
hội và tận dụng lợi thế và những ưu đãi trong AANZFTA để tăng cường

Sau năm 2020, khi tất cả các mức thuế xuống còn 0% đối với
Australia và New Zealand và 90% dòng thuế được giảm xuống 0% đối với
Việt Nam, cùng với những định hướng tăng cường hợp tác song phương,
thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với hai quốc gia này sẽ phát triển một
cách tích cực và sẽ nhanh chóng tăng trưởng 5 năm tiếp theo..Error! No
text of specified style in document..1
Thứ nhất, giá trị thương mại hàng hóa của Việt Nam với Australia và
New Zealand sẽ tăng lên nhanh chóng, nhất là trong xuất khẩu của Việt
Nam.
Thứ hai, cùng với việc giảm thuế mạnh hơn trong những năm tiếp
theo, AANZFTA sẽ giúp Việt Nam với Australia và New Zealand chuyên
biệt hóa sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế một cách hiệu quả
hơn.
20


Thứ ba, cơ cấu hàng xuất khẩu tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng
tăng dần tỷ trọng nhóm hàng hóa vốn và hàng hóa tiêu dùng, giảm dần tỷ
trọng hàng nguyên liệu thô và sơ chế; cơ cấu nhập khẩu chuyển dịch theo
hướng ngược lại.
Thứ tư, trong những năm tới, Việt Nam sẽ tối ưu hóa những lợi thế
của tạo lập thương mại khi tham gia AANZFTA thông qua việc tăng
cường nhập khẩu các mặt hàng nước bạn có lợi thế so sánh.
4.4. Một số hàm ý để Việt Nam tận dụng được lợi thế của AANZFTA
trong thương mại hàng hóa với Australia và New Zealand.
4.4.1. Cần chú ý hơn đến những tác động của bối cảnh khu vực và thế
giới trong việc tăng cường quan hệ với Australia và New Zealand.
Cùng với dòng chảy toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, sự
hình thành AC sau năm 2015 cũng như các hiệp định song phương và đa
phương mà Việt Nam đã và sẽ tham gia là tiền đề cho phát triển thương

4.4.5. Nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam với các quốc gia
trong AANZFTA
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam đối với các quốc gia
cùng tham gia hiệp định, Việt Nam cần tăng cường thu hút đầu tư từ
Australia và New Zealand. Để làm được điều này, Chính phủ và doanh
nghiệp cần hợp tác chặt chẽ với nhau để để đổi mới công nghệ, thông qua
đó tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm
để đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt từ phía Australia và New Zealand.
Bên cạnh đó, cần đầu tư xây dựng được thương hiệu cho các sản phẩm
xuất khẩu và cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Có như vậy,
các sản phẩm và doanh nghiệp Việt Nam mới có vị thế trên thị trường
quốc tế và ngay tại thị trường trong nước trong bối cảnh cạnh tranh ngày
càng gay gắt hiện nay.
4.4.6. Cần đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế và
được hưởng ưu đãi thuế từ Australia và New Zealand trong khuôn khổ
AANZFTA.
Để phát huy được lợi thế này mà không gây ảnh hưởng đến cạnh
tranh của doanh nghiệp trong nước thì Việt Nam cần sử dụng chiến lược
nhập khẩu đặc biệt của các sản phẩm khai thác và chế biến ở nước ngoài.
Việt Nam cần chuyên sản xuất các sản phẩm có lợi thế so sánh, có tiềm
năng thương mại cao và nhất là các mặt hàng Australia và New Zealand
giảm thuế sâu.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đi đến một số kết luận sau:
1.Luận án đã tổng quan và phân tích một số công trình, bài viết được
công bố trong và ngoài nước về trao đổi thương mại, FTA và nhất là các
tác động đối với các bên tham gia và cho thấy đây là một chủ đề khá rộng
phức tạp và có nhiều cách đánh giá, nhận xét khác nhau. Những kết quả
nghiên cứu của các công trình được công bố cũng như nguồn số liệu từ các
cơ quan thương mại có uy tín, các ý kiến nhận xét của chính phủ, doanh

Hiệp định này là tiền đề quan trọng giúp tăng cường quan hệ thương mại
hàng hóa của Việt Nam với Australia và New Zealand và điều này đã được
chứng minh sau 8 năm thực thi Hiệp định. Cụ thể, tổng kim ngạch trao đổi
thương mại của Việt Nam với Australia và New Zealand cao hơn sau khi
hiệp định có hiệu lực vào năm 2010. Trong đó, cán cân thương mại luôn
nghiêng về Việt Nam và tốc độ tăng trưởng trong xuất khẩu cao hơn nhập
khẩu. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng thương mại trung bình giai đoạn sau khi
AANZFTA hình thành cao hơn so với giai đoạn trước. AANZFTA cũng
giúp Việt Nam cân bằng trong trao đổi thương mại giữa Australia và New
Zealand. Từ khi AANZFTA được thực hiện vào năm 2010, cơ cấu hàng
hóa trong trao đổi thương mại của Việt Nam với hai quốc gia này đã dịch
chuyển theo hướng chuyên biệt hóa sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có
lợi thế hơn. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được hưởng ưu đãi từ
AANZFTA đều tăng. Và cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch theo
hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng hóa vốn và hàng hóa tiêu dùng, giảm
dần tỷ trọng hàng nguyên liệu thô và sơ chế, trong khi cơ cấu nhập khẩu
chuyển dịch theo hướng ngược lại. Hiện nay, nhập khẩu của Việt Nam
đang hưởng lợi từ việc tạo lập thương mại trong AANZFTA.
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status