Thơ và phân tâm học - Pdf 56

Thơ và phân tâm học
Tác giả: phuongapt đưa lên lúc: 07:58:24 Ngày 18-03-2008
Thơ và phân tâm học

Tặng các bạn: Đỗ Quyên, Thận Nhiên, Đinh Trường Chinh, Phan Nhiên Hạo,
Trần Tiến Dũng, Nguyễn Quốc Chánh, Bùi Chát, Ngô Tự Lập, Inrasara, để nhớ một thời.

1. Bài thơ đầu tiên
Bài thơ đầu tiên thường được viết khi ta còn nhỏ. Đứa trẻ ít khi đủ can đảm trình diện nó
với cha mẹ, trừ khi được hết sức khuyến khích. Nhưng chỉ khuyến khích thôi chưa đủ.
Phản ứng đầu tiên của cha mẹ thường ghi dấu ấn sâu trong kí ức một đứa trẻ. Bạn thốt lên
một nhận xét với vẻ ngạc nhiên, thích thú, hay bạn càu nhàu khó chịu, chỉ vì hôm đó thật
không may, ở sở làm bạn đang có chuyện bực mình? Tôi xin nói để bạn nghe rằng, vào lúc
đứa trẻ ngượng nghịu đưa cho bạn bài thơ mà nó đã nhiều ngày nhét kĩ dưới gậm giường,
chỉ một vẻ mặt lơ đãng của bạn cũng đủ để đứa trẻ bị tổn thương, thậm chí về sau suốt đời
không có một bài thơ nào nữa được mang ra trình diện với cuộc đời.
Làm thơ tập cho trẻ con khả năng sử dụng ngôn ngữ, thói quen biểu hiện các ý tưởng, khả
năng cảm thông với người khác, và đặc biệt là rèn luyện một trí tuệ sắc sảo. Một nhà thơ
Mỹ nổi tiếng, Stanley Kunitz, đã từng viết rằng không có một công việc nào khó khăn bằng
công việc của người làm thơ. Thơ mang lại sự nhạy cảm tâm hồn, điều mà mỗi chúng ta
đánh mất dần dần trong quá trình trở thành người lớn, như hòn cuội trắng đầy góc cạnh từ
trên núi cao lăn theo suối, càng lăn xuống càng tròn lại mất đi các góc cạnh ban đầu.
Nhưng bạn có thể hỏi: sự nhạy cảm tâm hồn có cần thiết không? Trong xã hội hiện nay, có
vẻ như những năng khiếu kĩ thuật là quan trọng nhất trong đường lối giáo dục, đáng ngạc
nhiên thay sự tổng hợp của ba yếu tố: thể chất, trí thông minh và tâm hồn lại được chứng
minh trong nhiều nghiên cứu xã hội học là có vai trò như nhau trong sự phát triển một tài
năng, ngay cả trong những lĩnh vực thuần tuý khoa học như toán học, vật lý và y khoa.
Khác với các yếu tố khác, sự nhạy cảm tâm hồn chỉ có thể được khơi dậy khi ta bắt đầu
điều đó ở tuổi đến trường, có vẻ quá muộn khi một ai có ý định dời nó lại những giai đoạn
về sau. Khác với niềm tin của nhiều người, một nền thơ ca chân thực không dẫn đến sự yếu
đuối theo kiểu "lãng mạn ướt át", nó đưa ta thẳng đến sân chơi rèn luyện các năng khiếu

giằng co đầy đau khổ, giữa cảm giác yêu thương và sự căm hận ngấm ngầm, một tình yêu
được bày tỏ trọn vẹn hay sự đè nén tình cảm theo kiểu Đông phương, sự hoà hợp giữa các
thế hệ và sự nổi loạn, đã in dấu ấn như thế nào lên nhân cách và hành vi của một người?
Làm thơ là dựng một bức tượng sáp (wax) của thời gian, là vẽ ra trong bóng đêm vẻ đẹp
sâu kín của những khía cạnh u uất tâm hồn, vốn chi phối hầu hết các hành động của chúng
ta. Mỗi lần đọc được một bài thơ hay, tiếng Việt hay tiếng Anh, có vần theo kiểu cổ điển
hay hoàn toàn tự do, thậm chí phá bỏ các luật lệ, tôi đều có ấn tượng như đứng trước một
bức tượng đã dựng xong, bằng ngôn ngữ của những cảm xúc đơn giản hoặc tinh tế, u hoài
hay dữ dội đau đớn, nhưng chúng đều có thật. Cũng như tư tưởng, một tình cảm không
được tác giả định hình, bao giờ cũng là một tình cảm không có thật, thậm chí là ảo tưởng.
Chỉ có những nhà thơ trung thực với tình cảm của mình mới có khả năng trong muôn một
gọi tên được chúng.
Hãy xem thơ Việt Nam viết về mẹ. Đây dĩ nhiên là một đề tài lớn, về một tình cảm lớn, mà
các nhà thơ có thể khai thác bất tận. Chúng ta đã có vài bài thơ hay hoặc rất hay viết về mẹ,
như những bài của Lưu Trọng Lư, Du Tử Lê…, những ca từ trong ca khúc Trịnh Công
Sơn. Đọc kỹ đó là những bài thơ về tình mẫu tử, thậm chí viết về thân phận của nhà thơ đặt
trong bối cảnh của tình mẫu tử, và đôi khi, của đất nước quê hương, hơn là cảm xúc trực
tiếp của tác giả trước mối quan hệ mẹ và con. Người đọc ít khi tìm thấy ở đó chân dung
giản dị của một người phụ nữ, hạnh phúc và bất mãn, những cay đắng và giận dữ, sự bất
hoà có tính gia đình vốn là chuyện cơm bữa trong đời sống của người Việt Nam. Ở đó ta
không thấy được sự khác nhau giữa một người mẹ hai mươi tuổi và một người mẹ bảy
mươi tuổi, và sự khác nhau trong tình cảm của một đứa con lúc mười tuổi và khi nó đã lớn
lên, tóc đã bạc.
Những mối quan hệ khác trong gia đình, giữa bạn bè, ở chỗ làm, giữa người trên và người
dưới, giữa những đồng nghiệp ngang hàng, không những có thật mà còn quyết định hầu hết
diện mạo đời sống chúng ta. Chúng là những động lực vô thức đằng sau các hành vi cá
nhân và hành vi công dân, ở học sinh và thầy giáo, ở bệnh nhân và thầy thuốc, những
người lao công cầm chổi quét đường và những người đứng đầu các chính phủ. Sự tấn công
của thơ vào bóng tối sau lưng đời sống mỗi người là nguồn gốc của sự nghi ngại, thậm chí
ghét bỏ, đối với thơ ca, ở một số người, không đủ can đảm phơi mở các vết thương tâm

đọc thơ thường chỉ đọc, hoặc đọc một cách diễn cảm, chứ không thể ngâm. Đó là ưu điểm,
nhưng cũng là hạn chế lớn của thơ Việt Nam. Đám đông độc giả đã quen với hình thức thơ
dễ nhớ, dễ ngâm và hát, như một loại hình văn học truyền miệng. Sức mạnh của các con
chữ, được chọn chính xác, và được đặt trong một trật tự đẹp nhất, đã không được chú ý.
Những nhà thơ hiện nay của chúng ta, kiệt sức vì những cuộc tranh luận vô bổ, một đằng
cố bảo vệ đến cùng những giá trị truyền thống theo thói quen của họ, một đằng cố phá
phách vượt ra khỏi những xiềng xích cũ, đôi khi, hoặc thường khi, quên đi rằng giá trị của
thơ hoàn toàn tuỳ thuộc vào mối quan hệ tâm linh, thậm chí thần bí, giữa người đọc, người
nghe và người viết. Dù nhiều tác giả tuyên bố rằng, họ không làm thơ, hoặc thơ của họ
không viết cho người khác, thì bản chất của vấn đề vẫn nằm ở chỗ thơ trước hết là sự diễn
cảm và biểu hiện của đời sống tâm hồn, và như thế tức là lời kêu gọi sự tương tác giữa chủ
thể người làm thơ và thế giới bên ngoài.
Một tình cảm không chân thật, không gây được tiếng dội (echo) trong lòng người khác.
Cũng như trong vũ trụ, những tương tác vật lý xảy ra trên nền của những tấm thảm dệt đầy
giọng điệu hài hoà, những bài thơ không thành công có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng
bắt đầu trước hết là sự không hoà hợp về âm nhạc, mà cội rễ là sự không chân thật về xúc
cảm. Nói cách khác, những xúc cảm không chân thật thật ra vốn không hiện hữu. Điều này
không liên hệ gì với việc thành công hay thất bại của một tập thơ về mặt thị trường. Các
chỉ số hời hợt như số lượng được bán ra của một cuốn sách, sự yêu thích nhiều hay ít của
một công chúng nào đó, thậm chí thấp kém, đối với một tác giả, sự "lăng xê" của một vài
tờ báo hoặc diễn đàn dựa trên sự quen biết phi văn học, không phải là điều mà chúng ta
đang bàn ở đây. Dù số lượng độc giả ít hay nhiều, một tình cảm thơ ca chân thật, sau khi
len lỏi qua nhiều năm tháng như hạt mầm im ả trong mạch đất sâu xa, thế nào cũng tìm
được cách ngoi lên giữa tiết xuân hoa cỏ dạt dào, khi từ các sườn núi cao, con suối đóng
băng bắt đầu vỡ ra từng mảnh, chuyển mình đi trong đêm tối. Các bài thơ thành công bao
giờ cũng tìm được cho mình một công chúng độc giả nhất định. Khi nói rằng các hình thức
thể thơ không quan trọng, người viết không có ý cho rằng các khám phá mới lạ là vô ích.
Sự thật thì ngược lại.
Chính ra là những tình cảm mới trong không khí của một xã hội mới, hiển nhiên phải tìm
thấy cho nó những nốt nhạc mới và dàn nhạc mới. Những người làm thơ có vần có thể

Nhưng tôi không có một ảo tưởng nào về đám đông: vẫn còn tỉnh táo để nhận ra một vài
phụ nữ lấy tay che miệng ngáp, và một vài người mở cửa ra về giữa hai câu thơ của một
nhà thơ đang nhắm mắt ngước lên trời.
Nhiều năm về trước nữa, trong một chuyến đi cắm trại mùa hè ở giữa rừng rậm Canada,
phía bắc Toronto, giữa sương mù cao nguyên càng về đêm càng dày đặc như một bàn tay
khô lạnh ấn năm ngón tay lên má mình, bên đống lửa trại bằng củi thông và tùng bách nổ tí
tách bập bùng, tôi được nghe nhà thơ Đỗ Quyên đọc diễn cảm toàn bộ mấy chương dài
trong tập trường ca của anh, trên nền tiếng đàn guitare của một chàng nhạc sĩ trẻ tuổi. Tôi
ngắm nhìn khuôn mặt tĩnh lặng thanh bình của những người ngồi nghe đọc thơ đêm đó, và
hiểu ra rằng thơ vẫn còn chỗ ở dù nhỏ nhoi trong tâm hồn họ, và nếu các nhà thơ biết được
các phương cách hữu hiệu, chắc rằng họ có thể khai phá những chỗ ở ấy, làm cho chúng
lớn lên, xây được những căn nhà tráng lệ hay những túp lều như túp lều của nhà thơ haiku
Nhật Bản Basho.
4. Vô thức và cảm hứng
Vô thức là những hoạt động tinh thần mà chúng ta không thể nhận thức ra được. Trong tác
phẩm nổi tiếng của mình, Diễn dịch các giấc mơ, Freud lần đầu tiên đề nghị khái niệm vô
thức (unconscious) để phân biệt với ý thức (conscious) và tiềm thức (preconscious), sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status