ĐỀ TÀI:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế phát triển hiện nay, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự
phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật đã tác động mạnh mẽ và tạo ra sự
thay đổi lớn lao đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng ta luôn coi Giáo dục
là quốc sách hàng đầu. Trước yêu cầu đổi mới của thời đại, đòi hỏi ngành Giáo
dục phải đổi mới toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học để giải
quyết những vấn đề cấp bách đặt ra.Việc đổi mới giáo dục luôn được Đảng và
Nhà nước quan tâm và được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ( tại Hội
nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI).
Trong mấy năm gần đây, vấn đề dạy học trong nhà trường phổ thông đã có
sự chuyển biến mạnh mẽ từ hướng dạy học nội dung sang dạy học phát triển
năng lực. Với các thầy cô dạy Tiếng Việt ở tiểu học, bên cạnh việc phải thay đổi
phương pháp dạy học còn cần biết hướng dẫn HS rèn luyện nhằm phát triển
năng lực đọc, viết, nói nghe. Vì vậy cho nên ngoài việc học tập theo sự hướng
dẫn của thầy cô, các em còn phải rèn luyện thông qua hệ thống các bài tập để
năm chắc nội dung đã học. Hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lực
chính là công cụ để học sinh luyện tập nhằm hình thành năng lực và là công cụ
để giáo viên và các cán bộ quản lý giáo dục kiểm tra, đánh giá năng lực của học
sinh và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học.
Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà người
giáo viên cần thực hiện. Vì vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cần
phải thay đổi quan niệm và biết cách xây dựng các bài tập định hướng phát triển
năng lực.
Xuất phát từ những lí do trên nên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:" Xây
dựng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực"
làm nội dung nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Phương pháp quan sát, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng cách thức
xây dựng và vận dụng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướng
phát triển năng lực.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của đề
tài.
2
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Thế nào là đánh giá năng lực
Đánh giá năng lực là đánh giá các kỹ năng nhận thức và xã hội, kỹ năng
hợp tác và các năng lực sáng tạo, các phong cách tư duy khác nhau... Điều này
có nghĩa là đánh giá theo chiều rộng.
Đánh giá năng lực không chỉ là yêu cầu sự nhắc lại (kỹ năng tư duy bậc
thấp), mà là các kỹ năng học tập, kỹ năng xây dựng kiến thức và kỹ năng ứng
dụng (kỹ năng tư duy bậc cao). Điều này có nghĩa là đánh giá theo chiều sâu.
Đánh giá năng lực thông qua các sản phẩm của hoạt động học và quá trình
học.
Chú ý đến tiềm năng của học sinh như: Cách học sinh quan sát, nhận biết
sự việc, nhận thức về một vấn đề như thế nào? Khả năng trực giác thế nào?
Phong cách tư duy của học sinh là gì? Học sinh nhận xét thế nào? Học sinh có
ưu điểm gì trong hoạt động học? Trong việc hợp tác với các học sinh khác?
1.2. Mục tiêu chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học
1.2.1.Mục tiêu chung của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (đọc,
- Biết nói rõ ràng, mạch lạc; biết trình bày một cách thuyết phục và bảo vệ
quan điểm cá nhân, có tính đến quan điểm của người khác trong giao tiếp.
- Hiểu ý kiến người khác trong giao tiếp thông thường; chắt lọc được thông
tin quan trọng, bổ ích từ bài thuyết trình, các cuộc đối thoại, thảo luận, tranh
luận và có phản hồi linh hoạt phù hợp.
1.2. Xây dựng hệ thống bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho học
sinh trong môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.
1.2.1. Tiếp cận bài tập định hướng phát triển năng lực
Những hạn chế của việc xây dựng bài tập truyền thống
Các nghiên cứu thực tiễn về bài tập trong dạy học đã rút ra những hạn chế
của việc xây dựng bài tập truyền thống như sau:
- Tiếp cận một chiều, ít thay đổi trong việc xây dựng bài tập, thường là những
bài tập đóng.
- Thiếu về tham chiếu ứng dụng, chuyển giao cái đã học sang vấn đề chưa
biết cũng như các tình huống thực tiễn cuộc sống.
- Kiểm tra thành tích, chú trọng các thành tích nhớ và hiểu ngắn hạn.
- Quá ít ôn tập thường xuyên và bỏ qua sự kết nối giữa cái đã biết và cái mới.
- Tính tích lũy của việc học không được lưu ý đến một cách đầy đủ…
Những ưu điểm của việc xây dựng bài tập theo định hướng phát
triển năng lực
4
- Trọng tâm không phải là các thành phần tri thức hay kỹ năng riêng lẻ mà là
sự vận dụng có phối hợp các thành tích riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đề
mới đối với người học.
- Tiếp cận năng lực không định hướng theo nội dung học trừu tượng mà luôn
theo các tình huống cuộc sống của HS, theo “thử thách trong cuộc sống”. Nội
dung học tập mang tính tình huống, tính bối cảnh và tính thực tiễn.
- Được trình bày rõ ràng.
- Có ít nhất một lời giải.
- Với những dữ kiện cho trước, HS có thể tự lực giải được.
- Không giải qua đoán mò được.
Theo chức năng lý luận dạy học, bài tập có thể bao gồm: Bài tập học
và bài tập đánh giá (thi, kiểm tra):
- Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức
mới, chẳng hạn các bài tập về một tình huống mới, giải quyết bài tập này
để rút ra tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụng
kiến thức đã học.
- Bài tập đánh giá: Là các kiểm tra ở lớp do giáo viên ra đề hay các đề tập
trung như kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển.
Thực tế hiện nay, các bài tập chủ yếu là các bài luyện tập và bài thi, kiểm
tra. Bài tập học tập, lĩnh hội tri thức mới ít được quan tâm. Tuy nhiên, bài tập
học tập dưới dạng học khám phá có thể giúp học sinh nhiều hơn trong làm quen
với việc tự lực tìm tòi và mở rộng tri thức.
Theo dạng của câu trả lời của bài tập “mở” hay “đóng”, có các dạng
bài tập sau:
- Bài tập đóng: Là các bài tập mà người học (người làm bài) không cần tự
trình bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước. Như vậy trong
loại bài tập này, GV đã biết câu trả lời, HS được cho trước các phương án có thể
lựa chọn.
- Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả giáo
viên và học sinh (người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là
“mở”. Chẳng hạn giáo viên đưa ra một chủ đề, một vấn đề hoặc một tài liệu, học
sinh cần tự bình luận, thảo luận về đề tài đó. Các đề bài bình luận văn học không
yêu cầu học theo mẫu, học sinh tự trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luận
của mình là các ví dụ điển hình về bài tập mở.
Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của các nhân và không có một
lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho
- Có mức độ khó khác nhau.
- Mô tả tri thức và kỹ năng yêu cầu.
- Định hướng theo kết quả.
b. Hỗ trợ học tích lũy
- Liên kết các nội dung qua suốt các năm học.
- Làm nhận biết được sự gia tăng của năng lực.
- Vận dụng thường xuyên cái đã học.
7
c. Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập
- Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân.
- Tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân.
- Sử dụng sai lầm như là cơ hội.
d. Xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn
- Bài tập luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở.
- Thay đổi bài tập đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây
dựng tri thức thông minh).
- Thử các hình thức luyện tập khác nhau.
e. Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp
- Tăng cường năng lực xã hội thông qua làm việc nhóm.
- Lập luận, lí giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức.
f. Tích cực hóa hoạt động nhận thức
- Bài tập giải quyết vấn đề và vận dụng.
- Kết nối với kinh nghiệm đời sống.
- Phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề.
g. Có những con đường và giải pháp khác nhau
- Nuôi dưỡng sự đa dạng của các con đường, giải pháp.
- Đặt vấn đề mở.
- Độc lập tìm hiểu.
- Nhận biết lại cái gì đã học theo cách thức không
thay đổi.
- Tái tạo lại cái đã học theo cách thức không thay
đổi.
- Hiểu và vận dụng - Phản ánh đúng bản chất, ý nghĩa cái đã học.
- Nắm bắt ý nghĩa - Vận dụng các cấu trúc đã học trong tình huống
tương tự.
- Vận dụng
3. Tạo thông Xử lí, giải quyết
tin
vấn đề
- Nghiên cứu có hệ thống và bao quát một tình
huống bằng những tiêu chí riêng.
- Vận dụng các cấu trúc đã học sang một tình
huống mới.
Đánh giá một hoàn cảnh, tình huống thông qua
những tiêu chí riêng
Dựa trên các bậc nhận thức và chú ý đến đặc điểm của học tập định
hướng phát triển năng lực, có thể xây dựng bài tập theo các dạng:
- Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức. Bài tập tái
hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng phát triển năng lực.
- Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các
tình huống không thay đổi. Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn
luyện kỹ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo.
- Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng
hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải
nhận biết được. Trên cơ sở đó ta xây dựng 1 nhiệm vụ trong đó có yêu cầu HS
thực hiện thao tác (thao tác tư duy, hoặc thao tác tay chân) đó. Trên cơ sở quan
sát trực tiếp thao tác hoặc kết quả đạt được của thao tác để đánh giá mức độ đạt
được thành tố năng lực cần đánh giá của HS.
+ Cách 2: Xây dựng bài tập rồi mới xác định xem bài tập đó giúp đánh giá
được những năng lực thành phần nào trong bảng trên: Với cách xây dựng này ta
sẽ sử dụng các bài tập đã có sau đó đánh giá xem để thực hiện nhiệm vụ của bài
tập đó thì HS sẽ hình thành và phát triển năng lực gì. Với biện pháp này ta có thể
tận dụng hệ thống bài tập sẵn có để đánh giá kiến thức và một số năng lực thành
tố trong việc vận dụng kiến thức toán. Yêu cầu đặt ra là cần xây dựng hệ thống
bài tập mới trong đó có yêu cầu HS huy động tới các thành tố năng lực khác.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Mục tiêu môn Tiếng Việt lớp 3
Mục tiêu của môn Tiếng Việt của tiểu học ở lớp 3 là:
10
- Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
- Thông qua việc dạy - học môn Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác
tư duy.
- Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết
sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và
nước ngoài.
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
2. Cấu trúc chương trình
SGK Tiếng Việt 3 (2 tập) gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ
điểm, học trong 2 tuần (trừ chủ điểm Ngôi nhà chung học trong 3 tuần). Mỗi đơn
9
Bảo vệ Tổ quốc
10
Sáng tạo (Hoạt động khoa học; Trí thức)
11
11
12
13
14
15
Nghệ thuật
Lễ hội
Thể thao
Ngôi nhà chung (Các nước ; Một số vấn đề toàn cầu : hoà bình, hữu
nghị, hợp tác, bảo vệ môi trường)
Bầu trời và mặt đất (Các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ ; Con người
với thiên nhiên, vũ trụ)
3.Các phân môn trong SGK Tiếng Việt lớp 3 thể hiện chủ điểm như thế
nào?
- Với phân môn Tập đọc: Các bài tập đọc (thơ, truyện kể, văn bản miêu tả,
văn bản khoa học, văn bản hành chính, thư từ...) đều có nội dung phù hợp với
chủ điểm. Câu hỏi tìm hiểu bài cũng nhằm vào những vấn đề liên quan giúp HS
hiểu chủ điểm sâu hơn.
-Với phân môn Kể chuyện: chương trình Tiếng Việt lớp 3 không có tiết
Kể chuyện riêng mà bố trí trong bài Tập đọc hai tiết ở đầu mỗi tuần. Nội dung
truyện kể chính là những câu chuyện các em vừa học trong bài tập đọc. Bên
lực.
Số lượng giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu trên Internet liên quan đến
dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực ngày càng
nhiều là cơ sở để giáo viên có thể tham khảo, kế thừa, thiết kế, sáng tạo
các dạng bài tập sao cho phù hợp với mục tiêu dạy học theo định hướng
phát triển năng lực.
2. Khó khăn
Số lượng học sinh thụ động trong học tập còn nhiều nên việc thực hiện
yêu cầu của một số dạng bài tập chưa tốt.
Hiện nay chương trình giáo dục Tiểu học vẫn còn rất nhiều áp lực về nội
dung chương trình, thời lượng…Hơn nữa, ở trường tiểu học hiện nay còn
nặng về các loại hồ sơ sổ sách, điều này khiến giáo viên không có nhiều
thời gian để dành cho việc xây dựng bài giảng, hệ thống bài tập cũng như
việc tìm tòi ứng dụng các phương pháp giảng dạy tích cực.
Ngoài ra, việc xây dựng hệ thống bài tập theo định hướng phát triển năng
lực trong môn Tiếng Việt có phù hợp và đem lại hiệu quả hay không còn
phụ thuộc vào trình độ, năng lực tổ chức các hoạt động học tập của giáo
viên.
CHƯƠNG II. XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Trong chương trình SGK Tiếng Việt lớp 3 hiện nay, hệ thống bài tập chủ
yếu được xây dựng dưới dạng bài tập truyền thống. Tức là hệ thống bài tập mới
chỉ chú ý đến việc kiểm tra thành tích, chú trọng các thành tích nhớ và hiểu ngắn
hạn; bài tập thường mang tính tiếp cận một chiều, thường là những bài tập đóng;
bài tập chưa mang tính ứng dụng nhiều và tính tích lũy của việc học không được
thể hiện một cách đầy đủ…Hệ thống bài tập trong chương trình SGK hiện nay
chưa chú ý vấn đề đánh giá năng lực của HS và độ phân hóa chưa cao. Vì vậy
cho nên, trong nội dung đề tài này, vấn đề xây dựng hệ thống bài tập môn Tiếng
13
xây dựng đựa trên hệ thống câu hỏi SGK hiện hành nhưng có điều chỉnh và bổ
sung thêm một số bài tập theo định hướng phát triển năng lực. Theo đó những
dạng bài tập nhận biết, tái hiện đơn thuần sẽ không còn nữa, mà thay thế vào đó
sẽ là các bài tập mang tính giải thích, đánh giá, hồi đáp của HS, bài tập đánh giá
và vận dụng vào những tình huống cụ thể.
4.Xác định và mô tả các mức yêu cầu cần đạt của các loại câu hỏi/bài tập
đánh giá năng lực của học sinh trong chủ đề theo hướng chú trọng đánh giá
14
kĩ năng thực hiện của học sinh (Thiết kế ma trận thể hiện các tiêu chí đánh
giá kĩ năng).
MA TRẬN HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHỦ ĐỀ “MÁI ẤM”
(Áp dụng trong dạy học buổi 2 môn Tiếng Việt lớp 3 tuần 4)
Cấp độ
Nội dung
Đọc hiểu
Viết
Nói, nghe
Vận dụng
Nhận biết
Thông hiểu
Câu 1,2:
gì?
Câu 1: Biết
sử dụng dấu
chấm, phẩy
và viết hoa
sau dấu
chấm.
Cấp độ thấp
Câu 5: Tìm
được các từ
chỉ sự vật.
Câu 2: Phân
tích
được
các hình ảnh
so sánh.
Câu 3:
Biết
vận
dụng đặt câu
có sử dụng
phép tu từ so
sánh.
- Xác định Biết dùng
Vận dụng
được chủ đề ngôn ngữ
những kiến
-nghe.
5. Xây dựng tiến trình tổ chức hoạt động dạy học chủ đề nhằm hướng tới
những năng lực đã xác định.
Nội dung này được thể hiện chi tiết trong giáo án dạy thực nghiệm.
II. Hệ thống bài tập chủ đề “Mái ấm” theo định hướng phát triển năng lực
(áp dụng cho dạy học buổi 2 môn Tiếng Việt lớp 3 tuần 4).
Đọc hiểu: Đọc bài “Người phụ nữ đẹp nhất” và thực hiện các yêu cầu
dưới đây:
Buổi tối người mẹ cùng cậu con trai lên tám đọc tờ Tạp chí truyền hình để
chọn chương trình xem ti vi.
- Có một cuộc thi hoa hậu này! Người mẹ phấn khởi nói với con trai.
Cậu con trai liền hỏi mẹ thi hoa hậu là gì, người mẹ giải thích cho con
rằng đó là cuộc thi để chọn ra người phụ nữ đẹp nhất và tốt bụng nhất.
Người mẹ vô cùng xúc động khi cậu con trai ngạc nhiên hỏi:
-Mẹ ơi, sao mẹ không tham dự cuộc thi đó?
(Thu Hà)
Câu 1: Trong câu chuyên, người mẹ phấn khởi vì điều gì? (Khoanh tròn vào
chữ cái trước ý đúng)
A. Vì có một cuộc thi hoa hậu.
B. Vì có tờ tạp chí truyền hình.
C. Vì có một chương trình ti vi mới.
Câu 2: Người mẹ giải thích cho cậu con trai như thế nào về cuộc thi hoa hậu?
A. Đó là cuộc thi chọn ra người phụ nữ đẹp nhất.
B. Đó là cuộc thi chọn ra người phụ nữ tốt bụng nhất.
C. Đó là cuộc thi chọn ra người phụ nữ đẹp nhất và tốt bụng nhất.
Câu 3: Vì sao người mẹ cảm thấy xúc động khi con trai hỏi lí do mẹ không
tham gia cuộc thi hoa hậu?
Từ so sánh
Sự vật so sánh
M: a, Ông trăng
Tròn
Như
quả bóng
b, ……………..
…………………
…………………
…………………
c, ……………..
…………………
…………………
…………………
d, ……………..
II. GIÁO ÁN DẠY THỰC NGHIỆM
GIÁO ÁN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 TUẦN 4
CHỦ ĐỀ: MÁI ẤM
I) Mục đích, yêu cầu
- Đọc rành mạch, trôi chảy.
18
- Hiểu ý nghĩa câu chuyện: Với con, mẹ luôn là người đẹp nhất, dịu hiền và tốt
bụng nhất..
- Biết sử dụng dấu chấm, dấu hỏi và viết hoa sau dấu chấm.
- Ôn tập về biện pháp tu từ so sánh. Biết vận dụng để đặt câu có sử dụng biện
pháp so sánh.
- Ôn tập về kiểu câu Ai là gì?: Nhận diện được kiểu câu Ai là gì?
- Viết được đoạn văn/ bài văn thể hiện tình cảm của bản thân với người thân
trong gia đình.
- Xác định được chủ đề cần nói và tự tin khi nói.
- Rèn tư duy logich,tư duy tượng hình bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách
cho học sinh.
- Giáo dục giá trị sống cho học sinh: Yêu thương, quan tâm, chăm sóc những
người xung quanh.
II) Đồ dùng dạy học
- Tranh ảnh có liên quan đến nội dung bài học.
- Bảng phụ
- Phiếu học tập ( các bài tập trong bài được thiết kế dưới dạng phiếu học
tập để HS làm việc cá nhân hoặc thảo luận nhóm)
III) Các phương pháp, kĩ thuật dạy học chủ yếu
- Vấn đáp
- Giải quyết vấn đề
- Thảo luận nhóm
GV nhận xét.
GV chia nhóm và cho HS thảo luận bài HS thảo luận theo nhóm và trình
tập 3, 4.
bày kết quả trước lớp.
(B; Vì với người con, mẹ luôn là
người đẹp nhất, đáng yêu nhất, tốt
bụng nhất.)
GV nhận xét và liên hệ thực tế.
GV yêu cầu HS làm việc cá nhân để HS làm bài tập theo yêu cầu.
hoàn thành bài tập 5
(cánh đồng, tấm thảm, bóng người,
GV kết luận và liên hệ giáo dục giá trị ruộng, bờ, con chim chìa vôi)
sống cho HS.
Hoạt động 2: Viết
- GV yêu cầu HS làm việc cá nhân để hoàn thành bài tập 1.
- HS làm bài tập theo yêu cầu.
(Em còn nhớ mãi buổi đầu tiên đến trường. Đó là một buổi sáng mùa
thu mát mẻ. Em xúng xính trong bộ quần áo mới với chiếc cặp sau lưng hớn
20
hở theo mẹ đến trường. Trên con đường làng nhiều bạn cũng đang được bố mẹ
đưa tới lớp. Cổng trường kia rồi! Mấy anh chị lớp trên đang tíu tít trò chuyện,
vui đùa.)
GV chia nhóm và yêu cầu HS làm việc theo nhóm để hoàn thành bài tập số 2.
HS làm việc theo nhóm để hoàn thành bài tập theo yêu cầu.
Sự vật được
như
tiếng đàn
d, Giọt sương
long lanh
là
giọt sương đêm
Việc sử dụng biện pháp so sánh như HS trả lời.
vậy có tác dụng như thế nào?
GV kết luận.
GV chia đội chơi và tổ chức cho HS HS tham gia trò chơi và hoàn thành
tham gia trò chơi Ai nhanh hơn để hoàn bài tập theo yêu cầu.
thành bài tập 3,4.
GV tổ chức cho HS tham gia cuộc thi
“Tấm thiệp yêu thương”
+ HS sẽ sử dụng giấy thủ công hoặc
HS tham gia cuộc thi dưới sự hướng
màu để làm một tấm thiệp.
dẫn của GV.
+ GV cho HS nghe bài hát Mẹ yêu ơi
HS cả lớp nhắm mắt, thả lỏng và
hoặc bài hát Nhật kí của mẹ.
lắng nghe bài hát.
+ Trên tấm thiệp HS sẽ viết lên những
- Câu hỏi 1,2,3 (trang 33 – SGK Tiếng Việt 3 tập 1).
- Bài tập 3 (trang 33 – SGK Tiếng Việt 3 tập 1).
- Bài tập 2 (trang 35 – SGK Tiếng Việt 3 tập 1).
Kết quả kiểm tra khảo sát chất lượng đầu vào thu được như sau:
Tổng
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
số bài
Số bài Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ
36
%
%
%
%
3
8,3
11
30,5
18
50,0
4
11,2
2. Chất lượng khảo sát sau khi thực nghiệm
22
Yếu
Số bài
1
Tỉ lệ
%
2,8
3. Đánh giá kết quả thực nghiệm
Qua quan sát quá trình học tập, trò chuyện với HS và so sánh kết quả giữa 2
lần kiểm tra của HS, tôi thấy kết quả có nhiều khả quan. Việc xây dựng và áp
dụng hệ thống bài tập theo định hướng phát triển năng lực vào trong dạy học
môn Tiếng Việt lớp 3, HS tỏ ra thích thú và tích cực tham gia các hoạt động.
Việc thiết kế các bài tập theo chủ đề từng tuần với hình thức tiện lợi, gọn nhẹ,
vui và đặc biệt là giúp các em phát triển tốt năng lực trong môn học này. Đối với
các em học lực khá, giỏi tỏ ra phấn khích và thích thử thách với những câu hỏi
vận dụng và đặc biệt là câu hỏi vận dụng cao. Còn đối với các em có học lực
yếu, trung bình cũng cảm thấy khá vui vẻ, nhẹ nhàng khi nhận nhiệm vụ vì có
rất nhiều bài tập vừa sức với khả năng của các em. Hơn nữa việc phối hợp linh
hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học giúp cho HS hứng thú với giờ học.
Các em tự giác, sôi nổi khi nhận nhiệm vụ học tập. Cùng với sự hỗ trợ kịp thời
của GV và việc vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp và kĩ thuật dạy
học tích cực đã nâng cao hơn chất lượng giờ học môn Tiếng Việt lớp 3 của HS.
Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ HS được đánh giá giỏi, khá tăng và tỉ lệ yếu và
trung bình giảm đáng kể.
Đối với giáo viên, việc xây dựng và áp dụng hệ thống bài tập theo định
hướng phát triển năng lực vào trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 3 sẽ giúp đánh
giá sát hơn năng lực của HS, vì hệ thống bài tập được xây dựng có sự phân hóa
rõ ràng theo các mức độ. Hơn nữa việc xây dựng hệ thống bài tập theo định
1. Đối với giáo viên
- Giáo viên trong tổ cần thường xuyên sinh hoạt chuyên môn hơn để trao
đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong việc xây dựng hệ thống bài tập môn
Triếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cũng như các phương pháp, kĩ
thuật dạy học và hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm tích cực hóa quá
trình học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực.
- Giáo viên cần đầu tư nhiều thời gian, công sức trong công tác chuẩn bị
lên lớp, cần nghiên cứu dự kiến xây dựng các dạng bài tập phù hợp với mục tiêu
bài học và đối tượng học sinh.
- Ngoài ra, giáo viên cần nghiên cứu tùy theo trình độ nhận thức của học
sinh, điều kiện thực tế ở địa phương để xây dựng bài tập sao cho phát huy được
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Trong quá trình dạy học, giáo viên cần yêu cầu học sinh nghiêm túc
24
trong học tập và thường xuyên kiểm tra công tác chuẩn bị học tập của học
sinh ở nhà, phải chuẩn bị các phiếu theo dõi quá trình học tập của học sinh làm
cơ sở cho quá trình kiểm tra đánh giá được khách quan hơn, tạo động cơ học tập
tốt cho học sinh.
2. Đối với các cấp quản lí
- Cần có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên cho Gv. Cần phổ
biến và nhân rộng các đề tài nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm tiêu biểu về
môn Tiếng Việt để GV có điều kiện giao lưu, học hỏi.
- Cần tổ chức nhiều chuyên đề về môn Tiếng Việt và nhất là những chuyên
đề về xây dựng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển
năng lực, chuyên đề kiểm tra đánh giá môn Tiếng Việt theo định hướng phát
triển năng lực để GV có điều kiện học tập.
- Các cấp có thẩm quyền cần tạo điều kiện để đảm bảo điều kiện về cơ sở
vật chất để việc tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực đạt hiệu