Các yếu tố ảnh hưởng đến bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG THANH SƠN

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẤT CÂN
XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG THANH SƠN

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẤT CÂN
XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ



LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này của
mình, cụ thể:
Tôi tên là: Đặng Thanh Sơn
Sinh ngày: 01/04/1991 tại: Bình Dương
Hiện công tác tại: Agribank thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Tôi là học viên cao học khóa 18 của Trường Đại học Ngân hàng TPHCM.
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Cam đoan đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến bất cân xứng thông tin trên
thị trường chứng khoán Việt Nam”
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Hoàng Vinh
Được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TPHCM.
Tác giả xin cam đoan luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị
thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào. Luận văn này là công trình nghiên cứu
riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung
đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các
trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn.
Tôi xin hoàn toàn chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi.
TP.HCM, ngày 29 tháng 10 năm 2018
Tác giả

Đặng Thanh Sơn


LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến TS. Lê Hoàng Vinh, người đã tận tình
hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn, người đã cho tôi nhiều góp ý
quan trọng trong thời gian thực hiện đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến bất cân xứng
thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.

2.1.1. Nghiên cứu lý thuyết nền tảng về bất cân xứng thông tin........................10
2.1.2. Các khái niệm về bất cân xứng thông tin .................................................12
2.1.3. Hệ quả của bất cân xứng thông tin ...........................................................12
2.1.4. Ảnh hƣởng của bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán ......14
2.1.5. Định hƣớng chung nhằm hạn chế bất cân xứng thông tin........................14
2.1.6. Cơ sở lý thuyết các yếu tố ảnh hƣởng đến bất cân xứng thông tin trên thị
trƣờng chứng khoán............................................................................................16
2.2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU .............................................................20
2.2.1. Lƣợc khảo các nghiên cứu .......................................................................20
i


2.2.2. Thảo luận các nghiên cứu .........................................................................25
Chƣơng 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..........................................................27
3.1. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................27
3.2. MẪU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU .............................................................28
3.2.1. Mẫu nghiên cứu ........................................................................................28
3.2.2. Dữ liệu nghiên cứu ...................................................................................29
3.3. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU ........................................................................30
3.4. LỰA CHỌN MÔ HÌNH .................................................................................32
3.4.1. Mô hình xác định mức độ bất cân xứng thông tin ...................................32
3.4.2. Mô hình xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ bất cân xứng thông
tin ........................................................................................................................32
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................................38
4.1. MỨC ĐỘ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM ............................................................................................38
4.1.1. Kết quả hồi quy mô hình ..........................................................................38
4.1.2. Kiểm định khuyết tật của mô hình ...........................................................40
4.1.3. Kết quả hồi quy khắc phục khuyết tật của mô hình .................................40
4.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN


Diễn giải
bất cân xứng thông tin

ASC

thành phần lựa chọn ngƣợc

FEM

mô hình tác động cố định

HNX

sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HOSE

sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh

M&M

lý thuyết nghiên cứu về chính sách cổ tức của M.H Miller
và Mocligliani

NYSE

sở giao dịch chứng khoán New York

REM

Bảng 4.16 Kết quả mô hình sau khi xử lý phƣơng sai sai số thay đổi ......................57
Bảng 4.17 Kết quả hồi quy mô hình trên HNX sau khi xử lý các khuyết tật ...........58

v


DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1 Khung tiếp cận nghiên cứu ..........................................................................6
Hình 3-1 Quy trình nghiên cứu .................................................................................30

vi


1

Chƣơng 1: GIỚI THIỆU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT VÀ LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Thị trƣờng tài chính nói chung và thị trƣờng chứng khoán nói riêng là kênh lƣu
chuyển vốn trong nền kinh tế; mức độ hiệu quả của thị trƣờng càng cao, dòng vốn
luân chuyển càng nhanh, dẫn đến hiệu suất sử dụng vốn tăng góp phần làm tăng
năng suất lao động, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trên thực tế, thị trƣờng tài chính
không hoàn hảo, một trong các thƣớc đo mức độ hiệu quả của thị trƣờng là chất
lƣợng thông tin đƣợc phản ánh trong giá của các tài sản tài chính.
Theo lý thuyết kinh tế học vi mô, bất cân xứng thông tin (Asymmetric
information) là trƣờng hợp trong đó ngƣời mua và ngƣời bán sở hữu các mức độ
khác nhau về mặt thông tin (Robert Pindyck và Daniel Rubinfeld, 2009). Việc bất
bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin dẫn đến hai hệ quả chính trên thị trƣờng là
lựa chọn ngƣợc (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard).
Nghiên cứu về bất cân xứng thông tin đƣợc đề cập lần đầu tiên vào năm 1970
bởi George Akerlof; trong bài báo viết năm 1970 có tựa đề “The Market Lemons”,

khoán khi các nhà đầu tƣ hành động theo số đông, mua vào khi nhiều ngƣời mua
vào và bán ra khi nhiều ngƣời bán ra (vì khi thiếu thông tin, một cá nhân sẽ có xu
hƣớng tin theo đám đông vì nghĩ rằng nhiều ngƣời sẽ đúng), điều này tạo ra cung
cầu ảo trên thị trƣờng, ảnh hƣởng lên giá chứng khoán, gây ra thiệt hại bất thƣờng
cho nhà đầu tƣ.
- Giao dịch nội gián khi một bộ phận nhỏ nắm bắt đƣợc trƣớc thông tin tiến
hành thực hiện các giao dịch có lợi cho mình, từ đó làm ảnh hƣởng đến quyền lợi,
sự công bằng của các nhà đầu tƣ trên thị trƣờng.
- Công bố thông tin sai, vi phạm công bố thông tin diễn ra tƣơng đối thƣờng
xuyên trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Tuy nhiên để đánh giá mức độ bất cân xứng thông tin cũng nhƣ xác định các
yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ bất cân xứng thông tin một cách cụ thể, cần lƣợng
hóa các dữ liệu thu thập đƣợc. Một trong các mô hình đánh giá mức độ bất cân
xứng thông tin thƣờng đƣợc sử dụng là mô hình của Glosten và Harris (1988) 2 và

2

Glosten, L. R., and Harris, L. E. (1988). Estimating the components of the Bid-Ask Spread.Journal of
Finamcial Economics, 21 (1), 123-142.


3

mô hình thƣờng dùng để xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ bất cân xứng
thông tin là mô hình của Van Ness và các cộng sự (2001)3.
Thực trạng bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam hiện
nay gây ảnh hƣởng không nhỏ đến các nhà đầu tƣ tham gia thị trƣờng. Cụ thể:
- Việc vi phạm công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết còn nhiều,
đặc biệt là các vi phạm về chậm công bố báo cáo tài chính, báo cáo quản trị công ty.
Thông tin công bố trƣớc kiểm toán và sau kiểm toán có sự sai lệch dẫn đến quyết

nghiệp mới niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) trong năm 2014,
có 3 doanh nghiệp có mức giảm điểm liên tiếp ngay sau ngày đầu tiên giao dịch với
các mức giảm từ 12,6% đến 15,5%. 12 doanh nghiệp còn lại đều có mức tăng rất
tốt, thậm chí là tăng đột biến nhƣ mã NDF của Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm
nông sản xuất khẩu Nam Định, trong 10 phiên tăng liên tiếp, giá của mã cổ phiếu
này đã tăng tới hơn 170% so với mức giá “chào sàn”, hay mã TVC của Công ty cổ
phần Quản lý và Đầu tƣ Trí Việt sau 7 phiên tăng liên tiếp, giá đã tăng 125% 4.
Nguyên nhân tăng mạnh của các mã cổ phiếu mới này là do nhà đầu tƣ đƣợc tiếp
cận những thông tin theo hƣớng tích cực nhƣ: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp
đƣợc làm có vẻ tốt, kế hoạch hoạt động trong thời gian tới khả quan... Tuy nhiên, kỳ
vọng vào mức tăng trƣởng của các doanh nghiệp này trong tƣơng lai có thể dẫn tới
việc nhà đầu tƣ đang mạo hiểm khi theo đuổi các mức giá cao. Phần lớn các cổ
phiếu mới niêm yết chỉ có mức tăng ấn tƣợng trong một vài tháng đầu kể từ ngày
niêm yết. Sau đó, có những cổ phiếu bƣớc vào giai đoạn điều chỉnh và nhà đầu tƣ
hạn chế về thông tin sẽ là những ngƣời chịu rủi ro trong tình huống này.
- Bên cạnh các rủi ro do bất cân xứng thông tin gây ra cho nhà đầu tƣ nhƣ đã
nêu trên, không thể không nhắc đến rủi ro do các tin đồn thất thiệt trên thị trƣờng.
Đó có thể là tin đồn không có căn cứ, cũng có thể là tin chính thống nhƣng bị thổi
phồng lên do ảnh hƣởng của cách truyền đạt thông tin. Những tin đồn đó làm cho
nhà đầu tƣ bị hoảng loạn và không phân biệt đƣợc tính chính xác cũng nhƣ mức độ
ảnh hƣởng của thông tin. Thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đã chứng kiến nhiều
lần giảm điểm mạnh do các tin đồn thất thiệt. Năm 2012, thông tin ông Nguyễn Đức
Kiên - cựu thành viên HĐQT của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Á Châu (ACB) bị
bắt đã lấy đi của thị trƣờng 3,1 tỷ USD giá trị vốn hóa 5. Mặc dù sự kiện này nếu xét
về mức độ liên quan sẽ chỉ ảnh hƣởng tới một số ngành nhất định nhƣng sự sụt
4
5

Theo Dương Ngân Hà,Lý thuyết bất cân xứng thông tin-thực trạng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Theo Duy Nam, 3 ngày sau Bầu Kiên bị bắt: Chứng khoán Việt mất 65,300 tỷ đồng

trƣờng chứng khoán Việt Nam.
- Lƣợng hóa mức độ ảnh hƣởng của từng yếu tố đến bất cân xứng thông tin
trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.


6

- Kiểm định xu hƣớng và mức độ ảnh hƣởng của từng yếu tố đến bất cân xứng
thông tin trên từng sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam.
- Đƣa ra gợi ý chính sách giúp giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin
trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu đƣợc xác định ở trên, đề tài sẽ đƣợc thực hiện dựa vào
các câu hỏi nghiên cứu nhƣ sau:
- Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam ?
- Mức độ ảnh hƣởng của từng yếu tố đến bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam hiện nay nhƣ thế nào ?
- Xu hƣớng và mức độ ảnh hƣởng của từng yếu tố đến bất cân xứng thông tin
giữa các sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam có khác nhau hay không?
- Những gợi ý chính sách nào là phù hợp để giúp giảm thiểu tình trạng bất cân
xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam?
1.3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam, theo đó khung tiếp cận nghiên cứu về bất cân xứng thông tin thể hiện
qua hình 1.1.
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
LỰA CHỌN NGƢỢC

RỦI RO ĐẠO ĐỨC

nghiệp thuộc những lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.
Phạm vi nghiên cứu theo thời gian: Từ năm 2007 đến năm 2017.
1.4. ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hƣởng đến bất cân xứng
thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, kỳ vọng có những đóng góp nhƣ
sau:
Thứ nhất, đề tài cung cấp bằng chứng thực nghiệm để chứng minh mức độ bất
cân xứng thông tin hiện nay trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Theo đó đề tài


8

cung cấp tỷ lệ % về mức độ bất cân xứng thông tin hiện nay trên hai sàn giao dịch
chứng khoán HOSE và HNX trong năm 2017, các kết quả này có thể đƣợc sử dụng
làm cơ sở đánh giá về chất lƣợng công bố thông tin trên thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam hiện nay. Các nhà đầu tƣ trên thị trƣờng có thể xem đây là tham số khi
đƣa ra quyết định đầu tƣ, chẳng hạn nhƣ nên đầu tƣ cổ phiếu trên sàn giao dịch
chứng khoán nào.
Thứ hai, đề tài xác định các yếu tố chủ yếu ảnh hƣởng đến mức độ bất cân
xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Dựa vào kết quả này, ngƣời
sử dụng thông tin có thể biết những nhân tố nào cần quan tâm nhiều hơn khi đánh
giá về mức độ bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam hiện
nay cũng nhƣ khi giải quyết những vấn đề liên quan đến bất cân xứng thông tin cần
tập trung vào các nhân tố nào. Các nhà quản lý có thể dựa trên kết quả đề tài để tập
trung giải quyết những yếu tố có ảnh hƣởng trọng yếu tới tình trạng bất cân xứng
thông tin, đƣa ra những khuôn khổ pháp lý phù hợp, từ đó góp phần giảm thiểu bất
cân xứng thông tin, tạo ra sự minh bạch thông tin, công bằng hơn cho các thành
phần tham gia trên thị trƣờng chứng khoán từ đó tạo niềm tin cho thị trƣờng, làm cơ
sở cho sự phát triển ổn định và bền vững của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Thứ ba, trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài đƣa ra những kiến nghị, hàm ý

cơ sở lựa chọn mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu: dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan
nghiên cứu, lựa chọn mô hình xác định mức độ bất cân xứng thông tin và mô hình
xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ bất cân xứng thông tin; trình bày
phƣơng pháp thu thập và xử lý số liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: dựa trên các kết quả chạy mô
hình, chƣơng 4 của luận văn tiến hành (i) Đánh giá mức độ bất cân xứng thông tin
trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, (ii) Đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến bất
cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách: dựa trên kết quả nghiên cứu và thảo
luận, chƣơng này sẽ đúc rút kết luận và từ đó đƣa ra các gợi ý, khuyến nghị để giảm
thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.


10

Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC
NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ
TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
2.1.1. Nghiên cứu lý thuyết nền tảng về bất cân xứng thông tin
Lý thuyết bất cân xứng thông tin G.A.Akerlof (1970)
Theo Auronen (2003, trang 7), ngƣời đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin
bất cân xứng là G.A. Akerlof (1970). Trong quá trình nghiên cứu tình huống mua
bán xe Ô tô trên thị trƣờng, Ông cho rằng ngƣời bán xe có tính chủ động hơn đối
với ngƣời mua. Ngƣời bán có thể biết rõ đặc tính của chiếc xe mình muốn bán và
muốn bán với giá cao. G.A. Akerlof giả định rằng: xác suất để mua xe tốt là q thì
xác suất mua xe xấu là (1-q) (thị trƣờng đƣợc phân loại xe tốt và xấu). Khi đó mức
giá trung bình (P) đƣợc giả định mua xe là:
P = P1q + P2(1-q).

giữa những ngƣời lao động và ông chủ.
Lý thuyết cơ chế sàng lọc Joseph Stiglitz (1975)
Cơ chế sàng lọc của J. Stiglitz cũng là lý thuyết phát triển lý thuyết của
Michael Spence (Auronen, 2003, tr.13). Theo ông bất cứ hàng hóa nào cũng đều có
những đặc tính khác nhau nhƣ chất lƣợng khác nhau, mẫu mã khác nhau nên cần
phải phân loại chúng. Đối với lao động cũng có lao động có khả năng, tay nghề cao
và lao động có khả năng, tay nghề thấp. Vì vậy không thể trả lƣơng theo một mức
lƣơng cân bằng. Để khuyến khích ngƣời có khả năng cao, tạo ra năng suất lao động
cao thì cần phải trả lƣơng cao để khuyến khích họ. Đối với ngƣời có khả năng thấp,
việc cố gắng đạt đƣợc một mức năng suất sản xuất để nhận đƣợc lƣơng cao sẽ tốn
chi phí rất lớn so với ngƣời có khả năng cao. Vì vậy việc phân nhóm lao động để trả
lƣơng là việc làm cần thiết để khuyến khích những ngƣời có khả năng nâng cao
trình độ và mang lại hiệu quả cao cho xã hội.


12

2.1.2. Các khái niệm về bất cân xứng thông tin
Nguyễn Trọng Hoài (2006) cho rằng: “Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một
bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông
tin ở mức nào đó”.
Theo Kyle “Thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng chứng khoán xảy ra khi
một hoặc nhiều nhà đầu tƣ sở hữu đƣợc thông tin riêng” (Kyle, 1985 trích trong
Ravi, 2005) hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty (Kim và
Verrecchia, 1994 và 1997 trích trong Ravi, 2005).
Theo nhà kinh tế học Fredic S.Miskin Đại học Columbia, Hoa Kỳ: “Thông tin
không cân xứng là sự không ngang bằng về một thông tin mà mỗi bên tham gia vào
một giao dịch biết đƣợc”6.
Nhƣ vậy, bất cân xứng thông tin đƣợc hiểu và tiếp cận trong luận văn này là
trạng thái trong giao dịch có một bên nắm giữ thông tin ở mức độ tốt hơn so với bên

này sẽ biết chắc chắn giá bán trên mỗi cổ phiếu đó bao nhiêu là hợp lý. Vì ngoài
phƣơng pháp xác định giá cổ phiếu bằng giá trị tài sản, còn có phƣơng pháp xác
định giá cổ phiếu theo cổ tức. Thế nên, nếu nhà đầu tƣ không xác định chính xác cổ
tức kỳ vọng của công ty niêm yết thì sẽ định giá cổ phiếu không chính xác và nếu
định giá cao hơn giá trị thực của cổ phiếu thì sự bất lợi hoàn toàn thuộc về nhà đầu
tƣ.
Rủi ro đạo đức
Hệ quả thứ hai mà thông tin bất cân xứng gây ra là rủi ro đạo đức, nó “xuất
hiện do hành vi bị che đậy và xuất hiện sau khi ký hợp đồng” (Nguyễn Trọng Hoài,
2006). Với các hợp đồng vay ngân hàng hay bảo hiểm thì rủi ro đạo đức phát sinh
từ phía ngƣời đi vay hay đi mua bảo hiểm. Họ sử dụng tiền vay không đúng mục
đích hay do đã đƣợc bảo hiểm nên họ sẽ bất cẩn hơn so với trƣớc khi mua bảo hiểm.
Ở thị trƣờng chứng khoán, rủi ro đạo đức phát sinh nếu nhƣ những ngƣời đại diện
điều hành công ty không sử dụng nguồn vốn hiệu quả và đúng mục đích. Do tính
chất của đầu tƣ trên thị trƣờng là đầu tƣ gián tiếp nên việc quản lý, giám sát vốn đầu
tƣ của các nhà đầu tƣ phải thông qua một số ngƣời đại diện để điều hành công ty.
Rủi ro đạo đức sẽ gia tăng nếu nhƣ tỷ lệ sở hữu cổ phần của những ngƣời đại diện
thấp. Vì nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả thì trách nhiệm của họ
không cao và sự thiệt hại trên phần vốn góp là thấp. Chính vì thế, hiện nay tiêu chí
đầu tiên để những cổ đông muốn là thành viên của Hội đồng quản trị thì họ phải có
một tỷ lệ vốn góp nhất định nào đó.


14

2.1.4. Ảnh hƣởng của bất cân xứng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán
Trên thị trƣờng chứng khoán, bất cân xứng thông tin là sự không công bằng
trong giao dịch, đối tƣợng có nhiều thông tin hơn chắc chắn sẽ ra quyết định có lợi
hơn cho bản thân mình so với ngƣời khác. Mishkin (2004) đã sử dụng lý thuyết về
vấn đề lựa chọn ngƣợc để giải thích hành vi mua bán trên thị trƣờng chứng khoán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status