Sinh kế của người mường ở xã cẩm lương, huyện cẩm thủy, tỉnh thanh hóa hiện nay - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THẾ ANH

SINH KẾ CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở XÃ CẨM LƯƠNG, HUYỆN CẨM THỦY,
TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THẾ ANH

SINH KẾ CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở XÃ CẨM LƯƠNG, HUYỆN CẨM THỦY,
TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
Ngành: Nhân học
Mã số : 9 31 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Bùi Xuân Đính
2. PGS.TS. Trần Văn Thức

các nguồn tư liệu cho luận án trong các đợt điền dã từ 2015- 2017;
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ, động viên, tạo điều kiện
tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận án;
- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS. Bùi
Xuân Đính và PGS.TS. Trần Văn Thức đã tận tình chỉ bảo tôi trong việc định
hướng đề tài, tiếp cận các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, thu thập và
xử lý tư liệu, thực hiện các ý tưởng khoa học, để tôi hoàn thành tốt luận án.
Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2019
Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thế Anh


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ GIỚI THIỆU NGƯỜI MƯỜNG Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ................... 9
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu............................................................................ 9
1.1.1. Những nghiên cứu về sinh kế các tộc người ..................................................... 9
1.1.2. Nghiên cứu về người Mường và hoạt động sinh kế của người Mường ..... 18
1.2. Cơ sở lý thuyết của luận án .................................................................................. 22
1.2.1. Các khái niệm cơ bản ........................................................................................ 22
1.2.2. Cơ sở lý thuyết ................................................................................................... 28
1.3. Giới thiệu người Mường ở địa bàn nghiên cứu ................................................. 32
1.3.1.Vài nét về xã Cẩm Lương .................................................................................. 32
1.3.2. Người Mường ở xã Cẩm Lương ...................................................................... 42
Tiểu kết Chương 1…………………………………………………………... 50
Chương 2: CÁC HOẠT ĐỘNG SINH KẾ SẢN XUẤT VÀ KHAI THÁC
CÁC SẢN VẬT TỰ NHIÊN.................................................................................... 53

Cẩm Lương ...............................................................................................................131
4.2.1. Những thuận lợi ...............................................................................................131
4.2.2. Những khó khăn ..............................................................................................134
4.3. Một số đề xuất, kiến nghị từ kết quả nghiên cứu .......................................140
4.3.1. Cơ sở của đề xuất kiến nghị............................................................................140
4.3.2. Các kiến nghị cụ thể ........................................................................................141
Tiểu kết Chương 4…………………………………………………………. 143
KẾT LUẬN ...............................................................................................................145
CHÚ THÍCH.............................................................................................................149
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ..................................................................................................................152
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................153


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Các loại đất đai xã Cẩm Lương (năm 2015) ............................................ 37
Bảng 1.2: Số hộ, khẩu chia theo dân tộc của các thôn.............................................. 42
Bảng 2.1: Tình hình tư liệu sản xuất lớn và nhà cửa xã Cẩm Lương...................... 57
Bảng 2.2: Số dự nợ ngân hàng ở xã Cẩm Lương các năm 2015 - 2017 ................. 58
Bảng 2.3: Chỉ tiêu của trồng trọt đạt được ở xã Cẩm Lương qua một số năm .... 63
Bảng 2.4: Kết quả chăn nuôi ở xã Cẩm Lương qua một số năm............................. 75
Bảng 2.5: Số lượng lao động xã Cẩm Lương đi làm tại các khu công nghiệp và đi
xuất khẩu lao động. ...................................................................................................... 83
Bảng 3.1: Số lượng các hộ làm dịch vụ ở xã Cẩm Lương năm 2017 ..................... 87
Bảng 3.2. Số lượng quầy hàng, cửa hàng tại khu vực Suối cá qua một số năm .101
Bảng 4.1: Cơ cấu kinh tế và tỷ lệ hộ nghèo xã Cẩm Lương qua một số năm.... 117
Bảng 4.2: Mức thu nhập thuộc diện trung bình khá ở hai thôn Lương Ngọc và
Lương Thuận năm 2018……………………………………………………121


quy định bởi thiết chế tổ chức xã hội và các quan hệ xã hội,
Sinh kế còn là cơ sở để hình thành các yếu tố văn hóa (các phong tục
tập quán, các tín ngưỡng, kiêng kỵ, tâm lý, tính cách) của cộng đồng cư dân.
Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn hóa học đưa ra tổng kết, cách mưu
sinh như thế nào, văn hóa ấy.
Tóm lại, sinh kế là yếu tố quan trọng hàng đầu của văn hóa tộc người;
nghiên cứu sinh kế góp phần quan trọng vào nghiên cứu các tộc người, các
cộng đồng cư dân.
1.2. Người Mường sinh sống tập trung trong các thung lũng chân núi
tại các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Hòa Bình và Thanh Hóa, trong đó đông đúc
nhất tại tỉnh Hòa Bình. Nguồn sống chính của đồng bào là làm ruộng nước,
1


kết hợp làm nương rẫy và khai thác các nguồn lợi tự nhiên, làm nghề thủ công
gia đình. Từ các hình thức sinh kế này, người Mường đã tạo lập nên một xã
hội Mường, một nền văn hóa Mường, với những đặc điểm riêng rất rõ nét.
Tuy nhiên, các thung lũng chân núi ở vùng người Mường cũng rất đa
dạng, nên sinh kế của đồng bào ở từng vùng có những khác biệt nhau rất rõ
nét, cần được quan tâm nghiên cứu để thấy được tính đa dạng của sinh kế
cũng như văn hóa tộc người.
Miền Tây tỉnh Thanh Hóa hiện nay gồm 11 huyện, là địa bàn sinh tụ
của nhiều tộc người, trong đó người Mường có số lượng dân cư đông nhất và
tập trung thành các làng tại các huyện: Bá Thước, Cẩm Thủy, Thạch Thành,
Ngọc Lặc và cư trú xen kẽ với người Việt, người Thái ở nhiều huyện, một số
xã miền núi thuộc các huyện đồng bằng.
Cẩm Lương là một trong những xã vùng cao của huyện Cẩm Thủy, có
người Mường chiếm đa số, sinh sống từ rất lâu đời. Xã có các dạng cảnh
quan: thung lũng chân núi, núi - đồi thấp, sông Mã và các dòng suối. Cảnh
quan đa dạng trên đây tạo cho người Mường mưu sinh bằng nhiều hình thức

của người Mường ở xã Cẩm Lương, gồm nông nghiệp, các nghề thủ công, các
loại hình dịch vụ.
- Luận giải các khía cạnh liên quan đến hoạt động sinh kế hiện nay của
người Mường tại địa bàn nghiên cứu. Đó là các dạng thức sinh kế (nông
nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ) gắn với các nguồn vốn của
sinh kế hiện nay, những yếu tố tác động đến sinh kế và tác động của sinh kế
đối với các mặt đời sống của người Mường xã Cẩm Lương.
- Nêu một số vấn đề đặt ra đối với sinh kế hiện nay của người Mường
xã Cẩm Lương, tạo cơ sở khoa học để Đảng bộ, chính quyền địa phương tham
khảo trong việc đề ra các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền
vững trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập.

3


3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các dạng thức sinh kế hiện nay
gắn với môi trường sống của người Mường xã Cẩm Lương, như ở ý hai, mục
2.2 nêu trên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Phạm vi nghiên cứu của luận án về không gian là xã Cẩm Lương,
huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa - nơi có Suối cá 1 nổi tiếng. Xã có 6 thôn
Kim Mẫm 1, Kim Mẫm 2, Lương Ngọc, Lương Hòa, Lương Thuận và Xủ
Xuyên. Tác giả luận án đã khảo sát tại tất cả các thôn, trong đó, hai thôn đã
được tập trung thời gian nghiên cứu nhiều hơn là thôn Lương Thuận - thôn có
nhiều thay đổi tích cực nổi bật trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng và thôn
Lương Ngọc - thôn có Suối cá, từ nhiều năm nay đã chuyển mạnh sang hoạt
động dịch vụ du lịch.

Mường, luận án vận dụng cách tiếp cận của hai lý thuyết là lý thuyết
Khung sinh kế bền vững và lý thuyết Biến đổi văn hóa, như sẽ được trình
bày ở Chương 1.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thu thập được nguồn tư liệu cho luận án, nghiên cứu sinh sử dụng
phương pháp tổng quan tài liệu và thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp. Nghiên
cứu sinh đã cố gắng tiếp cận với các cuốn sách, luận án, tài liệu về sinh kế nói
chung và sinh kế của người Mường, về người Mường ở Việt Nam và người
Mường ở Thanh Hóa; cũng như thu thập các tài liệu liên quan đến người
Mường và sinh kế của người Mường tại địa bàn được lựa chọn nghiên cứu.
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, trong đó điền dã
Dân tộc học là phương pháp chính. Nghiên cứu sinh đã thực hiện nhiều
chuyến điền dã, trong đó hai chuyến từ 28/4 đến 5/5/2016 và từ 24/12 đến
31/12/2017 có sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên hướng dẫn tại thực địa.
Trong các chuyến điền dã, nghiên cứu sinh sử dụng các thao tác:
- Quan sát: thao tác này giúp nghiên cứu snnh hình dung và thu thập
được những thông tin ban đầu về cảnh quan, môi trường cư trú, bố trí làng
5


xóm, nhà cửa, cách sinh hoạt và lao động của người Mường và sự giao tiếp
của họ trong cộng đồng - những yếu tố có liên quan đến sinh kế.
- Quan sát tham dự: nghiên cứu sinh đã có các quan sát, tham dự sau:
+ Quan sát, tham dự một số công việc lao động nông nghiệp hàng ngày,
như bừa ruộng, trồng, chăm sóc và thu hoạch mía, chăm sóc cá lồng; hay các
hoạt động dịch vụ (bán hàng), chặt tre, vót đũa tại khu du lịch Suối cá …
+ Quan sát, tham dự một số hoạt động của đời sống gia đình và cộng
đồng thôn bản.
Các thao tác này không chỉ giúp chúng tôi có thể nắm được các hiện
tượng sinh kế đang diễn ra một cách chân thực nhất, đồng thời mở rộng thêm

Luận án còn sử dụng phương pháp tìm hiểu lịch sử kinh tế hộ gia đình
để thấy được cách thức mưu sinh của người Mường nói chung, những trường
hợp được tìm hiểu nói riêng.
Để làm rõ các khía cạnh liên quan đến sinh kế hiện nay của người
Mường tại địa bàn nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp phân tích,
diễn giải, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh.
Trong quá trình thu thập tư liệu cũng như xử lý tư liệu để luận giải các
khía cạnh liên quan đến sinh kế hiện nay của người Mường, tác giả luận án
chú trọng sử dụng các cách tiếp cận Nhân học/Dân tộc học, tức xem xét các
yếu tố tộc người và yếu tố địa phương đối với việc hình thành, tồn tại các
dạng thức sinh kế hiện nay của đồng bào Mường. Bên cạnh đó, còn sử dụng
cách tiếp cận Văn hóa học, coi sinh kế là biểu hiện của văn hóa (văn hóa mưu
sinh) và văn hóa là thành tố quan trọng của tộc người, có mối quan hệ với các
thành tố khác; tiếp cận hệ thống, đặt sự hình thành, tồn tại và thích ứng với
môi trường và điều kiện sinh sống của người Mường xã Cẩm Lương trong
mối liên hệ tổng thể của các yếu tố: địa lý tự nhiên, cơ sở kinh tế, thiết chế
văn hóa xã hội của làng, các chính sách của Đảng và Nhà nước.

7


5. Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về sinh kế hiện nay của
người Mường ở xã Cẩm Lương; làm rõ thực trạng sinh kế hiện nay của đồng
bào trong sự so sánh với các yếu tố truyền thống, mối quan hệ giữa các hoạt
động sinh kế với điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và văn hóa.
Luận án tạo cơ sở khoa học cho cấp ủy, chính quyền xã Cẩm Lương,
các ngành có liên quan ở huyện Cẩm Thủy và tỉnh Thanh Hóa đề ra các chính
sách, các giải pháp giúp xã Cẩm Lương phát huy các tiềm năng, thế mạnh,
những mặt còn hạn chế, yếu kém trong hoạt động sinh kế hiện nay, đặc biệt là

Liên quan đến lịch sử nghiên cứu của đề tài, có hai vấn đề cần tập trung
làm rõ đó là tình hình nghiên cứu về sinh kế nói chung và nghiên cứu về sinh
kế người Mường nói riêng.
1.1.1.1.Một số công trình nghiên cứu về sinh kế của các học giả nước ngoài
Sinh kế của các tộc người, các nhóm cư dân có nhiều hình thức khác
nhau. Với người Mường, hoạt động sinh kế chủ yếu là nông nghiệp, nên
chúng tôi trình bày một số công trình liên quan đến lĩnh vực này.
Trong Sự xuất hiện và phát triển của nông nghiệp, các tác giả
V.D.Blavaski - A.V.Nikitin cho rằng, nông nghiệp xuất hiện ngay trong thời
đại công xã nguyên thủy và là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển
của năng suất lao động và sự tích lũy tài sản, dẫn tới chỗ củng cố và thịnh đạt
của xã hội nguyên thủy. Từ đó, tác giả đã khẳng định, nông nghiệp là một
trong những phát minh vĩ đại nhất của con người [125].
Khi bàn về nông nghiệp ở Đông Nam Á, N.N.Tsêbốcsarốp khẳng định,
những đặc trưng văn hóa nông nghiệp của các dân tộc ở Đông Nam Á đã hình
thành từ những điều kiện lịch sử nhất định và nó được định đoạt bởi sự phát
triển kinh tế - xã hội và hoàn cảnh tự nhiên. Tuy vậy, những đặc trưng đó
được cũng cố bởi truyền thống, trở thành những đặc điểm đối với các dân tộc

9


riêng biệt trong một thời kỳ lâu dài, dần dần biến mất với sự xuất hiện trong
các dân tộc ấy nền nông nghiệp cơ giới hiện đại [145].
Trong công trình nghiên cứu về dân tộc học nông nghiệp, các tác giả
G.G.Gromop và IU.F. Novichkop cho rằng, khi nghiên cứu các giải pháp trong
làm nông nghiệp (kỹ thuật học nông nghiệp) cần phải xem xét đến những đặc
điểm về điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội mà các tộc người, các nhóm
cư dân đang sống với điều kiện của các giai đoạn lịch sử [133].
Các tác giả Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda sử dụng các khái

Dân tộc học ra đời, đã có một lượng lớn các công trình dưới các thể loại khác
nhau về hoạt động sinh kế của các tộc người. Ngoài các cuốn sách, các đề tài
khoa học các cấp, các luận án phó tiến sĩ (từ năm 2000 trở đi là tiến sĩ), còn
có rất nhiều các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Chỉ riêng Tạp chí
Dân tộc học, từ năm 1972 đến năm 2015 đã có trên 200 bài liên quan đến các
khía cạnh về sinh kế các tộc người được đăng tải.
Phần Tổng quan này chỉ đề cập đến các công trình Dân tộc học/Nhân
học bàn về sinh kế của các tộc người thiểu số, tập trung ở miền núi phía Bắc.
Điểm đầu tiên có thể nhận thấy là đa số các công trình đều tập trung
nghiên cứu về sinh kế truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta. Có
thể phân thành các nhóm công trình tiêu biểu sau:
- Các chuyên khảo giới thiệu chung về các tộc người thiểu số ở nước ta,
như bộ sách hai tập Các dân tộc ít người ở Việt Nam do Viện Dân tộc học
biên soạn [114, 115] và đặc biệt là bộ sách gồm bốn tập Các dân tộc ở Việt
Nam cũng do Viện Dân tộc học biên soạn [116, 117, 118, 119]. Trong nội
dung giới thiệu về các tộc người thuộc các nhóm ngôn ngữ, đều có phần viết
về sinh kế (cơ sở kinh tế) của mỗi tộc.
- Các chuyên khảo về kinh tế - xã hội của các tộc người thiểu số và
miền núi, như Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc
[14], Một số vấn đề kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc [112], Các dân
tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi [27] ...
11


- Các công trình giới thiệu về các tộc ở các địa phương, khu vực như
Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương Hoàng
Tuyên [88], Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ của Mạc Đường [31], Các
dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam của Bùi Tịnh và các cộng sự [86], Góp phần tìm
hiểu tỉnh Hòa Bình do Bùi Văn Kín chủ biên [54], Các dân tộc thiểu số ở
Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc [62], Văn hóa các tộc người vùng lòng hồ và

các tộc người được phản ánh qua các ngành kinh tế (nông nghiệp, nghề thủ
công và trao đổi buôn bán).
Trong nông nghiệp, các công trình đã chỉ rõ, trồng trọt là bộ phận chủ
đạo của nông nghiệp - cơ sở kinh tế chính, do vậy cũng là hoạt động mưu sinh
chính của các tộc người ở nước ta. Tùy điều kiện cảnh quan (chủ yếu là địa
hình) mà các tộc người hoặc làm ruộng nước trong các thung lũng chân núi
(như người Thái, Mường, Tày, Nùng, Lự) hay ở đồng bằng (Chăm, Khơ me); hoặc làm nương rẫy (đa số các tộc thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữ);
các tộc Hmông, Hà Nhì, Lô Lô… tạo ra những cánh đồng ruộng bậc thang,
trở thành những kiệt tác, kết hợp giữa thiên nhiên và bàn tay con người.
Người Hmông ở các huyện vùng cao núi đá còn có nương thổ canh hốc đá,
sinh sống cả đời với cây ngô [69].
Dù là trồng lúa nước hay làm nương rẫy, hoặc làm ruộng bậc thang,
hoạt động trồng trọt của các tộc người được đề cập đến trong các công trình
nghiên cứu trên các khía cạnh: phân loại ruộng (đất), hệ thống thủy lợi (chỉ
với trồng trọt ruộng nước, tiêu biểu nhất là hệ thống thủy lợi trong các thung
lũng chân núi của người Thái, người Mường), công cụ cho các khâu (làm đất,
chăm sóc, thu hoạch), thời vụ (lịch tiến hành các khâu cơ bản), các biện pháp
kỹ thuật canh tác, năng suất của lúa nước và nương rẫy, các nghi lễ liên quan
đến hoạt động trồng trọt, vị trí của trồng trọt trong đời sống các tộc người, đặc
biệt là vấn đề an ninh lương thực ở các tộc người làm nương rẫy…Nhiều
nghiên cứu đã chỉ rõ, loại hình trồng trọt nương rẫy phụ thuộc nặng nề vào tự
nhiên, dễ dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng nguồn tài nguyên rừng và tài

13


nguyên môi sinh, không phát huy được tiềm năng đất đai, dẫn đến du canh du
cư, không bảo đảm an ninh lương thực, đời sống vật chất rất thấp. Có thể thấy
điều này qua nghiên cứu về các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á (nhóm Môn/
Khơ - me) ở Tây Bắc Việt Nam [111]. Trong khi đó, các tộc người làm ruộng

- Hai nghề phổ biến nhất ở các tộc người là dệt và đan lát; một số vùng
có nghề rèn, chế tạo thuyền …
- Nghề thủ công phụ thuộc vào hoạt động trồng trọt (tạo ra sản phẩm
chủ yếu phục vụ cuộc sống dựa vào trồng trọt, thời gian làm nghề chỉ khi
công việc trồng trọt đã rỗi rãi…).
- Nghề thủ công dựa vào công cụ đơn giản, lao động thủ công, tư duy
kinh nghiệm.
- Tính hàng hóa ít, chỉ ở một số ít tộc người, tại một số vùng, sản phẩm
mới trở thành hàng hóa, ở người Nùng xuất hiện một số làng nghề (ví như
làng nghề rèn Phúc Sen ở tỉnh Cao Bằng).
Đến nay, hoạt động trao đổi, buôn bán của các tộc người thiểu số có rất
ít chuyên khảo riêng, thường chỉ được trình bày thành mục trong các cuốn
giản chí Dân tộc học cùng một lượng lớn các bài đăng trên Tạp chí Dân tộc
học, trong đó, đáng chú ý là số 3 năm 2014, là số chuyên đề về chợ ở Việt
Nam [81]. Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ, do nền kinh tế chủ yếu mang
tính tự cấp tự túc, hệ thống giao thông kém phát triển, nên ở rất nhiều vùng
miền núi, nhiều tộc người thiểu số khu vực Tây Bắc, trước năm 1954, hoạt
động trao đổi buôn bán rất mờ nhạt, không có chợ, thậm chí có nơi vẫn là vật
đổi vật. Trong khi đó, ở vùng Đông Bắc, kinh tế hàng hóa phát triển hơn, hệ
thống giao thông thủy bộ thuận lợi, lại ở sát trung du và đồng bằng, thông
thương sang Trung Quốc, nên hoạt động trao đổi buôn bán sôi nổi hơn rất
nhiều: ở nông thôn hình thành hệ thống chợ phiên (chợ làng); ở đô thị hình
thành hệ thống phố - chợ (như ở Đồng Đăng, trấn lỵ Cao Bằng…); vùng biên
giới có các chợ biên giới… Chợ không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, mà còn là
nơi giao lưu văn hóa, tâm tư tình cảm của các tộc người, nhất là của nam nữ
thanh niên [97].
15


Trong khi đề cập đến sinh kế (các bộ phận kinh tế) của các tộc người,


khẳng định, vấn đề sở hữu và sử dụng đất đai cũng như các hình thức trồng
trọt truyền thống trong điều kiện hiện nay (thời điểm được nghiên cứu) đang
mâu thuẫn gay gắt với nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo về rừng. Các
Dự án Cách ứng phó với nạn thiếu lương thực của các dân tộc thiểu số vùng
cao Việt Nam (qua nghiên cứu 3 tộc người: Dao, Mường và Thổ tại 3 tỉnh
Bắc Kạn, Hòa Bình và Nghệ An) [84]; Cách ứng phó với nạn thiếu lương thực
của các dân tộc thiểu số vùng cao Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào: tăng cường năng lực và hợp tác nghiên cứu giữa Viện Dân tộc học Việt
Nam và Viện Nghiên cứu văn hóa Lào [46] chỉ rõ, dù các tộc người thiểu số
với sự trợ giúp của Nhà nước đã có những tiến bộ vượt bậc trong phát triển
kinh tế, song vẫn khó khăn trong việc bảo đảm an ninh lương thực. Đáng lưu
ý, cuốn sách Một số vấn đề cơ bản về kinh tế- xã hội ở các vùng biên giới Việt
Nam do Bùi Xuân Đính, Nguyễn Ngọc Thanh đồng chủ biên đã chỉ ra những
biến đổi của nền kinh tế truyền thống của các tộc người vùng biên giới nước
ta trong bối cảnh mở cửa và hội nhập. Mặc dù các tộc người thiểu số vùng
biên giới đã tích cực tham gia vào các hoạt động kinh tế biên mậu, đời sống
đã từng bước được cải thiện, song do “sức ỳ” của truyền thống mà kinh tế
chưa có nhiều chuyển biến, việc tham gia các hoạt động kinh tế biên mậu còn
rất hạn chế, chủ yếu là các hoạt động “phụ trợ” cho người Việt [29].
Một hướng khác trong nghiên cứu biến đổi sinh kế của các tộc người
thiểu số là tìm hiểu tác động của các công trình thủy điện đối với đời sống ở
các vùng có thủy điện. Các công trình tiêu biểu là bộ sách Các dân tộc ở Việt
Nam của Viện Dân tộc học [116, 117, 118, 119]; Tác động của đập thủy điện
đến phát triển bền vững cư dân vùng hạ lưu [38], Tái định cư thủy điện ở Việt
Nam thời Đổi mới [39]; Một số vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội vùng tái
định cư thủy điện Sơn La [40]; hay một số luận án như Sinh kế của người Thái
tái định cư Thủy điện Sơn La [58].
Nhìn chung, nghiên cứu về hoạt động sinh kế của các tộc người thiểu
số ở nước ta đến nay đã trải qua một chặng đường dài, với một lượng lớn các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status