TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ HÀ
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI
THEO CHỦ ĐỀ - CHỦ ĐỀ NGHỀ NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ HÀ
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI
THEO CHỦ ĐỀ - CHỦ ĐỀ NGHỀ NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI - 2018
Nguyễn Thị Hà
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU........................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................ 3
3.1. Mục đích..................................................................................................... 3
3.2. Nhiệm vụ .................................................................................................... 3
4. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 3
5.1. Phương pháp quan sát ................................................................................ 3
5.2. Phương pháp trò chuyện ............................................................................ 4
5.3. Phương pháp thực nghiệm tác động........................................................... 4
5.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động .......................................... 4
6. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 4
PHẦN 2: NỘI DUNG ....................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN........................................... 5
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 5
1.1.1. Từ và vấn đề mở rộng vốn từ.................................................................. 5
1.1.1.1. Từ ......................................................................................................... 5
1.1.1.2. Vốn từ................................................................................................... 5
1.1.1.3. Vấn đề mở rộng vốn từ ........................................................................ 6
1.1.2. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non .......................................................... 7
1.1.2.1.Vốn từ xét về mặt số lượng ................................................................... 8
1.1.2.2. Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại .......................................................... 9
1.1.2.3. Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mầm non.................................... 10
1.1.2.4. Sự phát triển vốn từ của trẻ ................................................................ 11
1.1.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ 4- 5 tuổi.......................................................... 11
3.3.5. Giáo án thực nghiệm ............................................................................. 27
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................ 35
3.1. Kết luận .................................................................................................... 35
3.2. Kiến nghị .................................................................................................. 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 37
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền tảng đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Những kĩ năng mà trẻ tiếp thu được ở chương trình giáo dục mầm non sẽ là
bước đi đầu tiên, là tiền đề của trẻ trên con đường học hành cũng như trong
cuộc sống sau này. Chương trình giáo dục mầm non ở Việt Nam luôn trú
trọng phát triển toàn diện cho trẻ ở các mặt : nhận thức, thể chất, ngôn ngữ,
tình cảm – xã hội và thẩm mỹ. Trong số đó thì lĩnh vực phát triển ngôn ngữ là
một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của nghành giáo dục mầm
non. Lê- nin đã từng viết “ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của con người”. Thật vậy, trong cuộc sống con người, trong sự phát triển của
xã hội loài người ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ để
biểu đạt tư tưởng, tình cảm giúp trẻ phát triển hài hòa và toàn diện.
Một trong những thành công của giáo dục mầm non là cho trẻ sử dụng
được thành thạo tiếng mẹ đẻ của mình trong đời sống hàng ngày. Bởi vậy mà
vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ rất được các nhà giáo dục quan tâm song
do điều kiện từng địa phương, từng vùng miền mà ngôn ngữ của trẻ chỉ phát
triển tương đối chứ chưa chính xác và đồng đều. Nhiều trẻ chưa phát âm rõ
câu, nói ngọng, nói không đủ câu, vốn từ nghèo nàn….dẫn đến việc diễn đạt
câu từ, thể hiện ngữ điệu của trẻ kém. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến
việc tiếp thu bài và tham gia các hoạt động khác. Do đó việc mở rộng vốn từ ,
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc sử dụng trò chơi trong dạy học không phải là vấn đề mới được đặt
ra mà ngay từ đầu thế kỷ XX, nhà tâm lý học Thụy Sỹ J.Paget đã rất quan tâm
đến phương pháp này “thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động
học tập”.
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả quan tâm đến việc sử dụng phương
pháp này trong từng môn học cụ thể. Đó là PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết với
cuốn sách “ giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn”, hay “ Tâm
lý học trẻ em lứa tuổi mầm non”,v.v.. Trong những cuốn sách này tác giả đã
đề cập đến vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ một cách khái quát. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
cụ thể cách thức xây dựng nội dung chương trình, và phương pháp tổ chức trò
chơi đóng vai theo chủ đề qua đó phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nói chung
và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm giàu vốn từ cho trẻ 4- 5 tuổi và tích lũy tư liệu cho việc giảng dạy
về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
3.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu cơ sở lý luận về từ, mở rộng vốn từ, trẻ 4- 5 tuổi và trò chơi
đóng vai theo chủ đề. Nghiên cứu thực trạng việc mở rộng vốn từ của trẻ 4- 5
tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề nghiệp ở trường
mầm non. Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ và
thực nghiệm tác động các biện pháp đã đề xuất vào quá trình mở rộng vốn từ
cho trẻ trẻ 4- 5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề
nghiệp.
4. Đối tượng nghiên cứu
Sự phát triển vốn từ của trẻ 4- 5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo
Chương 2: Biện pháp
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Từ và vấn đề mở rộng vốn từ
1.1.1.1. Từ
Từ là vấn đề được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm và tìm hiểu. Cho
đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về từ. Ở đây chúng tôi dựa trên quan
điểm về từ tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu.
“Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định,
tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt”.
1.1.1.2. Vốn từ
Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ
cố định của ngôn ngữ đó”. Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ
phong phú có thể lên tới hàng chục vạn từ. Vốn từ vựng của một ngôn ngữ
bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có đặc trưng khác
nhau. Trong vốn từ vựng của bất kì ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới.
Với mỗi cá nhân, vốn từ không tỉ lệ thuận với vốn từ trong ngôn ngữ
chung của cả cộng đồng mà nó phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức,
văn hóa của mỗi cá nhân. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học thì
vốn từ của những người có trình độ văn hóa cao là khoảng 6000 – 9000 từ,
của một nhà thiên tài là xấp xỉ 20.000 từ.
Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, người ta phân
chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động. Vốn từ tích cực
là những từ được con người nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sống
hàng ngày. Vốn từ thụ động gồm những từ ít hoặc không được sử dụng. Đó là
những từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại ( tem, phiếu, bao cấp…)
dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa,
đồng nghĩa…cách sử dụng từ trong câu.
Phát triển vốn từ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện
của trẻ. Lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ và để giải
quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái niệm,
phát triển tư duy. Vốn từ nghèo nàn ảnh hưởng đến giao tiếp của trẻ. Cùng
với việc phát triển vốn từ, chúng ta thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức và
thẩm mỹ.
Do đó, công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có
kế hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ hiệu quả.
1.1.2. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, học tập và vui chơi. Ngôn ngữ giữ vai
trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em. Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là
phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo
đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa. Trong đó vốn từ là
nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển về trí tuê của trẻ. Vốn từ được sử dụng trong lời nói được coi là
một phương tiện tác động rất tinh tế trong hệ thống xây dựng môi trường sư
phạm có định hướng, bởi trong ngôn ngữ nói không chỉ chứa thông tin mà
còn có cả ý nghĩa tình cảm.
Ngôn ngữ lúc đầu của trẻ còn sơ khai, xuất phát từ thế giới xung quanh.
Các câu nói của trẻ chưa hoàn thiện mà phải trải qua quá trình trao đổi, tiếp
xúc với nhiều người xung quanh mà vốn từ của trẻ được tăng lên theo thời
gian. Từ những quá trình học hỏi đó mà câu nói của trẻ dần hoàn thiện và nói
được câu hoàn chỉnh. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ diễn ra nhanh nhất là từ
0- 6 tuổi ( độ tuổi mầm non). Bắt đầu từ khi sinh ra trẻ chưa có ngôn ngữ cho
đến cuối 6 tuổi thì trẻ đã có thể sử dụng thành thạo ngôn ngữ trong các hoạt
từ khác chiếm một tỉ lệ cao hơn.
Số lượng vốn từ của trẻ do các nhà khoa học nghiên cứu là khác nhau,
tuy nhiên đó là sự chênh lệch không lớn: bởi vì vốn từ của trẻ còn phụ thuộc
vào các yếu tố khác nhau như sự tiếp xúc với những người xung quanh, trình
độ của bố mẹ…
1.1.2.2. Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất
lượng vốn từ. Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện
cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu. Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn
từ của trẻ. Ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó động từ và tính từ và các loại từ
khác xuất hiện muộn hơn.
Theo nhà nghiên cứu Lưu Thị Lan:
Lứa tuổi
Từ loại/ tỉ lệ(%)
Danh từ
Tính từ
Trạng từ
3 tuổi
40,2%
7,8%
2,4%
5 tuổi
từ:
- Mức độ zêro( không): Cuối tuổi lên một, đầu tuổi lên hai, trẻ tương
ứng tên gọi với một người cụ thể (Bà, Hùng, bàn, bát…) để chỉ một vật cụ
thể, riêng biệt (nghĩa biểu danh).
- Mức độ thứ nhất của sự khái quát: Cuối tuổi lên hai, trẻ nắm được
mức độ thứ nhất của sự khái quát, tức là tên gọi chung của đối tượng cùng
loại (đồ vật, hành động, tính chất): “ Bóng” chỉ một quả bóng bất kì, “Búp bê”
chỉ một con búp bê bất kì nào ( nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp).
- Mức độ thứ hai của sự khái quát: Trẻ nắm được mức độ thứ hai của sự
khái quát, tức là tên gọi chung của những sự vật không cùng loại: “Quả” có
thể chỉ bất kì loại quả nào đó ( quả cam, đu đủ, táo..); “Xe” có thể chỉ bất kì
loại xe nào (xe ô tô, xe đạp…). Cam, đu đủ, chuối: mức độ thứ nhất của sự
khái quát; Qủa: mức độ thứ hai của sự khái quát.
- Mức độ thứ ba của sự khái quát: Trẻ khoảng năm, sáu tuổi có thể nắm
được mức độ thứ ba của sự khái quát: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi (búp bê, ô
tô, máy bay…), đồ gỗ (giường, tủ, bàn ghế…), đồ nấu bếp (nồi, chảo, bát,
đĩa…).
- Búp bê: mức độ thứ nhất của sự khái quát.
- Đồ chơi: mức độ thứ hai của sự khái quát.
- Đồ vật: mức độ thứ ba của sự khái quát.
- Mức độ thứ tư của sự khái quát: là những từ biểu thị sự khái quát tối
đa như: Vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ…Khả
năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổi thiếu niên.
Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi cũng có thể hiểu được một số khái niệm mang tính
khái quát ở mức độ thứ tư nhưng phải thường xuyên được làm quen, hiểu
đựơc nghĩa của từ, được thực hành với những từ ngữ đó và gắn với những
tình huống cụ thể.
1.1.2.4. Sự phát triển vốn từ của trẻ
8000- 14000 từ, trung bình 5- 8 từ/ngày.
Điều đó cho thấy nếu trẻ em ở nước ta được đến trường sớm và được
các cô giáo có trình độ đạt chuẩn chăm sóc và giáo dục thì chắc chắn ngôn
ngữ sẽ tạo điều kiện căn bản cho trẻ vào lớp một.
1.1.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ 4- 5 tuổi
Để xử lý tình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ là cả
một nghệ thuật, nhất là khi trẻ em còn ở độ tuổi thơ dại. Chính vì vậy để vận
dụng khả năng sư phạm của mình trong việc giải quyết tốt các tình huống xảy
ra giáo viên ở các trường mẫu giáo ngoài tình yêu nghề, yêu trẻ, tinh thần
trách nhiệm cao, sự cần mẫn, kiên trì còn cần phải có sự hiểu biết nhất định về
đặc điểm tâm lý của trẻ.
Đối với trẻ 4- 5 tuổi đặc điểm đầu tiên là đặc điểm về hoạt động vui
chơi. Ở độ tuổi nào con người cũng đều tham gia vào các hoạt động vui chơi,
nhưng chỉ ở tuổi mẫu giáo mà ở chính giữa cái tuổi ấy ( tức là mẫu giáo nhỡ)
thì hoạt động vui chơi mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất, cũng tức là nó
đạt tới dạng chính thức và biểu hiện đầy đủ nhất đặc điểm của hoạt động vui
chơi, nhiều hơn cả là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Do đã có ít nhiều vốn
kinh nghiệm về cuộc sống nên trẻ 4- 5 tuổi đã có thể lựa chọn chủ đề và nội
dung chơi cũng như cần có bạn chơi “tâm đầu ý hợp” để vui chơi bền hơn, vui
hơn.
Trong hoạt động vui chơi, trẻ thể hiện rõ rệt tính tự lực, tự do và chủ
động. Trong quá trình vui chơi, trẻ bộc lộ hoàn toàn tâm trí của mình, nhận
thức, tình cảm, ý chí, nói năng đều tỏ ra tích cực và chủ động. Trong khi vui
chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ thể hiện tính tự lực, tự do rất rõ, ít lệ thuộc vào người
lớn và hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích của mình. Và đặc biệt trẻ ở độ tuổi 4- 5
tuổi đã biết thiết lập những quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn cùng
chơi. Một “xã hội trẻ em” được hình thành.
Đặc điểm thứ hai của trẻ 4- 5 tuổi là sự phát triển mạnh tư duy trực
Tính từ
55
6,2%
Đại từ
21
3,7%
Số lượng từ- tỉ lệ(%)
Từ loại
Nhận xét: Ở trẻ mẫu giáo nhỡ về cơ bản vốn từ của trẻ đã có đầy đủ các
từ loại. Tuy nhiên, tỉ lệ danh từ và động từ cao hơn nhiều so với các loại khác.
- Danh từ chiếm 30% trong đó danh từ chiếm số lượng nhiều nhất gồm những
loại sau:
Danh từ gọi tên các đồ vật : nhiệt kế, ống nghe, dao xây,còi,….
Danh từ chỉ đồ chơi quen thuộc: ô tô, xe máy, các loại quả,..
Danh từ chỉ bộ phận cơ thể: mắt, tay, chân, mũi,…
- Động từ chiếm 26%.
Ví dụ: Với động từ “ ăn”. Những ngữ cảnh cụ thể của từ “ăn” :
Em Hoa ăn đi.
Chị Hà ăn hết bánh của con.
Con thích ăn thịt.
- Tính từ chiếm 6,2%. Trong đó tính từ chỉ màu sắc như: xanh, đỏ, đen,…
Bên cạnh những thuận lợi trên, giáo viên ở trường mầm non Hùng
Vương gặp phải những khó khăn như
* Những khó khăn:
Một số giáo viên còn chưa thực sự trú trọng trong việc mở rộng vốn từ
cho trẻ thông qua các tiết học, đặc biệt thông qua các trò chơi.
Trẻ còn phát âm sai những từ khó phát âm; phát âm sai l,n; phát âm sai
thanh điệu.
Trẻ ở lứa tuổi mầm non rất hiếu động, ham chơi đôi khi rất bướng bỉnh
khó bảo.
Những điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn có tác động không nhỏ
đến chất lượng trò chơi mà trẻ tham gia. Tuy nhiên, yếu tố con người (yếu tố
giáo viên) vẫn là yếu tố quyết định.
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4- 5 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ- CHỦ ĐỀ
NGHỀ NGHIỆP.
2.1. Trò chơi đóng vai theo chủ đề
2.1.1. Khái niệm
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là mô hình quan hệ xã hội của người lớn
và là phương tiện định hướng cho trẻ vào mối quan hệ đó. Hay nói cách khác,
trò chơi đóng vai theo chủ đề là trẻ ướm thử vào vị trí của người nào đó và bắt
chước những hành động của người đó.
2.1.2. Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là do trẻ tự nghĩ ra ( tự nghĩ ra dự định
chơi, lập kế hoạch chơi, chọn bạn chơi, phân vai chơi và tìm kiếm phương
tiện phù hợp dự định chơi ban đầu.v.v…), trẻ luôn đứng ở vị trí chủ thể để
hành động ( chủ động thiết lập mối quan hệ với bạn cùng chơi, phát triển trò
chơi…).
Trò chơi đóng vai theo chủ đề bao giờ cũng có các vai, có chủ đề, có
tượng ra hành động chơi. Như vậy hoạt động vui chơi quyết định sự hình
thành và phát triển tưởng tượng ở lứa tuổi này.
d. Sự phát triển ngôn ngữ
Tình huống chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có một
trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Nếu trẻ không diễn đạt được
mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đối với trò chơi, nếu không hiểu
được những lời chỉ dẫn hay bản nhạc của các bạn cùng chơi thì trẻ không thể
nào tham gia trò chơi được. Để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùng
chơi, trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc.
e. Sự phát triển tình cảm
Tình cảm được nảy sinh từ mối quan hệ giữa người với người, trong trò
chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải tham gia vào hai mối quan hệ: quan hệ
thực và quan hệ chơi. Trẻ nhập vai vào các mối quan hệ đó, từ đó tình cảm
được nảy sinh, hình thành và phát triển.
f. Sự phát triển ý chí
Tính mục đích, tính tự chủ, tính kiên trì đây là các phẩm chất của ý chí
được hình thành và phát triển mạnh trong khi chơi.
Vậy đây là hoạt động chủ đạo quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ
mẫu giáo.
2.1.4. Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề nghiệp đối với
trẻ 4- 5 tuổi.
Chủ đề trong trò chơi đóng vai theo chủ đề khá đa dạng và phong phú:
chủ đề bản thân, chủ đề nghề nghiệp, chủ đề thực vật, chủ đề động vật, chủ đề
giao thông, chủ đề gia đình… Trong đó chủ đề nghề nghiệp là một trong
những chủ đề thu hút đông trẻ tham gia chơi và trong khi chơi trẻ hòa mình
vào các vai chơi một cách rất tự nhiên, phản ánh các mối quan hệ trong xã hội
một cách chính xác và sống động.
Vai chơi là một yếu tố quan trọng tạo nên trò chơi. Trẻ đóng vai có