Đề tài
“Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 thông qua các môn
học và hoạt động ngoài giờ lên lớp”
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tiểu học là bậc học tạo nền tảng cho học sinh phát triển, vì vậy ngoài việc
trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản trong học tập, lao động còn phải giáo
dục học sinh có kĩ năng sống, kĩ năng làm người để học sinh có thêm kinh nghiệm
thích ứng với môi trường, xã hội mới.
Trong thực tế hiện nay, việc rèn kĩ năng sống của các em ở trường tiểu học còn
thấp và nhiều hạn chế. Việc rèn kĩ năng sống cho học sinh chưa có nét chuyển biến,
nguyên nhân chính là do trong tư tưởng giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc
dạy kiến thức, việc rèn kĩ năng sống cho học sinh còn chiếu lệ, giáo viên luôn chú
trọng đến việc dạy kiến thức sao cho học sinh của mình đọc tốt, viết văn hay, làm
tính tốt….
Từ năm học 2010-2011, Bộ GD-ĐT đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng
ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn.
Năm học 2017-2018 là năm học tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tính cực”, việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh là một trong những nội dung của phong trào. Chính vì vậy nên nhà trường
cần chú trọng hơn đến nội dung “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh”.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh giúp học sinh tự giải quyết được một số
vấn đề thiết thực trong cuộc sống hằng ngày như: tự chăm sóc sức khỏe, bảo vệ
môi trường và phòng chống các tệ nạn xã hội,… để các em chủ động, tự tin không
phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệ mình.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, tôi
đã chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 thông
qua các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp”.
1. Mục đích đề tài:
a) Đối tượng nghiên cứu:
Các em học sinh lớp 4B trường Tiểu học Ninh Lộc.
an toàn cho trẻ.
- Bên cạnh đó, bản thân nhận được một tập thể học sinh khá ngoan và biết vâng lời,
các em gần gũi với cô giáo.
- Ngoài ra, ban lãnh đạo nhà trường luôn theo sát, quan tâm, hỗ trợ cho giáo viên
trong công tác giảng dạy cũng như giáo dục. Chính vì thế bản luôn cố gắng làm sao
rèn cho các em kĩ năng sống, giúp các em có một niềm tin, phát triển một cách toàn
diện để trở thành con người năng động, sáng tạo phù hợp với một xã hội hiện đại đang
phát triển.
2. Khó khăn:
2.1 . Đối với giáo viên:
- Giáo viên thường tập trung lo lắng cho những em có những vấn đề về hành vi và khả
năng tập trung kém.
2
- Một bộ phận giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở sách giáo khoa nên chưa đầu tư thời
gian tìm tòi nghiên cứu các hình thức và phương pháp tổ chức cho các hoạt động rèn
kĩ năng sống nên chưa tạo được sự hứng thú học tập cho học sinh.
2.2 . Đối với học sinh:
- Học sinh chỉ chú trọng học kiến thức, khả năng ứng phó với các tình huống trong
cuộc sống kém, tính tự tin ít, tự ti nhiều, thường nóng nảy, gây gổ lẫn nhau.
- Một bộ phận học sinh học tập thụ động, kỹ năng giao tiếp hạn chế, vẫn còn hiện
tượng nói tục, chửi bậy ở một số học sinh.
2.3 Đối với phụ huynh học sinh:
- Đa số phụ huynh cho rằng con em mình chỉ cần học giỏi kiến thức.Có phụ huynh
nóng vội trong việc dạy con, họ chỉ chú trọng đến việc dạy con mình biết đọc, biết
viết, hoặc biết làm toán mà không cần quan tâm đến việc con học được kĩ năng sống
nào khi đến trường.
A. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
bó và áp đặt.
Tiếp theo trong tuần đầu, bản thân cho học sinh tự do lựa chọn vị trí ngồi của
mình, để qua đó phần nào nắm được đặc điểm tích cách của các em: mạnh dạn hay
nhút nhát, thụ động hay tích cực, thích thể hiện hay không thích…Và tiếp tục qua
những tuần học sau, bản thân chú ý quan sát những biểu hiện về thái độ học tập, những
cử chỉ, hành vi tại vị trí ngồi mà các em chọn để bắt đầu có điều chỉnh phù hợp.
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có thể thực hiện trong bất cứ lúc nào,
giờ học nào. Để việc rèn luyện diễn ra một cách thường xuyên và đạt hiệu quả cao.
2. Cụ thể hóa nội dung của những kĩ năng cơ bản mà giáo viên cần dạy học sinh.
- Kĩ năng hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, một vấn đề, một bài hát giáo viên
giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với các
em học sinh lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp các em biết cảm thông và cùng
làm việc với các bạn.
- Kĩ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kĩ
năng quan trọng nhất cần có ở các em vào giai đoạn này là sự khát khao được học.
Người giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khơi gợi tính tò
mò tự nhiên của các em. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các
hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường khơi gợi trí não nhiều hơn là
những thứ có thể đoán trước được.
- Kĩ năng giao tiếp: Giáo viên cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng
của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình
trong thế giới xung quanh nó. Đây là một kĩ năng cơ bản và khá quan trọng đối với
trẻ. Nó có vị trí chính yếu khi so với tất cả các kĩ năng khác như đọc, viết, làm toán
và nghiên cứu khoa học. Nếu các em cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay
chính kiến nào đó, các em sẽ trở nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy
nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp học sinh sẵn sàng học mọi thứ.
- Kĩ năng sống tự tin : Một trong những kĩ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là
phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai,
4
3. Rèn kĩ năng sống hiệu quả qua việc tích hợp vào các môn học.
3.1. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học qua môn Tiếng Việt:
5
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học
sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt
động của lứa tuổi. Thông qua hoạt động dạy và học môn Tiếng Việt góp phần rèn
luyện thao tác tư duy, góp phần mở rộng hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người. Kĩ
năng sống đặc thù, thể hiện ưu thế của môn Tiếng Việt là kĩ năng giao tiếp, sau đó là kĩ
năng nhận thức, bao gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức, ra quyết định.
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, có nhiều bài học mà tên gọi của nó đã nói
rõ mục tiêu giáo dục các kĩ năng giao tiếp xã hội như: Luyện tập trao đổi ý kiến với
người thân, Luyện tập giới thiệu địa phương, Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi, Giữ
phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu đề nghị…
Bài soạn minh họa ( Phụ lục 1)
3.2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học qua môn Đạo đức:
Bản thân nội dung môn Đạo đức đã chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ
năng sống như: kĩ năng giao tiếp, ứng xử (với ông, bà, cha, mẹ, anh chị em, bạn bè,
thầy cô giáo và mọi người xung quanh), kĩ năng bày tỏ ý kiến của bản thân ….. Việc
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học trong môn Đạo đức nhằm bước đầu trang
bị cho học sinh các kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi Tiểu học, giúp các em
biết sống và ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với những người thân trong gia
đình, với thầy cô giáo, bạn bè và những người xung quanh; với cộng đồng, quê hương,
đất nước và với môi trường tự nhiên; giúp các em bước đầu biết sống tích cực, chủ
động, có mục đích, có kế hoạch, tự trọng, tự tin, có kỉ luật, biết hợp tác, tiết kiệm, gọn
gàng, ngăn nắp, vệ sinh,...để trở thành người con ngoan trong gia đình, học sinh tích
cực của nhà trường và công dân tốt của xã hội.
Bài soạn minh họa ( Phụ lục 2)
3.3. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học qua môn Khoa học:
- Giáo viên chủ nhiệm phải thực sự đổi mới phương pháp trong việc thực hiện công
tác chủ nhiệm lớp, tạo điều kiện để học sinh rèn luyện và tự rèn luyện. Coi trọng tự
rèn luyện của học sinh và động viên kịp thời.
Vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh còn cần đến vốn sống, tình thương và
nhân cách của người thầy. Học kiến thức ở thầy trước hết là ở tấm gương sống của
thầy. Vì vậy để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trước hết “Mỗi thầy cô giáo là
một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” mà ngành Giáo dục đã phát động.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là một hoạt động quan trọng, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Chính từ
những hoạt động như: lao động, sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội đã góp phần rất
lớn trong việc hình thành nhân cách của học sinh. Giúp em biết tự giáo dục, tự rèn
luyện, tự hoàn thiện mình. Có thể nói việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là
xây dựng cho các em các mối quan hệ phong phú, đa dạng một cách có mục đích, có
kế hoạch, có nội dung và phương pháp nhất định, gắn giáo dục với cộng đồng, tạo sự
thân thiện trong mọi tình huống. Biến các nhu cầu khách quan của xã hội thành
những nhu cầu của bản thân học sinh.
Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường Tiểu học là
điều kiện tốt nhất giúp học sinh tích luỹ và rèn kĩ năng sống có hiệu quả. Thông qua
các hoạt động ngoài giờ lên lớp các em được hợp tác, trải nghiệm các kĩ năng sống.
Vậy giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp sao
7
cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh
nghiệm sống của chính mình và người khác.
Một số hình ảnh về hoạt động ngoài giờ lên lớp của lớp 4B tại trường tiểu
học Ninh Lộc ( Phụ lục 4 )
5. Động viên , khen thưởng.
Để động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện các kĩ năng,
Ví dụ: Một số học sinh thích vẽ, ngoài việc cho các em học năng khiếu vẽ thì cô
giáo, cha mẹ có thể cho các em thêm bút màu, giấy vẽ và hãy chỉ cho các em cách
lưu giữ các bức tranh để tạo thành một bộ sưu tập tranh vẽ của chính các em hoặc
triển lãm tranh của các em ở góc nhỏ trong nhà, trong lớp. Hay học sinh thích học
đàn thì tạo điều kiện để các em được tham gia các lớp bồi dưỡng thêm để các em có
đủ tự tin biểu diễn trên sân khấu trong những ngày lễ lớn của trường tổ chức: 20/11;
Văn nghệ “ Mừng đảng – Mừng xuân”;...
- Cô giáo, cha mẹ cần dạy các em những nghi thức văn hóa trong ăn uống, biết cách
sử dụng các đồ dùng ăn uống; Cụ thể: Các em được làm quen với những đồ dùng, vật
dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói
quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ ăn
uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao
đổi nhẹ nhàng, dễ chịu… tất cả những yếu tố trên sẽ giúp các em có thói quen tốt để
hình thành kĩ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này.
III. HIỆU QUẢ
Qua quá trình giảng dạy, nhờ đã kiên trì và bền bỉ áp dụng những biện pháp như đã
nêu trên. Tôi đã tiến hành khảo sát và có số liệu như sau:
Bảng số liệu (Phụ lục 6)
Trong năm học 2017- 2018 vừa qua, tôi và các đồng chí giáo viên trong khối 4 đã
vận dụng 6 biện pháp trong đề tài vào việc giáo dục rèn kĩ năng sống cho các em.
Qua việc thực hiện các biện pháp trên, đến cuối HKII bản thân tôi và các đồng chí
trong khối nhận thấy các em có tiến bộ rõ rệt. Đa số các em đều có ý thức tốt trong
việc rèn luyện các kĩ năng, được thể hiện rõ qua việc sinh hoạt hằng ngày trên lớp,
trong các hoạt động vui chơi…. Các em biết vận dụng những lời nói thân thiện vào
thực tế, những lời chào, cảm ơn hay xin lỗi, những yêu cầu, đề nghị lịch sự…Đã trở
thành thói quen được các em vận dụng hàng ngày. Các em rất hăng hái phát biểu
9
Người viết
10
Hunh Th Ngc Dung
PH LC 1
Bi son minh ha mụn Ting Vit
Mụn: Luyn t v cõu
GI PHẫP LCH S KHI T CU HI( Hot ng 2)
I / Mc tiờu :
-Nm c phộp lch s khi hi chuyn ngi khỏc: bit tha gi, xng hụ phự hp
vi quan h gia mỡnh v ngi c hi, trỏnh nhng cõu hi tũ mũ hoc lm phin
lũng ngi khỏc.
- Nhn bit c quan h gia cỏc nhõn vt, tớnh cỏch ca nhõn vt qua li i ỏp.
- Nhn bit cỏch hi trong nhng trng hp t nh cn by t s thụng cm.
* KNS cụ baỷn ủửụùc giaựo duùc:
11
-
Giao tiếp: thể hiện thái độ lịch sự trong giao tiếp.
-
Laéng nghe tích cöïc.
-HS trả lời
+ Tính cách của từng nhân vật như thế
nào?( Thầy ân cần, trìu mến, yêu học trò.
Còn Lu-I lễ phép, ngoan hiền, kính trọng
thầy giáo)
-HS trả lời
-GV nhận xét chốt:
-GV liên hệ
+ Tính cách của Lu-i như hế nào?
-HS lắng nghe
+ Em có thích tính cách đó không?
12
+ Vì sao?
+ Đối với chúng ta thì sao?
-HS trả lời
-GV giáo dục HS:Người ta có thể đánh
giá tính cách, lối sống. Do vậy, khi nói
các em luôn có ý thức giữ phép lịch sự
với đối tượng mà mình đang nói. Làm
như vậy chúng ta không chỉ thể hiện tôn
trọng người khác mà còn tôn trọng chính
Mà khi hỏi các em phải tế nhị, thông
cảm, sẵn lòng giúp đỡ người khác trong
hoàn cảnh khó khăn.
4/ Củng cố dặn dò:
-HS lắng nghe
-Chuẩn bị bài sau Mở rộng vốn từ: Đồ
chơi- trò chơi
-Nhận xét tiết học.
13
PH LC 2
Bi son minh ha mụn o c(Hot ng 2)
Mụn: o c
Bi : LCH S VI MI NGI (T1)
I / Mc tiờu : Giỳp HS
-Bit ý ngha ca vic c x lch s vi mi ngi.
- Nờu c vớ d v c x lch s vi mi ngi.
-Bit c x lch s vi nhng ngi xung quanh.
-Cú nhng hnh vi vn húa, ỳng mc trong giao tip vi mi ngi.
* KNS cụ baỷn ủửụùc giaựo duùc:
-K nng th hin s t trng v tụn trng ngi khỏc.
-K nng ng x lch s vi mi ngi.
14
-Kĩ năng ra quyết định lựa chọn hành vi và lời nói phù hợp trong 1 số tình huống.
-GV nêu các hành vi, việc làm
- HS lắng nghe và suy nghĩ
- Gọi HS trả lời và giải thích vì sao
đúng? vì sao sai?
-HS trả lời
-GV nhận xét chốt:
+Các hành vi, việc làm đúng: b, d
-HS lắng nghe
+Các hành vi, việc làm sai: a,c,đ
-GV liên hệ các em học tập được những
hành vi, việc làm của các bạn nào? Và
chúng ta thì sao?
-HS lắng nghe và trả lời
15
Bi 3:
-Cho HS c yờu cu v ni dung
-GV chia nhúm v giao nhim v cho
cỏc nhúm:
- HS c yờu cu
Mụn: Khoa hc
Bi : PHềNG TRNH TAI NN UI NC.
I / Mc tiờu : Giỳp HS
-Nờu c mt s vic nờn v khụng nờn lm phũng trỏnh tai nn ui nc.
+Khụng chi ựa gn h, ao, sụng, sui, ging, chum, vi, b nc phi cú np y.
+Chp hnh cỏc qui nh v an ton khi tham gia giao thụng ng thy.
+Tp bi khi cú ngi ln v phng tin cu h.
-Thc hin c cỏc qui tc an ton phũng trỏnh ui nc.
* KNS cụ baỷn ủửụùc giaựo duùc:
16
-Kĩ năng phân tích và phán đoán những tình huống có nguy cơ dẫn đến tai nạn đuối
nước.
-Kĩ năng cam kết thực hiện các nguyên tắc an toàn khi đi bơi hoặc tập bơi
: II/ Đồ dùng dạy học:
- SGK, tranh minh họa trong SGK
III/ Các hoạt động dạy học chủ yếu
1/ Khởi động: ổn định
2/ KTBC: HS1:Em hãy cho biết khi bị bệnh cần cho người bệnh ăn uống như thế
nào?.
HS2:Khi người thân bị tiêu chảy em sẽ chăm sóc như thế nào?
3/ Bài mới:
Hoạt động GV
Hoạt động HS
Hoạt động 1: Những việc nên và không
nên làm để phòng tránh tai nạn đuối
nước
+H2:Vẽ một cái giếng , xây thành cao và
17
có nắp đậy rất an toàn đối với trẻ em.
Việc làm này nên làm để phòng tránh tai
nạn cho trẻ em.
+H3: Các bạn nhỏ đang nghịch nước khi
ngồi trên thuyền. Việc làm này không
nên vì rất dễ ngã xuống sông và bị chết
đuối.
-GV liên hệ
4/ Củng cố dặn dò:
-Chuẩn bị tiết sau: Ôn tập
-Nhận xét tiết học.
PHỤ LỤC 4
Một số hình ảnh về hoạt động ngoài giờ lên lớp của lớp 4B tại trường tiểu
học Ninh Lộc
18
Các em tham gia ngày hội đọc sách
19
Các em tham hội thi Em yêu biển đảo Việt nam
PHỤ LỤC 4
Các em tham gia buổi quyên góp ủng hộ người bị khuyết tật
24
Các em tham gia buổi tuyên truyền phòng chống tai nạn đuối nước
PHỤ LỤC 4
Các em chăm sóc công trình măng non của lớp 4B
25