BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2015-2016
Đề tài: “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học”
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
1.Lí do khách quan
Trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta khi yếu tố con người được coi
trọng về tiềm năng trí tuệ cùng với sức mạnh tinh thần. Nhân cách của con người
càng được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực xã hội. Thực tế hiện nay
ngành giáo dục đào tạo đã được nhà nước quan tâm đưa lên quốc sách hàng đầu thì
việc dạy chữ nói chung và việc rèn kĩ năng sống nói riêng là vấn đề đặc biệt quan
trọng. Một nhà hiền triết đã nói “khoa học mà không có hành vi đạo đức thì chỉ là
sự tàn lụi của linh hồn” mà hành vi đạo đức đó chính là kĩ năng sống của học sinh
vì vậy việc thực hiện rèn kĩ năng sống cho học sinh là cần thiết biết bao.
Kĩ năng sống là một trong những khái niệm được nhắc đến nhiều trong giai đoạn
hiện nay. Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống. Theo tôi, kĩ năng sống đơn giản là
tất cả những điều cần thiết chúng ta phải biết để có thể thích ứng với những thay đổi
diễn ra trong cuộc sống hằng ngày.
Kĩ năng sống được hình thành một cách tự nhiên qua những va chạm, những trải
nghiệm trong cuộc sống và qua giáo dục. Có nhiều nhóm kĩ năng sống như: nhóm
kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng xã hội và nhóm kĩ năng quản lí bản thân...Dù là kĩ
năng nào cũng đều rất quan trọng và cần thiết với mỗi con người. Cho nên, giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh có một tầm rất quan trọng đối với học sinh, đặc biệt là
học sinh tiểu học.
2.Lí do chủ quan.
Từ nhiều năm nay Bộ Giáo dục -Đào tạo chủ trương dạy kĩ năng sống là một
trong những tiêu chí đánh giá "Trường học thân thiện -học sinh tích cực".Trên tinh
thần đó tôi nhận thấy rằng chính ở dưới mái trường các em học được nhiều điều
hay, lẽ phải. Và nhà trường trở nên là ngôi nhà thân thiện, học sinh tích cực học tập
để thành người tài xây dựng đất nước, có khả năng hội nhập cao, từng bước trở
thành công dân toàn cầu. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với các thầy cô
giáo. Với học sinh tiểu học, đây là giai đoạn đầu tiên hình thành nhân cách cho các
tảng cần phải có.
- Thực tế hiện nay việc nhận thức tầm quan trọng, cần thiết rèn kỹ năng sống cho
học sinh ở một số giáo viên còn hạn chế. Qua dùng phiếu thăm dò, khảo sát thực tế
cho thấy một số giáo viên còn lúng túng cả về nội dung, biện pháp rèn kỹ năng sống
cho học sinh. Nhận thức của nhiều giáo viên còn mơ hồ, chưa rõ, chưa đầy đủ rèn kỹ
năng sống cho học sinh là rèn những kỹ năng gì; vì thế không thể tìm ra được biện
pháp, hình thức tổ chức hữu hiệu để rèn kỹ năng sống cho học sinh. Nhà trường đã
có tổ chức một số hoạt động nhằm rèn kỹ năng sống cho học sinh nhưng còn chung
chung, chưa đi sâu, chưa rõ nét.
3.Thực trạng chung của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường Tiểu
học Ninh Lộc.
a. Đặc điểm chung của nhà trường
Trường thuộc địa bàn vùng nông thôn, kinh tế hộ gia đình đa số là thuần nông.
Một số hộ kinh tế phụ thuộc vào con cái đi làm thuê, làm nghề tự do ở các thành
phố lớn, có thu nhập không ổn định nên ít quan tâm đến việc học tập của con em
mình. Điều kiện tiếp cận của học sinh với sách báo, các kênh truyền thông, mạng
internet còn hạn chế. Nhận thức của một bộ phận không nhỏ của cán bộ, giáo viên
trong trường, Hội cha mẹ học sinh, ban ngành đoàn thể xã chưa đúng mức về vị trí,
vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
b. Thực trạng việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
b.1. Đối với giáo viên chủ nhiệm lớp:
- Giáo viên cơ bản mới chú ý đến việc giáo dục chất lượng học sinh, tuy nhiên có
một số ít giáo viên thiếu sự quan tâm đến học sinh hoang nghịch, cách ứng xử và
giao tiếp trong cuộc sống.
- Một số giáo viên chưa tích cực tổ chức phương pháp dạy học tích cực, tạo điều
kiện để học sinh học nhóm, trao đổi kinh nghiệm học tập lẫn nhau.
- Kĩ năng giáo dục yêu cái đẹp, thực hành viết chữ đẹp chưa được chú ý.
b.2. Đối với giáo viên bộ môn
- Giáo viên dạy bộ môn chưa được tập huấn dạy học các bài phải tích hợp rèn
luyện kỹ năng sống cho học sinh. Giáo viên chưa chú trọng rèn kĩ năng thực hành,
quật suốt ngày kiếm sống, hoặc quá bận rộn kinh doanh hay công tác, hoặc vì ăn
chơi nghiện ngập chẳng bao giờ nhòm ngó đến con, thậm chí còn hành hạ. Bao
nhiêu sóng gió lớn nhỏ trong gia đình tác động sâu sắc đến tâm tư của trẻ, cản trở
việc học tập . Nhưng có được bao nhiêu thầy cô thông cảm với các em, đứng trước
một học sinh lơ đãng như vậy thì mỗi giáo viên cần phải xác định cho mình một
phương pháp giáo dục đúng đắn.
2. Tính thiết yếu của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
-Thực hiện nghị quyết 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ
giáo dục và đào tạo về việc phát động phong trào thi đua: "Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực" trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013,
trong đó có nội dung : Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh phù hợp với lứa tuổi
của học sinh.
-Căn cứ nhiệm vụ năm học của ngành, của trường về việc chú trọng rèn luyện kĩ
năng sống cho học sinh.
-Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết của xã hội,
các em không chỉ biết học giỏi về kiến thức mà còn phải được tôi luyện những kĩ
năng sống qua đó tạo cho các em một môi trường lành mạnh, an toàn, tích cực, vui
vẻ để trang bị cho các em vốn kiến thức, kĩ năng, giá trị sống để bước vào đời tự tin
hơn.
II.Cơ sở thực tiễn:
-Ngày nay học sinh rất ít có hoài bão, ước mơ. Phụ huynh vì bận nhiều công việc
nên ít quan tâm giúp đỡ con em trong các hoạt động cần thiết, làm cho các em rất
3
rụt rè thiếu tự tin khi giao tiếp họăc tham gia các hoạt động bởi các em bị cuốn hút
theo các trò chơi điện tử và hệ thống ảo trên hệ thống Internet. Đây là những trò
chơi làm cho các em xa lánh với môi trường sống thực tế và thiếu sự tương tác giữa
con người với con người, kĩ năng xã hội của học sinh ngày càng kém. Điều này dẫn
đến tình trạng học sinh trở nên ích kỉ, không quan tâm đến cộng đồng. Câu hỏi mà
-Tổ chức học sinh thu nhập, tìm kiếm và chọn lựa các thông tin . Trên cơ sở các
nguồn tri thức và vốn hiểu biết của học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát,
phân tích, so sánh, hệ thống hoá kiến thức bước đầu khái quát hoá , tìm ra mối liên
hệ giữa các sự vật , hiện tượng.
-Có thể tổ chức cho học tập cả lớp , theo nhóm hoặc cá nhân với mục đích tăng
cường khả năng độc lập suy nghĩ , sáng tạo của học sinh, đồng thời phát triển mối
giao lưu , tương tác giữa thầy và trò, giữa trò và trò .
3. Một số biện pháp rèn luyện KNS cho học sinh tiểu học
- Thực tế các kĩ năng này được đưa vào mục tiêu cụ thể từng môn học, bài học mà
tập trung nhiều nhất là môn Đạo đức và Tiếng Việt. Để có hiệu quả cao, chúng ta
cần tổ chức tốt các biện pháp sau:
4
+ Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo của học
sinh gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong phú, sử dụng thiết bị dạy học và ứng
dụng công nghệ thông tin trong dạy học, luôn tạo cho các em tính chủ động, tích
cực, hứng thú trong học tập; phát huy tính sáng tạo, tạo được bầu không khí cởi mở
thân thiện của lớp của trường. Trong giờ học, giáo viên cần tạo cơ hội cho các em
được nói, được trình bày trước nhóm bạn, trước tập thể, nhất là các em còn hay rụt
rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần tích lũy kĩ năng sống cho các em.
+ Quán triệt mục tiêu giảng dạy môn Đạo đức, nhất là hình thành các hành vi đạo
đức ở tiết 2. Giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác kiểm tra đánh giá phân loại hạnh
kiểm của học sinh, rèn cho học sinh khả năng tự học, tự chăm sóc bản thân, biết lễ
phép, hiếu thảo, tự phục vụ bữa ăn và vệ sinh cá nhân.
+ Tổ chức tốt hoạt động ngoại khóa, “diễn đàn” ở phạm vi lớp khối của mình. Mỗi
năm học sẽ có một số chủ đề rèn luyện kĩ năng sống được triển khai. Trong đó nhà
trường cần phát huy vai trò của tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh và Sao nhi đồng
theo các chủ điểm hàng tháng. Đưa trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại hình
sinh hoạt văn hóa dân gian vào trường học, qua đó mà rèn luyện Kĩ năng sống cho
MỤC TIÊU GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH QUA MÔN ĐẠO ĐỨC
Con
ngoan
Trò giỏi
Công dân
tốt
+ Bước đầu trang bị cho học sinh các kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa
tuổi.
+ Hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại
bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực.
+ Phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh.
+ Rèn cho học sinh biết cách tự phục vụ bản thân và vệ sinh cá nhân, giữ gìn
vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường.
+ Rèn cho học sinh biết cách giao tiếp và ứng xử phù hợp và linh hoạt trong
cuộc sống hằng ngày.
+ Hướng dẫn học sinh biết cách phối hợp công việc của từng cá nhân khi làm
việc đồng đội.
+ KNS giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành
+ Biết sống tích cực, chủ động
+ Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và
phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Thông qua môn Đạo đức, kiến thức được hình thành trên cơ sở từ việc quan sát
tranh, từ một truyện kể, một việc làm, một hành vi, chuẩn mực nào đó, sau đó rút ra
bài học. Từ bài học đó các em liên hệ thực tế xung quanh, bản thân, gia đình và xã
Việt Nam; tổ quốc em đang thay đổi từng ngày
và đang hội nhập vào đời sống quốc tế.
Hỏi: Bài hát nói về điều gì?
Gv kết luận: Bài hát nói về tình yêu tổ quốc
Việt Nam
Hoạt động 2:Hiểu biết của HS về tổ quốc
Việt Nam
Mục tiêu: Có một số hiểu biết phù hợp với lứa
tuổi về lịch sử, văn hóa và kinh tế của Tổ quốc
Việt Nam.
GV viết 2 từ Việt Nam lên bảng và nêu câu hỏi
động não:
Các em biết gì về tổ quốc Việt Nam của chúng
ta?
GV kẻ bảng và ghi tóm tắt ý kiến của học sinh
theo từng cụm nội dung.
2.KẾT NỐI
Hoạt động 3:Thảo luận nhóm
+ Mục tiêu: HS biết được một số đặc trưng
về tổ quốc việt nam
+ Cách tiến hành
GV yêu cầu học sinh đọc các thông tin trang
34/SGK kết hợp một số tranh ảnh thảo luận :
-Em có cảm nghĩ như thế nào về đất nước và
con người Việt Nam?
-HS chúng ta cần làm gì để thể hiện tình yêu
đối với Tổ Quốc?
GV nhận xét kết luận: : Tổ quốc chúng ta là
nước VN, chúng ta rất yêu quý và tự hào về tổ
quốc mình, tự hào mình là người VN.
tập1, 2 SGK
- HS thực hiện
- HS làm việc cá nhân
- Một số em trình bày trước lớp
GV: Quốc kì VN là lá cờ đỏ, ở giữa ngôi sao
vàng năm cánh
- Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc VN, là
danh nhân văn hoá thế giới
- Văn Miếu nằm ở Thủ đô Hà Nội, là trường
đại học đầu tiên ở nước ta
- Áo dài VN là một nét văn hoá truyền thống
của dân tộc ta
Về nhà:
- Nhận xét tiết học
- Dặn HS về sưu tầm các bài hát, bài thơ về đất
nước và con người Việt Nam.
b.Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn Khoa học.
* Có 4 bước chính:
+ Khám phá: HS đã biết gì, chưa biết gì về vấn đề đưa ra?
+ Kết nối: Kết nối nội dung mới của bài. Giải quyết tất cả những kiến thức
mới.
+ Thực hành: Đưa ra những tình huống, những nội dung, những trò chơi để
vận dụng kiến thức đó.
+ Vận dụng: Tùy ở từng hoàn cảnh từng em, chúng ta có bài vận dụng (các
em nắm được thông tin nào về bài học).
Bài soạn minh họa: PHÒNG TRÁNH BỊ XÂM HẠI.
I. Mục tiêu: Sau bài học, HS có khả năng:
- Nêu được một số tình huống có thể dẫn đến nguy cơ quy bị xâm hại và những
điểm cần chú ý để phòng tránh bị xâm hại.
- Rèn luyện kĩ năng ứng phó với nguy cơ bị xâm hại
xâm hại ?
- GV chốt: Trẻ em có thể bị xâm hại dưới nhiều
hình thức. Các em cần lưu ý trường hợp trẻ em bị
đòn, bị chửi mắng cũng là một dạng bị xâm hại.
2.KẾT NỐI:
Hoạt động 2:Quan sát và thảo luận nhóm
MT:Nêu được một số tình huống có nguy cơ bị
xâm hại.
Phương pháp:
Bước 1:Làm việc nhóm
GV chia lớp thành các nhóm nhỏ yêu cầu quan sát
hình 1,2,3 SGK trao đổi nội dung từng hình và
chia sẻ kinh nghiệm trong thực tế để viết ra thẻ
màu tình huống có thể dẫn đến nguy cơ bị xâm hại
Bước 2:Làm việc chung
-GV mời từng nhóm lần lượt báo cáo những điều
đã liệt kê ra
-HS đọc to và dán các thẻ màu của nhóm mình lên
bảng, phân biệt 2 cột nguy cơ và việc cần làm để
phòng tránh.
-GV đưa ra những gợi ý để HS thảo luận về những
nguy cơ có thể xảy ra ở tình huống này; cũng như
các cách để phòng tránh nguy cơ bị xâm hại.
-Gọi HS đọc to lại kết quả trên bảng.:
Đi một mình nơi tối tăm, vắng vẻ; ở trong phòng
kín một mình với người lạ; bị người khác có hành
động gây khó chịu đối với bản thân; đi nhờ xe
người lạ; nhận quà có giá trị đặc biệt hoặc sự chăm
sóc đặc biệt của người khác mà không rõ lí do.
GV nhấn mạnh một số điểm cần lưu ý để phòng
trước dán lên bảng.
-Nhiệm vụ mỗi nhóm là đóng vai ứng xử để thoát
khỏi tình huống có nguy cơ của nhóm mình.
*Bước 2: Làm việc chung
-Từng nhóm thể hiện cách ứng xử của nhóm
mình .
*Bước 3: Thảo luận chung
Hướng dẫn cả lớp thảo luận chung câu hỏi: Trường
hợp bị xâm hại chúng ta cần làm gì?
- GV kết luận ghi bảng: Tìm cách tránh xa kẻ đó
như: đứng dậy, lùi xa để kẻ đó không chạm được
vào người.
- Nói với kẻ đó: hãy dừng lại, nói kiên quyết về ý
định sẽ báo cáo với người lớn về hành vi của kẻ
đó.
- Bỏ đi khỏi chỗ đó.
- Kể với những người tin cậy để được giúp đỡ.
4.VẬN DỤNG
Hoạt động 4: Vẽ bàn tay tin cậy
MT: HS kể ra được các địa chỉ, người tin cậy sẽ
giúp đỡ khi bị xâm hại.
-GV phát cho mối nhóm một tờ giấy yêu cầu cả
lớp xòe bàn tay của mình ra vẽ in lên giấy.. .
- Yêu cầu HS vẽ trên mỗi đầu ngón tay ghi tên
một người mà mình tin cậy, có thể nói với họ
những điều bí mật đồng thời họ cũng sẵn sàng chia
sẻ, giúp đỡ mình, khuyên răn mình…
- GV nghe HS trao đổi hình vẽ của mình với
người bên cạnh.
- GV gọi một vài em nói về “bàn tay tin cậy” của
bạn thân
- HS đổi giấy cho
nhau tham khảo
-Các nhóm khác
nhận xét, bổ sung
-HS kể ra các cách
ứng xử phù hợp
-HS nghe
c. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt
Môn tiếng việt là một trong những môn học ở cấp tiểu học có khả năng giáo
dục kĩ năng sống khá cao, hầu hết các bài học đều có thể tích hợp giáo dục kĩ năng
10
sống cho học sinh ở những mức độ nhất định.
-Số lượng phân môn nhiều
-Thời gian dành cho môn học chiếm tỉ lệ cao
* Mục tiêu và nội dung giáo dục kĩ năng sống qua môn Tiếng Việt:
- Giúp học sinh bước đầu hình thành và rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết, phù
hợp lứa tuổi; nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn
nhận, đánh giá đúng về bản thân; biết ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ; biết
sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
- Nội dung giáo dục kĩ năng sống được thể hiện ở tất cả các nội dung học tập của
môn học.
- Những kĩ năng sống chủ yếu đó là: Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng tự nhận thức;
-Kĩ năng suy nghĩ sáng tạo; Kĩ năng ra quyết định; Kĩ năng làm chủ bản thân.
Bài soạn minh họa: LỚP TRƯỞNG LỚP TÔI (KỂ CHUYỆN )
I. Mục tiêu:
-Em thích lớp trưởng của em là nam hay nữ? vì sao? ra phiếu trình bày
- Nêu những mong muốn của em về lớp trưởng?
trước lớp
-Giáo viên giới thiệu tên câu chuyện và nêu nhiệm
vụ của học sinh trong giờ học.
-2 HS trả lời
11
2.KẾT NỐI
Hoạt động 2:Giáo viên kể chuyện
GV giao việc cho các nhóm:
-Quan sát và nêu nội dung tranh trong sách giáo
khoa.
-Sắp xếp tranh theo thứ tự hợp lí và kể lại nội dung
câu chuyện theo phán đoán.
Gọi các nhóm trình bày
*Giáo viên giới thiệu nội dung câu chuyện
Giáo viên kể chuyện lần 1.
-Giải nghĩa một số từ ngữ khó.
GV yêu cầu học sinh nêu tên các nhân vật trong câu
chuyện
Giáo viên kể chuyện lần 2. Kết hợp tranh SGK
Giáo viên kể chuyện lần 3 hoặc cho HS viết theo
dạng sơ đồ về những đặc điểm nổi bậc của bạn Vân
Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh kể
chuyện và trao đổi về ý nghĩa câu chuyện
GV nêu yêu cầu 1 trong SGK: yêu cầu học sinh
quan sát lần lượt từng tranh minh họa, tập kể từng
đoạn câu chuyện theo cặp.
-Lớp nghe
-HS trả lời
- HS nhắc lại
-Học sinh kể chuyện
theo nhóm, các nhóm
khác nhận xét ,bổ
sung
-HS trả lời
-HS kể chuyện
-Hs thực hiện
IV. Hiệu quả
a.Kết quả thực hiện
-Qua việc thực hiện các biện pháp trên, đến cuối học kì II, tôi thấy các em có tiến bộ
rõ rệt. Đa số các em đều có ý thức tốt trong việc rèn luyện các kĩ năng, được thể
hiện rõ qua: Việc sinh hoạt hằng ngày trên lớp, các em biết vận dụng những lời nói
thân thiện vào thực tế, những lời chào, cảm ơn hay xin lỗi... đã trở thành thói quen,
được các em vận dụng hằng ngày, đặc biệt các em biết tự sắp xếp đồ dùng học tập
của mình và nâng cao ý thức tự phục vụ.
-Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể tốt: biết cách ứng xử hài hoà . Chữ
viết có tiến bộ
-Học sinh thực hành thảo luận nhóm trong một số tiết học đã biết cách lắng
nghe, hợp tác .
b. Bài học rút ra qua thực nghiệm đề tài.
Là giáo viên, tôi hiểu rõ tầm quan trọng trong công tác trồng người. Vì thế, bản
thân tôi luôn cố gắng trau dồi sách vở, học hỏi từ đồng nghiệp cũng như đúc kết
kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, nâng cao đạo đức và chuyên môn. Tôi đã luôn
13
thời kỳ đất nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trước mắt giúp cho các
em đổi mới phương pháp, tích cực học tập và biết tự điều chỉnh hành vi, tự giác
chấp hành tốt nội qui nhà trường. Hiện nay nhiều trường học từ bậc học Mầm non
đến Trung học phổ thông đều chưa thật xem trọng hoạt động giáo dục và rèn luyện
kỹ năng sống cho học sinh. Nội dung của phong trào “ Đẩy mạnh và đa dạng hóa
hoạt động giáo dục rẻn luyện kỹ năng sống cho học sinh” là mô hình hoạt động
mang tính lâu dài và bền vững, bởi hoạt động giáo dục rẻn luyện kỹ năng sống cho
học sinh trong nhà trường hiện nay là một hoạt động thiết thực mang tính chiến
lược nhằm xây dựng nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa và hiện
đại hóa đất nước.
14
II. Ý nghĩa
Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết của xã hội,
các em không chỉ biết học giỏi về kiến thức mà còn phải được tôi luyện những kĩ
năng sống qua đó tạo cho các em một môi trường lành mạnh, an toàn, tích cực, vui
vẻ .Việc giáo dục kĩ năng sống ngay từ lớp nhỏ sẽ rút ngắn thời gian để trang bị cho
các em vốn kiến thức, kĩ năng, giá trị sống để làm hành trang bước vào đời.
Luôn tạo mọi điều kiện để các em có thể bày tỏ, thể hiện mình, tham gia tốt các
buổi hoạt động ngoại khóa của trường, lớp. Điều quan trọng là mỗi thầy cô giáo
phải rèn cho mình tác phong sinh hoạt chuẩn mực, phải hết lòng thương yêu, gần
gũi với học sinh .Sống, học tập, lao động là những vấn đề thiết yếu mà tôi luôn cố
gắng để ươm mầm cho thế hệ trẻ. Bởi trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai
của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, là nhân tố
để cây đời mãi mãi xanh tươi. Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em, bồi dưỡng trẻ em