skkn “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học” - Pdf 44

Đề tài
“Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học”

PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ Lí do chọn đề tài:
Ở bậc tiểu học là bậc tạo nền tảng cho học sinh phát triển, vì vậy ngoài việc
trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản trong học tập, lao động còn phải giáo
dục học sinh có kĩ năng sống, kĩ năng làm người để học sinh có thêm kinh nghiệm
thích ứng với môi trường, xã hội mới.
Trong thực tế hiện nay, việc rèn kĩ năng sống của các em ở trường tiểu học còn thấp và
nhiều hạn chế. Việc rèn kĩ năng sống cho học sinh chưa có nét chuyển biến, nguyên nhân
chính là do trong tư tưởng giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy kiến thức; việc
rèn kĩ năng sống cho học sinh còn chiếu lệ, giáo viên luôn chú trọng đến việc dạy kiến
thức sao cho học sinh của mình đọc tốt, viết văn hay, làm tính tốt….
Từ năm học 2010-2011, Bộ GD-ĐT đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng
ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn.
Năm học 2016-2017 là năm học tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “Xây
dưng trường học thân thiện, học sinh tính cực” việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh là một trong những nội dung của phong trào. Chính vì vậy nên các nhà trường
cần chú trọng hơn đến nội dung “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh”.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh giúp học sinh tự giải quyết được một số
vấn đề thiết thực trong cuộc sống hằng ngày như: tự chăm sóc sức khỏe, bảo vệ
môi trường và phòng chống các tệ nạn xã hội,… để các em chủ động, tự tin không
phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệ mình.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng cho học sinh, tôi đã
chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học”.
1. Mục đích đề tài:
a) Đối tượng nghiên cứu
Học sinh tiểu học, cụ thể là học sinh lớp 3/C trường tiểu học Ninh Lộc.
b) Cơ sở nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa vào thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở trường tiểu học, và cụ

cho trẻ.
- Bên cạnh đó, bản thân nhận được một tập thể học sinh khá ngoan và biết vâng lời, các em
gần gũi với cô giáo. Ngoài ra, ban lãnh đạo nhà trường luôn theo sát, quan tâm, hỗ trợ cho
giáo viên trong công tác giảng dạy cũng như giáo dục. Chính vì thế bản luôn cố gắng làm
sao rèn cho các em kĩ năng sống, giúp các em có một niềm tin, phát triển một cách toàn
diện để trở thành con người năng động, sáng tạo phù hợp với một xã hội hiện đại đang phát
triển.
2/ Khó khăn:
a.Về phía giáo viên:
- Giáo viên thường tập trung lo lắng cho những em có những vấn đề về hành vi và khả
năng tập trung kém. Những học sinh này thường không có khả năng chờ đến lượt,
không biết chú ý lắng nghe và không biết làm việc theo nhóm, điều này làm cho HS
không thể tập trung lĩnh hội những điều giáo viên dạy. Vì vậy, giáo viên phải tốn rất
nhiều thời gian đầu tư để giúp HS có được những kĩ năng sống cơ bản ở trường tiểu
học.
- Vẫn còn có GV chưa nắm chắc về nội dung giáo dục kĩ năng sống theo từng khối lớp,
gồm có những kĩ năng sống cơ bản nào, chưa biết vận dụng từ những kế hoạch định
2


hướng chung của nhà trường để đưa vào kế hoạch cụ thể rèn kĩ năng sống cho học sinh
của lớp mình.
- Một bộ phận giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở sách giáo khoa nên chưa đầu tư thời
gian tìm tòi nghiên cứu các hình thức và phương pháp tổ chức cho các hoạt động rèn kĩ
năng sống nên chưa tạo được sự hứng thú học tập cho học sinh.
b. Về phía học sinh:
- Một bộ phận học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy cô giáo, ít
sáng
tạo,

mực
nên
các
em
bắt
chước
xưng

chưa
đúng.
Đồng thời có phụ huynh chiều chuộng con cái khiến trẻ không có kĩ năng tự phục vụ,
phụ huynh chỉ chú ý đến khâu chăm con ăn uống mà không chú ý đến dạy con mình
cần ăn, uống như thế nào, sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống thế nào cho
đúng? Và vì sao chúng ta cần những đồ dùng, vật dụng đó? Những đồ dùng đó để làm
gì?.....
3/ Thực trạng chung của vấn đề:
a. Đặc điểm chung của nhà trường
Trường nằm trong địa bàn khu vực gần chợ, gần đường ray xe lửa. Đa số người dân
làm nghề buôn bán và lao động là chính vì vậy điều kiện kinh tế gia đình gặp nhiều khó
khăn. Nhiều học sinh phải ở nhà với ông bà vì bố mẹ đi làm ăn xa, nên thiếu sự quan tâm
dạy dỗ của bố mẹ. Đây chính là điều kiện tốt để các tệ nạn xã hội xâm nhập vào các em
nếu không có sự quản lý tốt của nhà trường - gia đình - xã hội .
b. Thực trạng việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường
3


- Giáo viên cơ bản chỉ chú ý đến việc giáo dục chất lượng học sinh, ít quan tâm đến
những học sinh còn nghịch ngợm, chưa biết cách ứng xử với bạn bè, giáo viên.
- Giáo viên chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học, trong các tiết học học sinh còn
thụ động, chưa phát huy được năng lực của mình.

với
chất
lượng
cao.
- Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ
năng sống là năng lực cá nhân để họ thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia
vào cuộc sống hàng ngày, những kỹ năng đó gắn với 4 trụ cột của giáo dục:
Học để biết: gồm các kĩ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định
vấn
đề,
nhận
thức
được
hậu
quả
của
việc
làm…;
Học để làm việc: gồm kĩ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như kỹ năng đặt
mục
tiêu,
đảm
nhận
trách
nhiệm..;
Học để khẳng định mình: gồm các kĩ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng,
kiểm
soát
cảm
xúc,

dân tộc. Kĩ năng sống mang tính cá nhân bởi vì đó là khả năng của mỗi cá nhân.
Mặt khác kĩ năng sống có tính xã hội là vì trong mỗi giai đoạn của sự phát triển xã
hội, mỗi tôn giáo, cá nhân được yêu cầu để có sự phù hợpvới những kĩ năng sống
ấy. Ví dụ: kĩ năng sống của những người sống ở những vùng miền khác nhau có sự
khác
nhau…
2.
Đặc
điểm
tâm
sinh

trẻ:
- Đặc điểm về thể chất của trẻ: Cơ thể trẻ em là nền tảng vật chất của trí tuệ và
tâm hồn. Nền tảng có vững thì trí tuệ và tình cảm mới có khả năng phát triển tốt.
“Thân thể khoẻ mạnh thì chứa đựng một tinh thần sáng suốt”, ngược lại “tinh thần
sáng suốt thì cơ thể có điều kiện phát triển”. Trong cuộc sống thực tế cho thấy
những trẻ có thể lực yếu thường hay ỷ lại, phụ thuộc nhiều vào những người thân
trong gia đình những việc làm tự phục vụ mà lẽ ra chính trẻ phải tự làm, tự lập dần:
rửa
chân
tay,
mặc
quần
áo,...
- Một yếu tố nữa ảnh hưởng đến việc tự lập của học sinh là hệ thần kinh của trẻ. Hệ
thần kinh của trẻ tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh. Bộ óc của các em
phát triển về khối lượng, trọng lượng và cấu tạo. Đến 9, 10 tuổi hệ thần kinh của trẻ
căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ được giữ lại trong suốt cuộc đời.
Khả năng kìm hãm(khả năng ức chế) của hệ thần kinh còn yếu. Trong khi đó bộ óc

GV
phải
đi
tìm,
....
- Đặc điểm quá trình nhận thức của trẻ bao gồm quá trình tri giác, chú ý,trí
nhớ, tưởng tượng, tư duy. Đặc điểm nhân cách của trẻ tiểu học gồm có: tính cách,
nhu cầu nhận thức, tình cảm, sự phát triển của năng khiếu. Sự nhận thức của trẻ ảnh
hưởng rất lớn đến phát triển nhân cách, ảnh hưởng đến việc hình thành và rèn luyện
kĩ năng sống của trẻ. Sự nhận thức đúng đắn sẽ giúp trẻ có được kiến thức vận
dụng trong cuộc sống sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử phù hợp với yêu cầu chuẩn mực
xã hội. Một đặc điểm quan trọng trong lứa tuổi tiểu học là tính hay bắt chước. HS
tiểu học thích bắt chước hành vi, cử chỉ, lời nói,... của các nhân vật trong phim, của
các thầy cô giáo, của những người thân trong gia đình. tính bắt chước là con dao
“hai lưỡi”, vì trẻ em bắt chước cái tốt cũng nhiều, cái xấu cũng nhiều. Chính vì vậy
những tính cách hành vi của những người xung quanh là môi trường ảnh hưởng
trực tiếp đến tính cách, hành vi, ứng xử của trẻ.
II. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Kĩ năng sống được giáo dục ở nhà và ở trường. Kĩ năng sống được giáo dục trong các
môn học chính khóa và ngoại khóa. Giáo dục kĩ năng sống cần bắt đầu từ nhỏ, từ từng
hành vi cá nhân đơn giản nhất, theo đó hình thành tính cách và nhân cách. Cụ thể cần phải
áp dụng một số biện pháp sau:
1/ Xác định những kĩ năng sống cơ bản cần dạy học sinh ở lứa tuổi tiểu học:
Đối với tâm sinh lý học sinh bậc tiểu học thì có nhiều kĩ năng quan trọng mà các em cần
phải biết trước khi tập trung vào học văn hóa đặc biệt là học sinh độ tuổi lớp 1. Thực tế kết
quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy các kĩ năng quan trọng nhất học sinh cần phải học
vào thời gian đầu của năm học chính là những kĩ năng sống như: sự hợp tác, tự kiểm soát,
tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Việc xác định được các kĩ năng
cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng nội dung trọng tâm để dạy học
sinh.

các tình huống thật trong cuốc sống.
2/ Cụ thể hóa nội dung của những kĩ năng cơ bản mà giáo viên cần dạy HS
- Kĩ năng hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, một vấn đề, một bài hát giáo viên giúp
trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với các em học
sinh lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp các em biết cảm thông và cùng làm việc với
các
bạn.
- Kĩ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kĩ năng
quan trọng nhất cần có ở các em vào giai đoạn này là sự khát khao được học. Người giáo
viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khơi gợi tính tò mò tự nhiên của
các em. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu
mang tính chất khác lạ thường khơi gợi trí não nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước
được.
- Kĩ năng giao tiếp: Giáo viên cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của
mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới
xung quanh nó. Đây là một kĩ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ. Nó có vị trí chính
yếu khi so với tất cả các kĩ năng khác như đọc, viết, làm toán và nghiên cứu khoa học. Nếu
các em cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào đó, các em sẽ trở
nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần
thiết
để
giúp
học
sinh
sẵn
sàng
học
mọi
thứ.
- Kĩ năng sống tự tin : Một trong những kĩ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát


năng
khi
các
em
được
làm
việc
đó.
Ngoài ra, ở nhà trường giáo viên cần dạy học sinh nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó
dạy các em kĩ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa tay sạch sẽ trước
khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống
một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn,
ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất
đúng chỗ bát, chén, thìa … hoặc biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, không làm
7


ảnh
hưởng
đến
người
xung
quanh.
Nguyên tắc tiến trình và nguyên tắc thay đổi hành vi: Giáo viên không thể giáo dục kỹ
năng sống trong một lần mà kỹ năng sống là một quá trình từ nhận thức- hình thành thái
độ- thay đổi hành vi. Thay đổi hành vi của một con người đặc biệt hành vi tốt là quá trình
khó khăn. Do vậy giáo dục kỹ năng sống không thể là ngày một ngày hai mà phải là cả
một quá trình.
3/ Tạo môi trường thực hiện nhiệm vụ giáo dục kĩ năng sống

chia nhiều ngăn để sách, truyện nhiều kích cở, vừa tầm các em bổ sung sách thư viện các
loại sách nội dung hay trang trí đẹp hấp dẫn thu hút được GV và HS đọc sách. Tới thư viện
đọc sách cùng nhiều bạn bè, thầy cô HS cũng có điều kiện để rèn kĩ năng sống cho bản
thân.( Phụ lục 5)
4/ Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học thông qua các môn học:
4.1. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học qua môn Tiếng Việt:
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh
các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động
của lứa tuổi. Thông qua hoạt động dạy và học môn Tiếng Việt góp phần rèn luyện thao tác
tư duy, góp phần mở rộng hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người. Kĩ năng sống đặc thù,
thể hiện ưu thế của môn Tiếng Việt là kĩ năng giao tiếp, sau đó là kĩ năng nhận thức, bao
gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức, ra quyết định. Trong sách giáo khoa
Tiếng Việt Tiểu học, có nhiều bài học mà tên gọi của nó đã nói rõ mục tiêu giáo dục các kĩ
năng giao tiếp xã hội như: Lập danh sách học sinh, Lập thời gian biểu, Viết nhắn tin, Làm
biên bản cuộc họp, ……
Bài soạn minh họa ( Phụ lục 1)
4.2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học qua môn Đạo đức:
Bản thân nội dung môn Đạo đức đã chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng sống
như: kĩ năng giao tiếp, ứng xử (với ông, bà, cha, mẹ, anh chị em, bạn bè, thầy cô giáo và
mọi người xung quanh), kĩ năng bày tỏ ý kiến của bản thân ….. Việc Giáo dục kĩ năng
8


sống cho học sinh Tiểu học trong môn Đạo đức nhằm bước đầu trang bị cho học sinh các
kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi Tiểu học, giúp các em biết sống và ứng xử phù
hợp trong các mối quan hệ với những người thân trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè
và những người xung quanh; với cộng đồng, quê hương, đất nước và với môi trường tự
nhiên; giúp các em bước đầu biết sống tích cực, chủ động, có mục đích, có kế hoạch, tự
trọng, tự tin, có kỉ luật, biết hợp tác, tiết kiệm, gọn gàng, ngăn nắp, vệ sinh,...để trở thành
người con ngoan trong gia đình, học sinh tích cực của nhà trường và công dân tốt của xã

9


hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính
mình và người khác.
Một số hình ảnh về hoạt động ngoài giờ lên lớp của lớp 3C tại trường tiểu học
Ninh Lộc
( Phụ lục 4 )

5/ Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học thông qua công tác chủ nhiệm lớp
Làm chủ nhiệm là một nghệ thuật, đòi hỏi người giáo viên phải là tấm gương sáng
cho học sinh noi theo về lời ăn, tiếng nói, tác phong làm việc cho đến trình độ chuyên
môn; quan hệ với trò như người thân để trò cảm thấy vừa gần gũi, vừa đáng tin cậy; kiên
trì giáo dục học sinh theo kiểu mưa dầm lâu thấm đất.
Trước đây, giáo viên chủ nhiệm chủ yếu là định hướng, hướng dẫn hành vi đạo đức
cho HS. Hiện nay giáo viên chủ nhiệm không chỉ làm công tác chuyên môn mà còn phải
có tình cảm để giải quyết những tình huống phát sinh của học sinh trong lớp. Vì thế ngoài
việc phải đảm bảo nội dung lên lớp vừa tạo sự hấp dẫn, sáng tạo, mới mẻ, gây hứng thú
học tập cho . Và điều không thể thiếu là người giáo viên chủ nhiệm phải có tâm huyết với
nghề và tình yêu thương đối với HS.
Vậy để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học thông qua công tác chủ nhiệm
lớp thì mỗi người giáo viên chủ nhiệm cần:
- Tăng cường giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua các hình thức dạy học của
mình, qua các giờ sinh hoạt để giáo dục đạo đức và nhân cách cho học sinh.
- Xây dựng hành vi giao tiếp giữa “Thầy với thầy, trò với trò, thầy với trò” rèn luyện kĩ
năng ứng xử văn hoá, lên án mọi hành vi bạo lực học đường và xã hội.
- Thường xuyên liên hệ với cha mẹ học sinh, kịp thời nắm bắt thông tin, cùng kết hợp với
cha mẹ học sinh rèn cho học sinh kĩ năng ứng xử văn hoá, rèn luyện sức khoẻ phòng
chống bạo lực.
- Nâng cao ý thức tự nguyện, tự giác, tự chủ phát huy được tính tích cực trong việc rèn

-Cô giáo, cha mẹ cần dạy các em những nghi thức văn hóa trong ăn uống, biết cách sử
dụng các đồ dùng ăn uống; Cụ thể: Các em được làm quen với những đồ dùng, vật dụng
khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp,
sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ tốn, không
vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu…
tất cả những yếu tố trên sẽ giúp các em có thói quen tốt để hình thành kĩ năng tự phục vụ
và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này.
III. Hiệu quả của đề tài nghiên cứu:
1. Kết quả thực hiện:

Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự đồng thuận hợp
tác của các bạn đồng nghiệp, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ đã giúp tôi đã áp dụng
sáng kiến vào HS khối 3 cụ thể là lớp 3C và đạt được kết quả trong việc dạy các kĩ năng
sống

bản
thể
hiện

các
kết
quả
sau:
Kết quả cho thấy HS ngoan hơn, tự giác hơn, chủ động, mạnh dạn hơn tự tin, ứng xử khá
phù
hợp
trong
mọi
tình
huống.

dụng
biện
pháp
trên.
+ Nội dung khảo sát : Kĩ năng hợp tác qua việc thảo luận nhóm .
Khảo sát qua quan sát HS thực hành thảo luận nhóm trong một số tiết Tự nhiên xã hội.
Bảng khảo sát ( Phụ lục 5 )
Qua so sánh kĩ năng hợp tác của HS 2 lớp cho thấy các biện pháp nêu trên được áp dụng ở
lớp 3C đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Số HS có kĩ năng hợp tác ở lớp 3C nhiều hơn so với
lớp
3B.
+ Nội dung khảo sát : Kĩ năng ứng xử trong các tình huống:
Khảo sát qua quan sát HS hoạt động xử lý tình huống trong một tiết Đạo đức:
Bảng khảo sát (Phụ lục 5 )
Qua kết quả khảo sát, ta thấy số lượng HS biết ứng ứng xử phù hợp ở lớp 3C nhiều
hơn
hẳn

lớp
3B.
Kết
quả
rèn

năng
sống
lớp
3C
như
sau:

tiến
.
*
Về
phía
giáo
viên
Giáo viên gần gũi chuyện trò với học sinh hơn, giải quyết hợp lý, công bằng với mọi tình
huống
xảy
ra
giữa
các
em
học
sinh
trong
lớp.
Trong giảng dạy, GV đã chú ý đến hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm nhiều hơn.
12


Mạnh dạn, tự tin điều khiển các cuộc họp phụ huynh học sinh, biết tự chuẩn bị, phối hợp
chặt
chẽ,
trao
đổi
thừơng
xuyên
với


PHẦN C : KẾT LUẬN
I. PHẠM VI ỨNG DỤNG
Qua kết quả đã trình bày của sáng kiến kinh nghiệm về “ giáo dục rèn luyện kỹ năng
sống cho học sinh” thì đề tài này có khả năng ứng dụng rộng rãi vào các trường tiểu học
trong thị xã. Mô hình này rất dễ dàng thực hiện dành cho học sinh các trường với các hình
thức phong phú nêu trên, làm cho các em cảm nhận được kỹ năng sống, giá trị sống là
những kỹ năng, những chuẩn mực trong một xã hội văn minh. Nó có thể xem là hành trang
hết sức cần thiết cho các em trong cuộc sống, là những vốn sống không thể thiếu của một
người lao động chân chính trong thời kỳ đất nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Trước mắt giúp cho các em đổi mới phương pháp, tích cực học tập và biết tự điều
chỉnh hành vi, tự giác chấp hành tốt nội qui nhà trường. Nội dung của phong trào “ Đẩy
mạnh và đa dạng hóa hoạt động giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh” là mô hình
hoạt động mang tính lâu dài và bền vững, bởi hoạt động giáo dục rèn luyện kỹ năng sống
cho học sinh trong nhà trường hiện nay là một hoạt động thiết thực mang tính chiến lược
13


nhằm xây dựng nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước.
II. Ý NGHĨA
- Giáo dục kĩ năng sống trong trường học góp phần rèn luyện, hình thành cho
học sinh sống có trách nhiệm hơn và biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp, ứng phó
với các sức ép, thách thức trong cuộc sống; thúc đẩy hành vi mang tính xã hội,
giảm bớt tỷ lệ phạm pháp.
- Giáo dục kĩ năng sống còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy, trò,
sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả
giáo dục. Học sinh được giáo dục kĩ năng sống xác định được bổn phận và nghĩa
vụ của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết của xã hội, các


- Tự nhận thức.
- Lắng nghe tích cực.
II/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC :

- Tranh minh hoạ bài đọc trong sgk. Ảnh chụp một đoạn của sơng Hồng.
- Bảng phụ viết bài thơ để học thuộc lòng.
- Bảng phụ viết các dòng thơ hướng dẫn ngắt nhịp và nhấn giọng.
III/ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC :
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC
SINH
Hoạt động 1 : Luyện đọc
Hoạt động 2 : Hướng dẫn HS
tìm hiểu bài
Mục tiêu : HS trả lời được các - HS đọc thầm trả lời.
15


câu hỏi, nắm được nội dung bài - HS nối tiếp nhau trả lời, mỗi HS chỉ
cần nêu một ý :
đọc.
KNS: Tự nhận thức,KN lắng - HS lắng nghe.
nghe tích cực.
- HS trả lời.
Cách tiến hành :
- Đọc thầm khổ 1 và 2, trả lời câu hỏi :
Câu 1 : Mọi người, mọi vật xung quanh bé bận
những việc gì ? (Trời thu bận xanh, Sơng Hồng
-HS trả lời theo suy nghĩ của mình.
bận chảy, Xe bận chạy, Lịch bận tính ngày.....)

16


- Mời HS nhắc lại
Hoạt động 3 :Học thuộc lòng bài
thơ.
Hoạt động 4 : Củng cố – dặn

- Chuẩn bị bài sau : Các em nhỏ
và cụ già.
Nhận xét tiết học.

-

PHỤ LỤC 2
Bài soạn minh họa mơn Đạo dức( Hoạt động 1)
Bài: Chia sẻ vui buồn cùng bạn ( tiết 1)
I – Mục tiêu :Hs biết :
17


buồn.

- Bạn bè cần phải chia sẻ với nhau khi có chuyện vui

- Nêu được một vài việc làm cụ thể chia sẻ vui buồn
cùng bạn.
- Biết thể hiện cách ứng xử trước niềm vui và nỗi buồn của bạn.
- Hs biết quý trọng tình bạn và quan tâm chia sẻ buồn vui
cùng bạn.

Mục tiêu : Hs biết một số biểu
hiện của sự quan tâm chia sẻ vui
buồn cùng bạn.
KNS: Kó năng thể hiện sự cảm
thông trước suy nghó, cảm xúc
của người thân.

 Cách tiến hành :


Cho HS quan sát tranh và hỏi:

+ Tranh vẽ những ai?

- Hs quan sát tranh và trả lời

+ Cơ giáo nói gì với các bạn học sinh?


GV nhận xét và chuyển ý sang tình huống



Cho 1 Hs đọc tình huống.



GV nêu lại tình huống

-1 HS đọc

-HS c

- Chuyn ý qua BT2.
*Bi tp 2:
3.

Cuỷng coỏ Daởn doứ:

19


PHỤ LỤC 3
Bài soạn minh họa
Tự nhiên và xã hội (Tiết 15):

VỆ SINH THẦN KINH

I/ Mục tiêu : Sau khi học xong bài , HS có khả năng :
- Nêu được một số việc cần làm để giữ gìn, bảo vệ cơ quan thần kinh .
- Phát hiện những trạng thái tâm lí có lợi và có hại đối với cơ quan thần kinh.
- Kể được tên một số thức ăn, đồ uống,…nếu bị đưa vào cơ thể sẽ gây hại đối với cơ quan
thần kinh.
- Biết tránh những việc làm có hại đối với cơ quan thần kinh.
II/ Kĩ năng sống:
- Rèn kĩ năng tự nhận thức: Đánh giá được những việc làm của mình có liên quan đến hệ
thần kinh.
- Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thơng tin: Phân tích, so sánh, phán đốn một số việc làm, trạng
thái thần kinh, các thực phẩm có lợi hoặc có hại với cơ quan thần kinh.
III/ Đồ dùng dạy – học :
- Máy chiếu.

Hoạt động của học sinh :

b/ Kết nối:
Hoạt động 1: Việc nên và không nên làm để bảo
vệ cơ quan thần kinh.
* Mục tiêu: Nêu được một số việc nên làm và không
nên làm để giữ gìn, baûo veä cô quan thần kinh.
* PP: Quan sát, thảo luận, vấn đáp và giảng giải.
* Cách tiến hành:
- GV đưa 7 tranh yêu cầu học sinh quan sát và nêu
- HS quan sát các hình và nêu nội
nội dung từng tranh (mỗi em nêu 2 – 3 tranh).
dung. Lớp theo dõi, nhận xét.
- GV đưa câu hỏi, yêu cầu HS đọc - xác định yêu
cầu:
+ Câu hỏi: Theo bạn, việc làm nào có lợi, việc làm
nào có hại đối với cơ quan thần kinh? Vì sao?
- Dựa vào các bức tranh, các em hãy thảo luận nhóm
bàn nêu việc làm nào có lợi, việc làm nào có hại đối
- HS thảo luận nhóm bàn.
với cơ quan thần kinh ?
- Gọi đại diện các nhóm lên trình bày.
- GV đưa tranh và chốt.
* Những việc làm có lợi cho cơ quan thần kinh:
GV đưa tranh, yêu cầu học sinh giải thích.

- HS trình bày, nhóm khác nhận xét
bổ sung.
- HS giải thích.
+ Tranh 1: Một bạn đang nằm ngủ

+ Tranh 6: Bố mẹ chăm sóc bạn
- Khi nhận được sự quan tâm , chăm sóc của người nhỏ trước khi đến lớp- Giúp bạn
khác dành cho mình các em phải làm gì ?
vui vẻ và thấy tự tin hơn.
- GV chuyển ý.

- HS trả lời.

* Những việc làm có hại cho cơ quan thần kinh:
- Vì sao việc làm ở tranh 4 vừa có lợi lại vừa có hại?

- HS trả lời.

- Nếu chúng ta chơi điện tử quá nhiều và chơi các - HS giải thích
22


trò chơi không lành mạnh có thể gây nghiện, làm + Vì nếu chơi điện tử quá lâu thì
hại mắt, ảnh hưởng đến thời gian vui chơi, học tập mắt sẽ bị mỏi, thần kinh căng
và căng thẳng thần kinh….
thẳng,…

- Hàng ngày em thường đi ngủ và thức dậy lúc mấy
giờ ?
+ Tranh 3: Một bạn thức đến 11 giờ
- Các em nên đi ngủ sớm để đảm bảo sức khỏe và đêm để đọc sách -Thức quá khuya
thức dậy sớm để có thời gian ăn sáng, chuẩn bị sách để đọc sách làm thần kinh mệt mỏi.
vở đến trường…
- HS trả lời


1/ Tức giận ; 2/ Vui vẻ ; 3/ Lo lắng
4/ Sợ hãi
- GV gọi 4 nhóm thực hiện.
- Các nhóm khác quan sát và đoán xem:
+ Bạn đang thể hiện trạng thái nào trên khuôn mặt?
Nhận xét. (Nếu sai mời HS khác lên thể hiện lại)
- Vậy trong 4 trạng thái này, trạng thái nào có hại
cho cơ quan thần kinh? Giải thích?
- Đại diện 4 nhóm trình bày.

- Trong 4 trạng thái này em thích trạng thái nào? Vì
sao?

- Gọi bạn trả lời.
+ Có hại: tức giận, lo lắng, sợ hãi.

Vì các trang thái này sẽ làm
- Để có lợi cho cơ quan thần kinh chúng ta nên sống
người
đó căng thẳng, mất tự tin;
như thế nào?
nếu kéo dài sẽ bị trầm cảm, có thể
bị tâm thần,…
* GV chốt: Để có lợi cho cơ quan thần kinh chúng + Vui vẻ vì vui vẻ làm con người
ta nên sống vui vẻ, không làm việc căng thẳng, sống thoải mái, yêu đời, em sẽ học
không lo nghĩ, buồn bực, tức giận…
tập và làm việc đạt hiệu quả hơn.
- GV chuyển ý.

- HS trả lời

làm người dùng nó không từ bỏ được. Khi lên cơn,
họ có thể làm mọi việc như: trộm cắp, giết người
cướp của,… để lấy tiền mua thuốc. Họ có thể bị lây
nhiễm HIVS => chết. Các em tuyệt đối không được
sử dụng ma túy và cần tuyên truyền cho mọi người
hiểu rõ tác hại của nó.

- HS nêu
+ Cà phê có hại vì nó là chất kích
thích làm con người mất ngủ, làm
thần kinh căng thẳng.
+ Ma túy có hại vì nó là chất gây
nghiện, làm người sử dụng bị gầy
yếu, đau ốm…và dẫn đến chết.

Cho HS xem tranh.

- Rượu làm người dùng mất tự chủ, hành động
không ý thức nên dễ gây ra tai nạn khi lái xe, gây gổ
đánh nhau làm mất trật tự, làm mất hạnh phúc gia
đình…Cho HS liên hệ (có thể hỏi xem em nào đã
thấy người say rượu chưa? Họ như thế nào?)
+ Rượu gây hại vì nó là chất cồn,
làm người uống say, mất tự chủ,
hành động không có ý thức,…
- Không chỉ người dùng mà những người hít phải
khói thuốc lá cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Hằng năm,
Việt Nam có đến 40 000 người chết do thuốc lá. Vì
vậy, các em không được sử dụng và biết tuyên
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status