BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VI THỊ MY
NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ
TẠI CHỖ CỦA CH 1701 TRÊN MÔ HÌNH GÂY
BỎNG NHIỆT THỰC NGHIỆM
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VI THỊ MY
NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ
TẠI CHỖ CỦA CH 1701 TRÊN MÔ HÌNH GÂY
BỎNG NHIỆT THỰC NGHIỆM
Chuyên ngành: Dược lý
Mã số: 60720120
TNF-a
: tumor necrosis factor alpha (yếu tố hoại tử u alpha)
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bỏng là chấn thương thường gặp trong cuộc sống hằng ngày. Bỏng có
thể xảy ra riêng lẻ nhưng cũng có thể trở thành thảm họa lớn.Bỏng có thể do
nhiều nguyên nhân gây ra như bỏng nhiệt, bỏng điện, bỏng do hóa chất hay
phóng xạ… Trong đó, bỏng nhiệt hay gặp nhất chiếm tới 84-94 % các trường
hợp bỏng [1]. Tùy mức độ bỏng mà ảnh hưởng tới bệnh nhân khác nhau.Nói
chung, bệnh nhân bỏng phải điều trị dài ngày, tốn kém. Nếu điều trị không tốt
có thể để lại di chứng lâu dài cho người bệnh làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ,
khả năng lao động, sinh hoạt, thậm chí gây tử vong cho người bệnh.
Hiện nay có nhiều loại thuốc để điều trị tại chỗ vết thương bỏng được
sản xuất ở trong nước hoặc nhập từ nước ngoài.Nhiều chất kháng khuẩn,
kháng sinh đang được sử dụng phổ biến trong điều trị tại chỗ vết thương bỏng
như kem sulfadiazine-bạc 1% [2], [3], [4]. Cá thuốc tây y tuy có tác dụng
tương đối tốt nhưng giá thành tương đối cao.Chính vì vậy, các thuốc có thành
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. TÌNH HÌNH BỎNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Bỏng là chấn thương ngoại khoa thường gặp. Trên toàn cầu, trong năm
2004, tỉ lệ bỏng nặng cần chăm sóc y tế khoảng gần 11 triệu người và đứng
thứ tư trong tất cả các loại chấn thương, trong đó khoảng 300.000 trường hợp
tử vong. Tong những thập kỷ qua, do việc bảo hộ an toàn lao động tốt hơn,
kiến thức người dân được nâng cao cũng như cơ sở thiết bị y tế hiện đại hơn,
tỉ lệ bị tai nạn và tử vong do bỏng trên thế giới đã giảm đi. Tuy vậy, ở nhiều
quốc gia trên thế giới, bỏng vẫn là một chấn thương khá phổ biến. chẳng hạn, ở
Ấn Độ, mỗi năm có khoảng 1 triệu người bị bỏng mức độ vừa và nặng; tại
Bangladesh gần 173.000 trẻ em bị bỏng mỗi năm; trong năm 2008, tại Hoa Kỳ
có hơn 410.000 nạn nhân bỏng và khoảng 40.000 người cần nhập viện [1], [11].
Ở Việt Nam, tai nạn bỏng thường xuyên xảy ra trong đời sống hằng
ngày, trong lao động sản xuất, giao thông vận tải… trong 2 năm 2008-2009 có
khoảng 844.000 nạn nhân bị bỏng, trong đó 420.000 nạn nhân phải nhập viện
điều trị. Hằng năm, Viện Bỏng quốc gia nhận điều trị trên 2.500 bệnh nhân
bỏng mỗi năm; khoa Bỏng bệnh viện Xanh-pôn điều trị trên 900 bệnh nhân;
khoa Bỏng bệnh viện Chợ Rẫy điều trị hằng trăm bệnh nhân bỏng [1], [11].
1.2. BỎNG DA DO NHIỆT
Bỏng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như do nhiệt, hóa chất, điện
hay bức xạ…; trong đó bỏng do nhiệt là loại hay gặp nhất (84-94%) [1].
1.2.1. Tác nhân gây bỏng nhiệt
Bỏng do nhiệt được chia thành 3 loại:
9
1.2.1.1. Bỏng do nhiệt khô
Bỏng do nhiệt khô có thể nguyên nhân do lửa, tiếp xúc trực tiếp với kim
- Phía sau thân (lưng, mông): 18% (9x2) diện tích cơ thể
10
- Một chi dưới: 18% (đùi: 9%, cẳng chân và bàn chân: 9%)
- Bộ phận sinh dục và tầng sinh môn: 1%
Phương pháp này đơn giản, dễ sử dụng nên được dùng phổ biến để đánh
giá diện tích bỏng trên lâm sàng. Tuy nhiên, tỉ lệ các phần cơ thể thay đổi theo
tuổi nên phương pháp này không thực sự chính xác khi áp dụng ở trẻ em.
* Phương pháp sử dụng gan bàn tay của bệnh nhân của Blokhin N.N. và
Glumov I.I. (1953) [1]:
Mỗi gan bàn tay tương ứng với 1% đến 1,25% diện tích cơ thể. Phương
pháp này đánh giá chính xác hơn diện tích bỏng, tuy nhiên khó áp dụng trên
thực tế lâm sàng.
1.2.2.2. Phân loại độ sâu bỏng
Tác giả Lê Thế Trung (1965) đã phân loại độ sâu của bỏng ra 5
mức.Cách phân loại này đã và đang được áp dụng ở nhiều cơ sở điều trị bỏng
ở nước ta [1].
Bảng 1.1. Phân loại độ sâu của bỏng
Độ I
Viêm cấp
đỏ da do
bỏng
Bỏng nông
Độ III (Bỏng chân bì)
Độ II
Nông
Sâu
Tùy theo mức độ tổn thương bỏng: diện tích bỏng, độ sâu bỏng, vị trí bị
bỏng và trạng thái cơ thể (người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ có thai, bệnh kết
hợp, chấn thương kèm theo…) mà phản ứng tại chỗ và toàn thân khác nhau.
1.3. SINH LÝ BỆNH BỎNG
1.3.1. Ảnh hưởng lên toàn thân của bỏng
11
Bỏng trực tiếp gây tổn thương các tế bào và tổ chức, dẫn đến rối loạn
chức phận, các phản ứng toàn thân để tự bảo vệ và phục hồi.Bỏng diễn biến
qua nhiều thời kỳ.theo tác giả Lê Thế Trung bệnh bỏng thường được chia
thành 4 thời kỳ [1]:
* Thời kỳ sốc bỏng: xuất hiện 2-3 ngày sau khi bị bỏng, gồm các phản
ứng bệnh lý cấp. Đặc trưng là trạng thái sốc bỏng. Có thể gặp các biến chứng
cấp tính trong giai đoạn này như: suy thận cấp, sốc giảm thể tích…
* Thời kỳ nhiễm trùng, nhiễm độc: xuất hiện từ ngày thứ 4-5 đến ngày
thứ 15-20 sau khi bị bỏng do hấp thu các chất độc từ vết bỏng, do hoại tử tan
rã tổ chức, do nhiễm khuẩn tại chỗ. Thời kỳ này có tỉ lệ biến chứng và tử
vong cao nhất.
* Thời kỳ suy mòn: sau khi vượt qua thời kỳ 2, thời kỳ này biểu hiện các
rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng toàn cơ thể, tại vết bỏng có các biến đổi
của bệnh lý mô hạt
* Thời kỳ hôì phục: vết bỏng liền sẹo, các chức năng dần được phục hồi.
Trên thực tế lâm sàng, các hội chứng bệnh lý thường chồng chéo, ảnh
hưởng lẫn nhau nên không có một thời kỳ nào diễn ra riêng rẽ và biểu hiện
thành hội chứng rõ rệt [13], [14].
1.3.2. Quá trình liền vết thương da
Quá trình liền vết thương bỏng là một quá trình sinh học phức tạp, gồm
đẹp: nền sạch, màu hồng bóng, đỏ tươi, biểu mô hóa từ mép. Mô hạt xấu là
mô hạt phù nề, xuất huyết, xơ hóa, hoại tử. Hiện tượng biểu mô hóa từ các tế
bào biểu mô của lớp biểu bì tăng sinh sẽ lan phủ, che kín diện tích mô hạt và
vết bỏng hình thành sẹo. nếu mô hạt không được che phủ bởi lớp biểu mô thì
việc tiến triển liền sẹo của vết thương sẽ không thuận lợi, kéo dài, mô hạt sẽ
già và trở thành một khối xơ chắc, các mạch máu giảm dần, các sợi collagen
xơ hóa.
1.3.2.3. Giai đoạn sửa chữa vết thương và hình thành sẹo
13
Là giai đoạn dài nhất của quá trình liền vết thương. Việc tạo mô liên kết
tại vết thương được điều hòa bằng việc tạo ra collagen mới do nguyên bòa sợi
thực hiện và phá hủy collagen do enzym collagenase thực hiện để đảm bảo
sẹo da bền chắc. nếu mất cân bằng trong tái lập collagen sẽ dẫn đến sẹo lồi,
sẹo phì đại. Dựa trên những hiện tượng đó, một số phương pháp được sử dụng
để đánh giá quá trình phục hồi của vết thương như quan sát bằng mắt thường
(đánh giá sự thu hẹp diện tích vết bỏng, tình trạng vết bỏng: tiết dịch, loét hay
khô) và quan sát trên kính hiển vi về sự mọc mô hạt.
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình liền vết thương
1.3.3.1. Các yếu tố tại chỗ
Tình trạng nhiễm khuẩn vết thương làm phản ứng viêm kéo dài. Tại
chỗ viêm các mô hoại tử thối rữa, ứ trệ máu tĩnh mạch, lưu thông động mạch
kém, viêm các mạng lưới mao mạch; dẫn đến thiếu oxy, giảm trao đổi chất và
làm cho quá trình liền vết thương chậm lại [16].
1.3.3.2. Một số yếu tố toàn thân
- Vitamin: vitamin C cần cho quá trình tổng hợp collagen. Vitamin A
cần cho sự tổng hợp glycoprotein và proteoglycan, tăng cường miễn dịch.
Thiếu vitamin A làm giảm quá trình tạo kháng thể do đó làm tăng khả năng
dịch sau bỏng như glucocorticoid, prostaglandin E2 tăng cao trong máu, nội
độc tố cảu vi khuẩn…[17]. Như vậy, vết thương bỏng tự nó đã giúp cho việc
bắt đầu một vòng xoắn bệnh lý nguy hiểm, làm tình trạng nhiễm khuẩn ngày
càng nặng và nguy cơ lan tràn vi khuẩn ngày càng cao [1].
1.4.2. Căn nguyên gây nhiễm khuẩn bỏng
Các loài vi khuẩn chủ yếu gây nhiễm khuẩn bỏng là trực khuẩn mủ
xanh, tụ cầu vàng và các trực khuẩn đường ruột.
- Tụ cầu vàng (S. aureus) : là nguyên nhân hàng đầu trong các tác nhân
gây nhiễm khuẩn bỏng, tỉ lệ phân lập được tại vết bỏng dao động từ 25-70%
15
[21], [26]. Chúng có nhiều độc tố và yếu tố độc lực giúp cho vi khuẩn xâm
nhập vào cơ thể và gây tác hại nghiêm trọng [27], [28].
- Trực khuẩn mủ xanh (P.aeruginosa) : là nguyên nhân hàng đầu gây
nhiễm khuẩn bệnh viện. Những nhiễm khuẩn này rất khó điều trị vì trực
khuẩn mủ xanh kháng lại hầu hết các kháng sinh thông thường với mức độ
kháng rất cao [29], [30].
- Các trực khuẩn đường ruột gây nhiễm khuẩn bỏng thường gặp là
E.coli, K.pneumoniae…[29].
Ngoài nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân bỏng có thể nhiễm nấm, hay gặp nhất
trên vết thương bỏng là Candida, trong đó Candida albicans phổ biến nhất
[1], [31].
1.5. CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG BỎNG
Hiện nay có các nhóm thuốc điều trị bỏng như sau:
- Nhóm dịch truyền nhằm bù chất điện giải, được dùng trong trường hợp
bỏng sâu, diện rộng.
- Nhóm thuốc kháng sinh, dùng khi nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn
toàn thân.
với S.aureus, P.aeruginosa và E.coli. Thuốc còn có tác dụng kích thích biểu
mô hoá ở bỏng nông và tạo mô hạt ở bỏng sâu, thuốc có tác dụng tốt với
bỏng vôi. Nhược điểm là gây đau cho bệnh nhân, làm đen vải trải và tạo thành
vảy mỏng gây trở ngại một phần cho chẩn đoán độ sâu bỏng [5].
Theo tác giả Vũ Thị Ngọc Thanh (2003), kem Chitosan 2% được chiết
xuất từ vỏ tôm có tác dụng điều trị tại chỗ vết thương bỏng nhiệt trên thỏ thực
nghiệm do có tác dụng ức chế vi khuẩn chủ yếu gây nhiễm khuẩn bỏng và
kích thích quá trình tái tạo biểu mô [8].
1.5.3. Thuốc kích thích tái tạo vết bỏng
17
Kích thích biểu mô, tái tạo mô hạt. Trong nhóm thuốc này có nhiều
loại thuốc như: các thuốc mỡ (dầu gan cá thu, dầu gấc có chứa các vitamin A,
D), thuốc mỡ chế từ rau má, thuốc kem nghệ [33].
1.5.4. Thuốc làm se khô, tạo màng che phủ
Thành phần của thuốc có tannin tác dụng làm đông dịch vết thương,
kết tủa protein, liên kết các tơ collagen tạo thành màng. Một số thuốc nam có
tác dụng làm se khô và tạo màng thuốc như cao đặc lá sim, cao lá tràm, chè
dây. Đặc biệt thuốc bỏng chế từ vỏ cây xoan trà (B76) là thuốc được nghiên
cứu và sử dụng nhiều ở nước ta. Thuốc có nhược điểm là gây đau, xót trong
15-30 phút sau phun thuốc và không dùng được với bỏng sâu, bỏng đã nhiễm
khuẩn hoặc ô nhiễm nặng, bỏng do kiềm.
Hiện nay, tại Việt Nam sulfadiazine bạc 1% đang được dùng khá phổ
biến. Nó là sự kết hợp của ion bạc với sulfadiazine, được sản xuất từ năm
1960 dưới dạng cream 1%, có phổ kháng khuẩn rộng với nhiều loại vi khuẩn
như S.aureus, E.coli, P.aeruginosa và nấm Candida. Thuốc có nhược điểm là
ít thấm sâu vào mô hoại tử nên khó kiểm soát được nhiễm khuẩn ở vểt bỏng
sâu [2], hơn nữa do dùng phổ biến và kéo dài nên đã có thông báo về hiện
1.6.1.1. Nguồn gốc, cấu tạo
Curcumin có nhiều trong nghệ vàng. Nghệ là cây thân thảo thuộc bộ
Zingiberales, họ Zingiberaceae, chi Curcuma, loài Curcumin longa, có nguồn
gốc ở vùng nhiệt đới Tamil Nadu, phía đông nam Ấn Độ. Trong Y học cổ
truyền, thân rễ cây nghệ được gọi là khương hoàng và rễ củ được gọi là uất
kim. Nghệ vàng (Curcuma longa L.; Zingiberaceae) gồm các thành phần
chính: chất màu (3,5 – 4%), curcumin tinh khiết (1,5 – 2%); trong đó có
curcumin I 60%, curcumin II 24%, curcumin III 14%), ngoài ra, còn
dihydrocurcumin [34], [35], [36], [37], [38], [39]
19
Hình 1.1. Công thức cấu tạo của Curcumin
1.6.1.2. Vai trò
Theo Y học cổ truyền, Nghệ vàng đã được dùng:
- Từ thời kỳ Ayurveda (1900 năm trước Công nguyên) trong nhiều bệnh ở
da, phổi, hệ tiêu hoá, đau nhức, vết thương, bong gân, rối loạn chức năng gan.
- Trung Quốc: kích thích, bổ, giảm đau, cầm máu, tăng cường chuyển
hoá, loét và chảy máu dạ dày.
- Nepal: kích thích, bổ, lọc máu.
- Các nước Đông Nam Á: bổ dạ dày, cầm máu, chữa vàng da, bệnh gan.
- Ấn Độ: giảm viêm, chữa vết thương vết loét ngoài da; dùng ngoài làm
lành vết thương nhờ làm biến đổi TGF-b (Tissue Growth Factor b).
- Hoa Kỳ: là thực phẩm chức năng ngăn chặn các ổ hốc (crypt focus) lạc
chỗ có thể gây ung thư đại – trực tràng, nhờ thúc đẩy qua con đường ty lạp
thể, nên làm giảm tổn thương tiền ung thư, thúc đẩy sự chết tế bào theo
chương trình (apoptosis).
trong thức ăn và nước uống hằng ngày. Với liều cao, Curcumin ức chế sự khởi
21
đầu và xúc tiến nhiều loại ung thư như ung thư niêm mạc dạ dày, đại tràng,
tuyến tụy, da, tuyến vú, ung thư máu và các bệnh lý hệ thống khác như xơ
cứng bì, vảy nến…
1.6.2. Nguồn gốc, cấu tạo và vai trò của Rutin
1.6.2.1. Nguồn gốc, vai trò
Rutin là một loại vitamin P, có tác dụng tăng cường sức chịu đựng của
mao mạch. Chữ P là chữ đầu của chữ permeabilite có nghĩa là tính thấm.
Ngoài rutin có tính chất vitamin P ra, còn nhiều chất khác có tính chất đó nữa
như: esculozit, hesperidin (trong vỏ cam)…
Ở Việt Nam, rutin được tìm thấy với tỉ lệ cao trong hoa hòe và tam giác
mạch. Hoa hòe tên khoa học Sophora japonica L. thuộc họ cánh bướm
Fabaceae (Papiionaceae).
Hoa hòe mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta, được dùng để
nấu nước uống cho mát và dùng để nhuộm màu vàng. Trong hoa hòe có từ 6 30% rutin (tutozit). Rutin là một glucozit, thủy phân cho quexitin.
Tính chất hoa hòe theo tài liệu cổ: hoa vị đắng, tính bình, quả vị đắng
tính hàn. Hoa vào 2 kinh can và đại tràng. Quả vào kinh can. có tác dụng
lương huyết, thanh nhiệt, chỉ huyết (hoa). Quả tính chất gần như hoa nhưng
có thể gây sảy thai. Dùng chữa xích bạch lỵ, trĩ ra máu, thổ huyết, máu cam,
phụ nữ băng huyết.
Hoa hòe thường được dùng cho bệnh nhân cao huyết áp mà mao mạch
dễ vỡ, đứt, để đề phòng đứt mạch máu não, xuất huyết cấp tính do viêm thận,
xuất huyết ở phổi mà không rõ nguyên nhân, còn có tác dụng với bệnh cao
huyết áp.
2.1.1. Thuốc nghiên cứu
CH1701 là chế phẩm dạng bôi. Mỗi tuýp có thành phần gồm 25 g dưới
dạng Nano Sol- Gel.
- Thành phần dược chất gồm Curcumin: 55,3mg chiết xuất từ nghệ vàng
và Rutin: 16,8mg chiết xuất từ hoa hòe.
- Tá dược gồm Chitosan, Ethylalcohol, dầu khuynh diệp, nước tinh khiết
2.1.2. Hóa chất và dụng cụ nghiên cứu
- Sulfadiazin- bạc 1%
- Kính hiển vi quang học
- Máy ảnh kỹ thuật số
- Máy vi tính và phần mềm tính diện tích vết thương ImageJ Basics ver 1.38.
- Máy huyết học VET ABC, sản xuất tại Ý.
- Máy sinh hóa XC 55, sản xuất tại Trung Quốc.
- Các dụng cụ, hóa chất để nhuộm tiêu bản mô bệnh học.
- Dụng cụ gây bỏng có đường kính 2,5 cm, có trọng lượng 100 gam.
24
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Động vật thí nghiệm
Nghiên cứu
-Độc tính cấp.
Đối tượng
Chuột nhắt trắng chủng
Swiss
Tiêu chuẩn
Cả 2 giống, khỏe mạnh,
25
Nghiên cứu khả năng gây kích ứng da của CH 1701 tiến hành dựa trên
hướng dẫn của OECD 404 và ISO 10993-10 về việc đánh giá kích ứng da
dành cho các sản phẩm dùng ngoài da [].
Trước ngày thí nghiệm, làm sạch lông thỏ ở vùng lưng đều về hai bên
cột sống một khoảng đủ rộng để đặt các mẫu thử và đối chứng (khoảng 10cm
x 15cm). Mỗi mẫu được thử trên 03 thỏ. 0,5 g thuốc thử trải trên lên miếng
gạc vô khuẩn 2,5 cm x 2,5 cm ,đắp lên da. Cố định miếng gạc bằng băng dính
trong 6 giờ. Sau đó bỏ gạc và băng dính, chất thử còn lại được làm sạch bằng
nước ấm.
Quan sát và ghi điểm phản ứng các thời điểm 1 giờ, 24 giờ, 48 giờ và
72 giờ sau khi làm sạch mẫu thử. Đánh giá phản ứng trên da ở các mức độ
gây ban đỏ, phù nề.
Bảng 2.1. Mức độ phản ứng trên da thỏ
Phản ứng
Điểm đánh giá
1. Sự tạo ban đỏ và tạo vẩy
- Không ban đỏ
0
- Ban đỏ rất nhẹ (vừa đủ nhận thấy)
1
- Ban đỏ nhận thấy rõ
2
- Ban đỏ vừa phải đến nặng
3
- Ban đỏ nghiêm trọng (đỏ tấy) đến tạo thành vẩy để
4