Nghiên cứu độc tính và tác dụng điều trị loét hành tá tràng có helicobacter pylori của thuốc HPmax - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Loét dạ dày, hành tá tràng là một bệnh khá phổ biến trong cộng đồng ở
Việt Nam cũng như trên thế giới.Theo thống kê tỷ lệ mắc bệnh loét dạ dày,
hành tá tràng chiếm khoảng 10% dân số ở nhiều quốc gia. Ở Việt Nam con số
này chiếm khoảng 6-7% [1], [2], [3]. Đặc điểm chính của bệnh là một bệnh mạn
tính, diễn biến có chu kỳ, xu hướng hay tái phát và dễ gây biến chứng nguy hiểm
như chảy máu hay thủng, ung thư dạ dày…Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, thường kéo
dài khiến người bệnh khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công
việc, làm giảm sút sức lao động của toàn xã hội [4].
Về cơ chế bệnh sinh của bệnh loét dạ dày, hành tá tràng được cho là mất
cân bằng giữa yếu tố gây loét và yếu tố bảo vệ chống loét dạ dày [1], [2], [5], [6],
[7]. Do vậy nguyên tắc trong điều trị nội khoa là nhằm làm giảm yếu tố gây
loét và tăng cường yếu tố bảo vệ.
Từ năm 1983 đến nay, người ta đã xác nhận sự hiện diện của vi khuẩn
Helicobacter pylori (HP) trong bệnh viêm loét dạ dày, hành tá tràng và rất
nhanh chóng nhiều nghiên cứu đã chứng minh HP là thủ phạm chính gây loét
dạ dày, hành tá tràng [5], [8], [9], [10]. Sự phát hiện vi khuẩn HP đã mở ra
một phương thức điều trị mới có hiệu quả hơn. Đó chính là làm sạch HP - một
trong những mục tiêu quan trọng trong điều trị bệnh. Để diệt HP, y học hiện
đại thường được sử dụng 2 loại kháng sinh kết hợp với thuốc khác nhằm đem
lại hiệu quả cao trong điều trị. Tuy nhiên sau một thời gian điều trị hiện tượng
kháng kháng sinh của HP ngày càng tăng trên tất cả các loại kháng sinh đang sử
dụng trong các phác đồ điều trị với những tỷ lệ khác nhau (59,8- 91,8% đối với
metronidazol, 30-38,5% đối với clarithromycin, 23,7% đối với amoxicilin, 9,2 31,1% đối với tetracyclin) [11], [12], [13]. Ngoài ra các thuốc điều trị kết hợp
khác còn có tác dụng không mong muốn và giá thành đắt. Do vậy việc tiếp tục
tìm kiếm ra các thuốc mới, đặc biệt là thuốc có nguồn gốc từ thảo dược có hiệu
quả, an toàn, giá thành rẻ vẫn là nhu cầu cần thiết, là hướng nghiên cứu đang
được các nhà khoa học rất quan tâm.



Nghiên cứu tác dụng diệt HP của HPmax trên thực nghiệm.

3.

Nghiên cứu tác dụng của HPmax trong điều trị bệnh nhân loét hành tá tràng
HP dương tính theo y học hiện đại và y học cổ truyền.

4. Nghiên cứu tác dụng không mong muốn của thuốc HPmax.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. QUAN NIỆM Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ LOÉT DẠ DÀY , HÀNH TÁ TRÀNG

1.1.1. Sơ lược về giải phẫu sinh lý, cấu trúc mô học và tế bào học dạ dày,
tá tràng
1.1.1.1. Đặc điểm về giải phẫu, sinh lý, cấu trúc mô học và
tế bào học của tá tràng
 Đặc điểm về giải phẫu, sinh lý
Tá tràng là một đoạn ngắn của ống tiêu hoá, là khúc đầu của ruột non.
Như tên gọi của nó, tá tràng dài khoảng 12 đốt ngón tay (25cm), và là khúc
ngắn nhất, rộng nhất và cố định nhất của ruột non. Đường kính tùy khúc đo
được từ 15- 17mm. Tá tràng nằm sát thành bụng sau, trước cột sống, các
mạch máu lớn và thận phải, một phần ở trên mạc treo đại tràng ngang một
phần ở dưới, toàn bộ nằm trên mức rốn. Tá tràng có hình giống chữ C, ôm lấy
đầu tụy và có thể chia làm 4 phần hay 4 khúc: phần trên hay khúc I tá tràng,
phần xuống hay khúc II tá tràng, phần ngang hay khúc III tá tràng, phần lên

Các tế bào hình dài nằm xen giữa các tế bào hấp thu, chiếm tỷ lệ ít hơn.
Trên mặt tế bào này chỉ có một số vi nhung mao ngắn, thưa thớt, nhưng phần
cực trên của chúng phình ra chứa các giọt chất nhày, phần lớn các hạt nhày là
thuần nhất trong đó thành phần chính là bicarbonat.
Tế bào nội tiết
Tế bào nội tiết chiếm một tỷ lệ rất thấp, cực ngọn hẹp, trên mặt tự do của
chúng rất ít vi nhung mao. Đặc điểm nổi bật của loại tế bào này là các hạt chế tiết
thuần nhất, sẫm màu, có hình dáng và kích thước đa dạng, to nhỏ khác nhau.
Như vậy ở tá tràng không có hiện diện của tế bào chế tiết acid mà chỉ có


5

các tế bào bài tiết chất nhày, bicarbonat là những yếu tố bảo vệ chống loét.
Tuy nhiên, tại đây chịu ảnh hưởng của acid clohydric từ dịch vị đổ xuống, ảnh
hưởng của dịch mật, dịch tuỵ trong đó có acid mật và muối mật; các tế bào
nội tiết của tá tràng cũng bài tiết ra entero-gastrin, chất này vào máu quay lại
dạ dày kích thích các tế bào thành sản xuất ra HCl [18], [23], [24], [25], [26].
Từ những đặc điểm nêu trên, cho thấy bệnh loét tá tràng phụ thuộc rất
nhiều vào độ pH của dịch vị ở dạ dày đổ xuống tá tràng.
1.1.1.2. Đặc điểm về giải phẫu, sinh lý, cấu trúc mô học và tế bào học của dạ dày
 Đặc điểm về giải phẫu
Dạ dày là đoạn phình to nhất của ống tiêu hóa nằm giữa thực quản và tá
tràng, nó nằm trong khoang dưới hoành trái, trên mạc treo đại tràng ngang.
+ Cấu tạo và hình thể bên trong dạ dày
Thành dạ dày được chia thành 4 lớp: Lớp thanh mạc, lớp cơ, lớp dưới
niêm mạc, lớp niêm mạc [18], [19], [21], [22].
 Cấu tạo mô học và tế bào học của niêm mạc dạ dày
Dịch vị được các tuyến của dạ dày tiết ra phủ mặt trong dạ dày là lớp
chất nhày dày tới 1mm, dưới đó là lớp niêm mạc cũng dày 1mm, với lớp tế

- Tế bào G (G cell) tiết gastrin vào máu. Tác dụng của gastrin là kích
thích tế bào thành tiết ra acid.
- Tế bào D (delta cell): Như nêu ở trên là tế bào kìm hãm tiết acid khi
nồng độ acid trong dạ dày đủ hay quá cao.
-Tế bào ruột bắt màu Ec: là té bào bài tiết serotonin.
- Tế bào A: là tế bào bài tiết glucagon.
 Sinh lý dạ dày:
Dạ dày gồm có 3 chức năng sinh lý như sau: Chức năng vận động, chức
năng tiêu hóa và chức năng bài tiết. Trung bình một ngày dạ dày bài tiết: 1-1,5 lít
dịch vị, enzym (pepsinogen và pepsin), glycoprotein, yếu tố nội và acid. Sự
bài tiết dịch vị cũng chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố: Tác động của thần kinh phế


7

vị và yếu tố thể dịch.
Sự bài tiết dịch vị qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn vỏ não: Vai trò thần kinh thể dịch.
- Giai đoạn dạ dày: Dạ dày bị kích thích bởi thức ăn, bởi sự căng vùng
thân và hang vị. Hoặc dạ dày bị ức chế, H+ kìm hãm sự giải phóng gastrin.
- Giai đoạn ruột: Giãn tá tràng sẽ gây tăng bài tiết [1], [23], [25].
1.1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh loét dạ dày, hành tá tràng
Loét dạ dày, hành tá tràng là một bệnh khá phổ biến có ở mọi nước trên
thế giới. Bệnh có đặc điểm mạn tính hay tái phát.
Loét dạ dày, hành tá tràng được định nghĩa là “thương tổn của lớp niêm
mạc, xuyên qua lớp cơ niêm xuống đến lớp cơ” [2], [27].
Nhiều giả thuyết về nguyên nhân, bệnh sinh của bệnh loét dạ dày, hành tá
tràng đã được đề cập đến, như: Thuyết về rối loạn thần kinh thực vật của G.
Berrgaman (1913); thuyết vỏ não nội tạng của K.M. Bukov và I.T. Kursin (1952);
thuyết "stress" của H. Selye (1953); thuyết acid, không có acid thì không loét của

thước từ 0,4 x 3 micron, có từ 4-6 roi mảnh ở 1 đầu. Nhờ có cấu trúc xoắn và
các roi này, Helicobacter pylori có khả năng di chuyển luồn sâu xuống dưới lớp
nhầy của bề mặt niêm mạc dạ dày. Helicobacter pylori tiết ra các enzym:
Catalase, oxydase, urease, phosphatase - kiềm, glutamin transferase, lipase,
protease…Trong các enzym nói trên đáng chú ý nhất là urease. Trong dạ dày,
Helicobacter pylori sản sinh trong môi trường acid một lượng urease rất lớn,
chỉ có Helicobacter pylori sống được trong môi trường acid mạnh của dạ dày
(pH = 1-2). Sự hiện diện của enzym này đồng nghĩa với sự có mặt của
Helicobacter pylori [29], [30], [31] .


9

HelicobacterPylori hình cầu

HelicobacterPylori hình cong

Hình 1.1. Hình ảnh của Helicobacter Pylori (HE x 1000) [5]
Enzym urease phân huỷ urea trong dạ dày thành amoniac và acid
cacbonic, giúp cho Helicobacter pylori xâm nhập vào niêm mạc dạ dày và
có thể bảo vệ Helicobacter pylori khỏi bị ảnh hưởng của acid dịch vị [32],
[33]. Các enzym tiêu huỷ protein (catalase, protease, phospholiphase…) cũng
có vai trò trong bệnh sinh [34], đặc biệt protein gọi là “độc tố tế bào gây hốc”
(vacuolating cytotoxin, viết tắt là VaC) gây ra các không bào trong tế bào biểu
mô niêm mạc. Gen liên quan với chất protein độc này được gọi là VaC-A. Một
protein khác là sản phẩm của “gen A liên kết với độc tố tế bào” (Cytotoxin
associated gen A, viết tắt Cag-A) cũng có vai trò lớn trong bệnh sinh. Tất cả
các yếu tố trên gây tổn thương niêm mạc qua phản ứng viêm tại chỗ với sự lôi
kéo bạch cầu đơn nhân, bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào và lympho
bào [35], trong đó sự đáp ứng của lympho bào nhằm duy trì đáp ứng viêm tại

bảo vệ niêm mạc (yếu tố bảo vệ) bao gồm: chất nhầy, bicarbonat, tế bào biểu
mô và prostaglandins [1], [2], [47], [48].
Ở bệnh nhân loét hành tá tràng có sự gia tăng tuyệt đối hay tương đối
chế tiết acid ở dạ dày, ngược lại trong loét dạ dày sự suy yếu sức đề kháng của
niêm mạc là quan trọng [47].
Trong hệ thống sinh loét dạ dày, hành tá tràng, acid-pepsin có vai trò


11

quan trọng, ngoài việc sử dụng NSAIDs và hoặc aspirin [49], hội chứng
Zollinger-Ellison, các yếu tố nguy cơ khác như rượu, thuốc lá, di truyền…thì
việc phát hiện ra Helicobacter pylori là cuộc cách mạng đã làm thay đổi sâu
sắc sự hiểu biết quan niệm truyền thống về bệnh sinh của loét. Quan điểm
ngày nay, người ta cho rằng acid và Helicobacter pylori là hai đồng yếu tố
quan trọng trong sinh bệnh học loét dạ dày tá tràng, trong đó việc nhiễm
Helicobacter pylori là nguyên nhân chính dẫn đến việc làm lệch lạc sinh
lý dạ dày trong mối cân bằng hằng định nội môi giữa somatostatin, gastrin
và acid [43].
* Yếu tố gây loét:
- Acid clohydric và pepsin dịch vị.
- Vai trò gây bệnh của Helicobacter pylori.
- Thuốc chống viêm không steroid và steroid.
- Vai trò của rượu, thuốc lá.
* Yếu tố bảo vệ
- Vai trò kháng acid của muối kiềm bicarbonat.
- Vai trò chất nhầy mucin để bảo vệ niêm mạc.
- Mạng lưới mao mạch của niêm mạc dạ dày.
- Sự toàn vẹn và tái tạo của tế bào biểu mô và bề mặt niêm mạc dạ dày tá tràng.
Sự phá vỡ cân bằng giữa 2 nhóm yếu tố xảy ra khi nhóm yếu tố gây loét

* Cận lâm sàng:
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định có loét hành tá tràng qua nội soi
ống mềm, ổ loét có kích thước > 5 mm.
- Chẩn đoán Helicobacter pylori (+) trên cả hai phương pháp test Urease


13

và mô bệnh học.
1.1.4. Phương pháp điều trị loét dạ dày, hành tá tràng (điều trị nội khoa)
1.1.4.1. Nguyên tắc điều trị
- Loại trừ các yếu tố gây bệnh như stress, vi khuẩn Helicobacter pylori,
tăng tiết acid clohydric…
- Bình thường hóa chức năng dạ dày.
- Tăng cường các quá trình tái tạo niêm mạc, loại trừ các bệnh kèm theo
- Điều chỉnh lối sống sinh hoạt và chế độ dinh dưỡng [1], [3].
(Xem sơ đồ điều trị loét dạ dày – hành tá tràng theo sinh lý - bệnh học.
Phụ lục1).
1.1.4.2. Mục đích điều trị
+ Giảm yếu tố gây loét
- Dùng thuốc ức chế bài tiết acid clohydric và pepsin.
- Dùng thuốc trung hòa acid clohydric đã được bài tiết vào dạ dày, tá tràng.
+ Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc
- Dùng các thuốc bao phủ niêm mạc và băng bó ổ loét.
- Dùng thuốc kích thích sản xuất chất nhầy (mucin) hoặc các phương
pháp kích thích sự tái tạo niêm mạc bằng Laser cường độ thấp - Heli - Neon.
+ Diệt trừ Helicobacter pylori
- Dùng các kháng sinh và các chất diệt khuẩn như bismuth [1], [2],
[3], [50], [51].
1.1.4.3. Các loại thuốc và phác đồ điều trị

H
K

ATPase của tế bào bìa (PPI: Proton

Cơ chế tác dụng là do ức chế hoạt động của bơm

H
K

ATPase, làm cho tế bào

viền không còn khả năng tiết HCl. Các thuốc hiện dùng đều thuộc dẫn chất
benzimidazol, có khả năng ức chế bài tiết dịch vị tự nhiên và cả do bị kích thích,
PPI có tác dụng hiệp đồng với các thuốc kháng sinh và tự nó cũng có khả năng diệt
HP, bao gồm: Omeprazol, Lansoprazol, Pantoprazol, Rabeprazol, Esomeprazol [1],
[2], [52], [53], [54], [55], [56], [57].


15

- Các thuốc bảo vệ niêm mạc, băng bó ổ loét:
- Loại kích thích tạo và tiết chất nhầy như cam thảo (có trong thành phần của
Kavet), Dimixen, Teprenon (Selbex), Prostaglandin E1 Misoprostol (Cytotex…).
- Sucralfat: thành phần là Alumini sacharose sulfat, khi chất này gặp HCl
sẽ chuyển thành một lớp dính quánh gắn lên ổ loét [52], [58], [59] .
- Thuốc diệt khuẩn Helicobacter pylori

Vi khuẩn HP được coi là một trong hai yếu tố chính gây loét dạ dày tá
tràng, là nguyên nhân chính gây tái phát bệnh, diệt HP sẽ giúp cho tỷ lệ liền sẹo

(Nếu tỷ lệ kháng tiên phát đối với clarithromycin ở vùng đó
trước đó, đặc biệt là clarithromycin (ngoại trừ amoxicilin) vì tỷ lệ kháng thuốc
thứ phát rất cao.
+ Phác đồ điều trị cứu vãn: Trong trường hợp tiệt trừ vẫn thất bại sau hai
lần điều trị, cần nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh
phù hợp.
1.2. QUAN NIỆM Y HỌC CỔ TRUYỀN VỀ CHỨNG VỊ QUẢN THỐNG

Vị quản thống hay còn gọi là vị thống, được mô tả sớm nhất trong sách
nội kinh (Linh Khu trưởng luận) như sau: “Vị trướng thì phúc mãn, vị quản
thống, ảnh hưởng đến ăn uống, đại tiện khó”. Trong các thời kỳ lịch sử của y
thuật nó còn được gọi là “Tâm thống”, “Chân tâm thống”, “Tâm hạ kiên”,
“Tâm hạ mãn thống”… cho đến đời Kim Nguyên thì có sự phân biệt giữa vị
quản thống và tâm thống thành hai loại khác nhau, và bệnh danh vị quản
thống được thống nhất cho đến ngày nay.
Vị quản thống là chỉ các bệnh mà có triệu chứng đau tức sinh ra ở vùng
thượng vị dưới mũi ức. Bệnh phần lớn do ăn uống thất thường, tinh thần căng
thẳng, sinh hoạt không điều độ, ngoại tà xâm nhập… dẫn đến khí cơ của vị bị
trở ngại, vị mất hòa giáng mà thành [14], [15], [67], [68], [69], [70].
Như vậy trong y học cổ truyền (YHCT) không có bệnh danh viêm loét
dạ dày, hành tá tràng, mà tất cả các bệnh lý gây nên chứng đau ở vùng thượng
vị (vùng vị quản) thì đều được qui nạp vào chứng “vị quản thống” [14], [16],
[17], đối chiếu sang y học hiện đại (YHHĐ) các bệnh lý biểu hiện đau tức
vùng thượng vị như: viêm dạ dày cấp, mạn, loét dạ dày, loét hành tá tràng…
đều thuộc phạm vi chứng vị quản thống.


19

1.2.1. Một số đặc điểm về sinh lý, bệnh lý của tỳ vị theo YHCT
Hải Thượng Lãn Ông trong “Khôn hóa thái chân” [71] đã miêu tả về

nghiền nát thì nhất thiết ảnh hưởng đến vận hóa của tỳ, nếu tỳ không vận
hóa thức ăn, đồ uống, thì thức ăn, đồ uống sẽ ứ trệ ảnh hưởng đến chức năng
thu nạp của vị. Nếu vị khí không giáng thì xuất hiện đình trệ thức ăn đồ
uống gây vị đau đầy trướng, vị không giáng được sẽ phản nghịch lên trên
gây nên buồn nôn, ợ hơi, ợ chua.
Trong tiêu hóa thức ăn, đồ uống ngoài tỳ vị ra, còn có sự tham gia của
tạng can. Can thông qua chức năng sơ tiết giúp cho sự thăng giáng của tỳ vị
được điều hòa, ngoài ra can còn tiết tinh trấp, tích ở đởm để xuống tỳ vị tham
gia tiêu hóa thức ăn đồ uống, vì vậy can khí sơ tiết tốt thì công năng tiêu hóa
của tỳ vị được bình thường [72], [73].
1.2.2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của chứng vị quản thống:
Vị quản thống có nguyên nhân gây bệnh tương đối phức tạp, được các y
văn mô tả có rất nhiều gồm: Do lục dâm (từ bên ngoài xâm phạm vào cơ thể:
Hàn, thử, thấp...), do tình chí bị tổn thương (Can khí phạm vị), do ăn uống
không điều độ (no đói thất thường, cao lương mỹ vị, ăn nhiều chất cay
nóng...), do sinh hoạt thất thường (ở nơi ẩm thấp...), do tỳ vị hư hàn... Một
số tác giả chia nguyên nhân gây bệnh gồm: Do nội nhân (thất tình- tình chí
uất ức), do ngoại nhân (thời tiết), do bất nội ngoại nhân (ăn uống, bẩm tố
suy nhược)...Song quy nạp lại có 3 nhóm nguyên nhân chính sau đây [14],
[15], [16], [17], [67], [68], [70], [71], [74].
- Do ăn uống: Do ăn uống không điều độ, no đói thất thường, hoặc ăn
nhiều thức ăn đồ uống thô, cay, nóng, chua, lạnh, ôi thiu.., ăn xong lại làm
việc ngay làm tổn thương tới vị, vị mất hòa giáng mà gây đau. (đối chiếu
sang y học hiện đại là các nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ như: do bia
rượu, thuốc lá, các thuốc chống viêm không steroid và steroid, các yếu tố
cơ học, vi khuẩn HP...)


21


1.2.4. Nguyên tắc điều trị
- Vì đau ở vùng vị quản nên pháp điều trị chính là lấy thông giáng hòa vị
làm đại pháp (Hòa vị giáng khí). Thực thì lấy trừ tà làm chủ, hư thì lấy bổ hư,
điều dưỡng tạng phủ làm chủ và trợ giúp thông giáng. Cấp tính khi đau thì có
điều trị tiêu. Nếu nặng thì trừ tà, nếu vẫn đau âm ỉ kéo dài thì điều trị bản và
bổ để hoãn, tiêu bản kiêm trị. Nguyên tắc điều trị là thông thì bất thống.
1.2.5. Phân thể điều trị
Căn cứ vào các nguyên nhân và chứng trạng biểu hiện, y học cổ truyền
chia vị quản thống thành các thể sau: [15], [16], [75].
1.2.5.1. Thể can khí phạm vị
- Triệu chứng: Đau thượng vị từng cơn, đau lan ra cạnh sườn, có khi đau
ra lưng, khi đau không thích xoa nắn, kèm theo bụng đầy trướng, ợ hơi, ợ
chua và đại tiện phân táo. Người dễ cáu gắt, tức giận thì đau tăng lên, rêu lưỡi
trắng nhợt, chất lưỡi hồng, mạch huyền.
- Pháp điều trị: Sơ can hòa vị, lý khí chỉ thống
- Phương thuốc: Sài hồ sơ can thang hoặc tiêu dao tán.
+ Nếu có khí trệ: Bụng đầy trướng, ợ hơi nhiều, ợ hơi được thì đau giảm,
cần gia thêm các vị thuốc lý khí.
+ Nếu có hỏa uất: Đau nóng rát thượng vị, ợ chua nhiều, miệng khô,
đắng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác thì cần gia thêm thuốc
thanh can tiết nhiệt: Hoàng liên, Chi tử, Hoắc hương...
+ Nếu có ứ huyết: Đau ở một vị trí nhất định, cự án, đau dữ dội thì phải
gia các vị hoạt huyết thông lạc. Nếu có nôn ra máu, ỉa phân đen, chân tay lạnh
vã mồ hôi (chảy máu)... thì phải gia các vị chỉ huyết.


23

1.2.5.2. Thể tỳ vị hư hàn
- Triệu chứng: Đau âm ỉ vùng thượng vị, gặp lạnh đau tăng, khi đau thích

chế mạnh sự phát triển của vi khuẩn HP trong 48 giờ nuôi cấy. Vì vậy, nồng
độ này đã được sử dụng để đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn HP.
Nguyễn Văn Toại và cộng sự [78] tiến hành “Nghiên cứu tác dụng diệt
Helicobacter pylori bằng hoạt chất toàn phần của lá Trầu không trên thực nghiệm
và trong viêm dạ dày mạn tính”. Kết quả cho thấy: Betelvin (hoạt chất toàn phần
chiết xuất từ lá Trầu không) cho kết quả kháng sinh đồ đối với HP có vòng vô
khuẩn nhỏ nhất là 12mm, lớn nhất là 40mm. Đối chiếu vòng vô khuẩn của
Betelvin với kết quả diệt HP cho thấy với vòng vô khuẩn từ 30 đến 40mm cho tỷ
lệ làm sạch HP là 100%, từ 12 - 29mm cho tỷ lệ làm sạch HP từ 46,15% - 60%
sau điều trị. So sánh tác dụng diệt HP giữa hai nhóm điều trị là AS (Amoxicilin +
Sucrategel) và nhóm dùng BS (betelvin + Sucrategel ) khác biệt không có ý nghĩa
thống kê với p>0,05, từ đó suy ra tác dụng diệt HP của Betelvin trên lâm sàng
tương đương với tác dụng diệt HP của kháng sinh Amoxicilin.
Vũ Minh Hoàn và cộng sự nghiên cứu tác dụng kháng HP của thuốc “Vị
quản khang” in vitro. Kết quả cho thấy Vị quản khang có tác dụng kháng
khuẩn với vi khuẩn HP chủng CCUG 17874 và nồng độ ức chế tối thiểu của
thuốc (MIC) là 1/32 [79].
Trên lâm sàng, Vũ Nam và cộng sự dùng lá Chè dây điều trị loét hành tá
tràng HP(+), kết quả HP(-) đạt 42,5% [80].
- Các nghiên cứu ngoài nước:
Từ Nghệ và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng ức chế, diệt HP của hơn 100
vị đông dược thường được áp dụng trên lâm sàng điều trị loét dạ dày, hành tá
tràng. Kết quả cho thấy: độ nhạy cảm cao nhất là Hoàng liên, sau đó đến Hoàng
cầm, Đại hoàng, Đan sâm, Ngô thù, Diên hồ sách, Cam thảo, Địa du, độ nhạy
cảm thấp nhất là Tam thất, Đảng sâm, Hậu phác, Sài hồ, Sinh địa, Quế chi [81].


25

Kết quả nghiên cứu của Thiệu Long Cương và cộng sự cho thấy Đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status