BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ NGỌC MAI
Nghiªn cøu ®éc tÝnh vµ t¸c dông ®iÒu trÞ
trøng c¸
cña chÕ phÈm KTD trªn thùc nghiÖm
Chuyên ngành : Dược lý và độc chất
Mã số
: 60720120
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Trần Thanh Tùng
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm và sự kính trọng, tôi bày tỏ lòng biết ơn tới:
TS. Trần Thanh Tùng, Phó trưởng Bộ môn Dược lý - Trường Đại học Y
Hà Nội, người thầy đã giành cho tôi rất nhiều sự quan tâm, đã trực tiếp chỉ bảo
tận tình trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học. Thầy còn là người
truyền cho tôi sự ấm áp, vui vẻ trong cuộc sống, nghị lực trong công việc.
PGS.TS. Phạm Thị Vân Anh, Trưởng Bộ môn Dược lý, Giám đốc
Trung tâm Dược lý lâm sàng - Trường Đại học Y Hà Nội, đã tạo điều kiện tốt
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,
trung thực và khách quan.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2018
Học viên
Đặng Thị Ngọc Mai
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ALT
AST
GBP
: Alanin amino transferase
: Aspartat amino transferase
: Giải phẫu bệnh
HE
IL
TNF
LD50
MTD
N
HE
P.acnes
PBS
SHBG
: Hematoxylin eosin
1.4. Tổng quan về chế phẩm KTD...................................................................................23
1.4.1. Tổng quan về cây nghệ và curcumin..................................................................24
1.4.2. Vitamin B2 và vitamin E....................................................................................26
1.4.3. Nano bạc.............................................................................................................26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........27
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................................27
2.1.1. Thuốc và các hóa chất, dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu...............................27
2.1.2. Động vật thực nghiệm........................................................................................28
2.2. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................................28
2.2.1. Nghiên cứu độc tính bán trường diễn của KTD.................................................28
2.2.2. Nghiên cứu tác dụng điều trị trứng cá và chống viêm tại chỗ của KTD trên thực nghiệm.30
2.3. Phân tích và xử lý số liệu..........................................................................................37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................................38
3.1. Kết quả nghiên cứu độc tính bán trường diễn của KTD....................................38
3.1.1. Tình trạng chung và sự thay đổi thể trọng của thỏ.............................................38
3.1.2. Đánh giá chức năng tạo máu..............................................................................39
3.1.3. Đánh giá mức độ hủy hoại tế bào gan và chức năng gan...................................42
3.1.4. Đánh giá chức năng thận....................................................................................45
3.1.5. Đánh giá thay đổi về mô bệnh học.....................................................................45
3.2. Kết quả nghiên cứu tác dụng của KTD trong điều trị trứng cá và chống viêm tại chỗ
trên thực nghiệm....................................................................................................53
3.2.1. Kết quả điều trị của KTD trên mô hình gây trứng cá ở ống tai ngoài thỏ bằng
acid oleic.........................................................................................................53
3.2.2. Kết quả điều trị của KTD trên mô hình gây trứng cá ở vành tai chuột cống trắng bằng
vi khuẩn Propionibacterium acnes.....................................................................61
3.2.3. Kết quả điều trị của KTD trong điều trị chống viêm tại chỗ trên thực nghiệm...............70
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của KTD đến nồng độ cholesterol toàn phần trong máu thỏ....44
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của KTD đến nồng độ creatinin trong máu thỏ.........45
Bảng 3.15. Giải phẫu bệnh tổ chức dưới da ống tai ngoài thỏ sau 2 tuần bôi tá
dược/Isotretinoin/KTD..................................................................57
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của KTD lên phân độ tổn thương trứng cá.................61
Bảng 3.17 Độ dày tai chuột trong thời gian nghiên cứu.................................65
Bảng 3.18 Kết quả giải phẫu bệnh vành tai chuột cống trắng sau 3 tuần bôi tá
dược/Erylik/KTD..........................................................................66
Bảng 3.19 Cân nặng trung bình của các lô chuột – mô hình viêm cấp...........70
Bảng 3.20 Chiều dày tai bên phải của chuột – mô hình viêm cấp......................70
Bảng 3.21 Khối lượng tai chuột và mức độ ức chế viêm của KTD – mô hình viêm cấp......71
Bảng 3.22 Cân nặng trung bình của các lô chuột – mô hình viêm bán cấp....71
Bảng 3.23. Khối lượng tai chuột và mức độ ức chế viêm của KTD – mô hình
viêm bán cấp.................................................................................72
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Thay đổi độ dày tai chuột trong thời gian nghiên cứu................64
Biểu đồ 3.2 Chiều dày tai bên phải của chuột – mô hình viêm bán cấp.........72
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.2. Nang lông tơ và nang lông dài..........................................................4
Hình 1.3. Mô học tuyến bã ...............................................................................5
Hình 1.4. Các tổn thương cơ bản trong trứng cá ............................................14
Hình 2.1. Mô hình gây trứng cá trên ống tai ngoài thỏ...................................31
Hình 2.2. Mô hình gây trứng cá trên tai chuột................................................34
Hình 3.1: Hình thái vi thể gan thỏ lô 1............................................................46
Hình 3.2: Hình thái vi thể gan thỏ lô 1............................................................46
Hình 3.3: Hình thái vi thể gan thỏ lô 2 - Sau 4 tuần bôi thuốc thử.................47
Hình 3.32: Hình ảnh đại thể vành tai chuột số 3.2 .........................................62
Hình 3.33: Hình ảnh đại thể vành tai chuột số 4.5 .........................................63
Hình 3.34: Hình ảnh đại thể vành tai chuột số 4.6..........................................63
Hình 3.35: Hình ảnh đại thể vành tai chuột số 5.2..........................................63
Hình 3.36: Hình ảnh đại thể vành tai chuột số 5.5..........................................64
Hình 3.37: Tổ chức phụ thuộc da, tuyến bã vành tai chuột 1.4.......................66
Hình 3.38: Tổ chức phụ thuộc da, tuyến bã vành tai chuột 2.3.......................67
Hình 3.39: Tổ chức phụ thuộc da, tuyến bã vành tai chuột số 3.2 .................67
Hình 3.40: Tổ chức phụ thuộc da, tuyến bã vành tai chuột số 4.6..................68
Hình 3.41: Tổ chức phụ thuộc da, tuyến bã vành tai chuột số 4.5..................68
Hình 3.42: Tổ chức phụ thuộc da, tuyến bã vành tai chuột số 5.5..................69
Hình 3.43: Tổ chức phụ thuộc da, tuyến bã vành tai chuột số 5.2..................69
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trứng cá (Acnes) là một bệnh ngoài da do rối loạn bất thường trong đơn
vị nang lông tuyến bã. Căn nguyên sinh bệnh học của bệnh trứng cá rất phong
phú, trong đó phải kể đến các yếu tố quan trọng: sản xuất chất bã quá mức,
sừng hóa cổ nang lông, sự có mặt và tăng cường hoạt động của vi khuẩn
Propionibacterium acnes (P.acnes), sự giải phóng các chất trung gian trong
viêm [1]. Tuy không gây biến chứng nguy hiểm, song bệnh kéo dài, đặc biệt
để lại các sẹo lồi, sẹo lõm làm ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt thẩm mỹ, khiến
người bệnh mất tự tin, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống [2]. Tại Mỹ, ước
tính có khoảng 40-50 triệu người mỹ bị trứng cá thông thường, tỉ lệ mắc trứng cá
thông thường của lứa tuổi từ 12 đến 25 là 85%. Tuy nhiên bệnh có thể gặp ở
nhiều lứa tuổi khác nhau, có thể dai dẳng suốt thời kỳ trưởng thành [3]. Theo
thống kê tại Mỹ, chi phí điều trị trứng cá trực tiếp và gián tiếp là khoảng 3 tỉ đô
la mỗi năm [4].
Điều trị bệnh trứng cá hiện nay dùng thuốc bôi ngoài da, thuốc uống,
1.1.1. Mô học nang lông tuyến bã
Hình 1.1. Da và tổ chức dưới da [5]
1.1.1.1. Nang lông
Có hai loại nang lông:
Nang lông tơ: nằm rải rác trên toàn bộ da của cơ thể, trừ lòng bàn
tay, lòng bàn chân. Nang lông tơ có kích thước nhỏ, nhưng có tuyến bã phát
triển, tế bào tuyến bã lớn. Kích thước tuyến bã ở nang lông tơ lớn hơn ở
nang lông dài.
Nang lông dài: có ở da đầu, râu, lông nách, lông mu. Những vị trí
này lông mọc toàn bộ, tuyến bã quanh nang lông kém phát triển so với
tuyến bã ở nang lông tơ [6],[7].
Hình 1.2. Nang lông tơ và nang lông dài [8]
1.1.1.2. Tuyến bã
Tuyến bã là tuyến chùm gồm nhiều nang, mỗi nang có đường
kính từ 0,2-2 mm, các nang nối với một ống bài tiết chung. Tế bào
tuyến bã có hai loại: tế bào chế tiết nằm phía trong (kích thước lớn, bào
tương có nhiều hạt mỡ) và tế bào tuyến ít biệt hoá nằm sát màng đáy
(có khả năng phân chia, chứa nhiều ARN và các loại enzym esterase,
phosphatase) [6].
Hình 1.3. Mô học tuyến bã (cắt ngang tuyến) [8].
Tuyến bã gắn vào nang lông (lòng bàn tay, bàn chân không có
tuyến bã), tạo thành một đơn vị nang lông tuyến bã. Tuyến bã tiết ra
chất bã đổ vào nang lông nhờ một ống dẫn rồi bài xuất lên mặt da.
Tuyến bã ở niêm mạc đổ thẳng lên bề mặt niêm mạc như hạt Fordyce
thương (nhân trứng cá, sẩn, mụn mủ, cục, nang) và gặp ở nhiều vị trí (trán,
má, mũi, cằm, cổ, lưng, ngực) [8]. Tiến triển của bệnh thường là lành tính,
nhưng có nhiều trường hợp tiến triển dai dẳng, từng đợt và đòi hòi phải điều
trị kịp thời [6].
1.1.2.1. Nguyên nhân bệnh trứng cá
- Tăng tiết chất bã và vai trò của chất bã:
Bình thường chất bã được tiết ra làm cho da, lông tóc mềm mại,
mượt mà, luôn giữ được độ ẩm. Trong bệnh trứng cá, chất bã bài tiết
quá nhiều. Người ta đã nghiên cứu và xác định rằng: mức độ bệnh
trứng cá càng nặng thì lượng chất bã tiết ra càng nhiều [10],[11],[12].
Tuy nhiên, không thấy mối liên quan giữa số lượng chất bã tiết ra và số
lượng tổn thương mụn trứng cá ở vùng mặt [13]. Ngoài ra, một số
nghiên cứu đã chỉ ra sự thay đổi tỉ lệ thành phần chất béo có trong chất
bã ở người mắc trứng cá so với người bình thường, trong đó đáng chú ý
nhất là tăng tỉ lệ squalene [14]. Hoạt động bài tiết của tuyến bã có liên
quan chặt chẽ với các hormon, trong đó quan trọng nhất là hormon sinh
dục nam, đặc biệt là testosteron [12]. Các hormon này làm phát triển,
giãn rộng, tăng thể tích tuyến bã (kể cả các tuyến bã không hoạt động),
kích thích tế bào tuyến bã hoạt động mạnh, dẫn tới sự bài tiết chất bã
tăng lên rất nhiều so với bình thường. Bên cạnh đó, sự bài tiết chất bã
còn chịu tác động của một số yếu tố: di truyền, stress, thời tiết...[3].
Trong bệnh trứng cá, chất bã tăng tiết quá mức có thể xảy ra theo các
cơ chế sau:
+ Tăng hormon sinh dục nam (testosteron).
+ Tăng việc gắn testosteron vào các thụ thể của tuyến bã.
+ Tăng hoạt động của enzym 5α-reductase.
+ Lượng SHBG (Sexual Hormone Binding Globulin) trong máu
giảm, dẫn đến lượng testosteron tự do đi đến tế bào tuyến bã tăng nhiều
Corynebacterium
typ
1)
và
Propionibacterium
grannulosum
(P.grannulosum - trước đây gọi là (Corynebacterium typ 2) [19].
Bình thường, trong độ tuổi từ 11-14 và 16-20 không tìm thấy
P.acnes ở những người không bị trứng cá. Ngược lại, ở những bệnh
nhân trứng cá trung bình có khoảng 114.800 P.acnes/cm2. Các vi
khuẩn P. grannulosum chủ yếu gặp ở phần nang lông với số lượng rất
ít. Ngoài các vi khuẩn trên người ta còn thấy một số nấm men
Pityrospomm ovale ở trong một số nang tuyến bã.
Vi khuẩn P.acnes có khả năng phân huỷ lipid, giải phóng acid
béo tự do gây viêm mạch. Điều này đã được chứng minh trong thực
nghiệm bằng cách tiêm P.acnes sống vào trong các nang chứa đựng
toàn acid béo đã este hoá. Sau khi tiêm, các nang này bị vỡ, các tổ chức
xung quanh bị viêm tấy nhiều. Thậm chí khi tiêm trực tiếp P.acnes vào
trung bì cũng chỉ gây viêm nhẹ hoặc trung bình. Thí nghiệm đã chứng
minh rằng enzym lipase của P.acnes sống đã phân huỷ lipid, giải phóng
acid béo tự do, gây viêm rõ rệt ở tổ chức dưới da [9].
Qua thực nghiệm và thực tế lâm sàng, người ta nhận thấy chất bã
có tiền sử gia đình [21]. Yếu tố gia đình cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ
mắc trứng cá trong một nghiên cứu tiến hành trên 1002 học sinh trong
độ tuổi 16 ở Iran [22] và 78% - 80% nguy cơ di truyền bệnh trứng cá
trong họ hàng gần [3].
- Yếu tố thời tiết: các yếu tố khí hậu nóng ẩm, hanh khô cũng
liên quan đến bệnh trứng cá [23].
- Yếu tố chủng tộc: người da trắng và da vàng bị bệnh trứng cá
nhiều hơn người da đen [3].
- Yếu tố nghề nghiệp: khi tiếp xúc với dầu mỡ, tiếp xúc ánh
nắng nhiều làm tăng khả năng bị bệnh [3].
- Yếu tố stress: có thể gây nên bệnh hoặc làm tăng nặng bệnh trứng
cá [11].
- Chế độ ăn: một số nghiên cứu cho rằng chế độ ăn nhiều
carbonhydrat, đường, sô-cô-la… làm nặng thêm bệnh trứng cá; mặc dù
vấn đề này hiện nayvẫn còn nhiều tranh cãi. Theo Magin và cộng sự
(2005) trong một nghiên cứu tổng quan hệ thống, cho thấy không có mối
liên quan rõ ràng giữa chế độ ăn và nguy cơ mắc bệnh trứng cá [24]. Mặt
khác, một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 43 nam giới mắc
bệnh trứng cá, độ tuổi từ 15 -25, lại cho thấy với chế độ ăn sử dụng
carbonhydrat có chỉ số glycemic thấp giúp làm giảm số lượng tổn thương
mụn đáng kể sau 12 tuần [25]. Một thử nghiệm đa trung tâm, mù đôi,
ngẫu nhiên có đối chứng khác cũng cho thấy sử dụng liều cao kẽm đường
uống làm giảm nguy cơ mắc trứng cá ở 332 bệnh nhân [26].
- Các bệnh nội tiết: khi mắc một số bệnh nội tiết có thể bị trứng
cá như bệnh Cushing, bệnh cường giáp trạng, hội chứng buồng trứng đa
nang...[3]
- Thuốc: một số loại thuốc có thể làm tăng bệnh trứng cá, đó là
corticoid, isoniazid, thuốc có nhóm halogen (iod, brom), testosteron,
đét lại tạo thành vảy màu ngà nâu, bám rất chắc, dưới vảy là ổ loét nhỏ, khi
khỏi để lại sẹo lõm vĩnh viễn [6].
- Trứng cá sẹo lồi (acne keloidalis): chủ yếu gặp ở đàn ông, hay khu
trú ở gáy, vùng rìa chân tóc. Khởi đầu là tổn thương viêm nang lông, về sau
liên kết với nhau thành dải hình vằn vèo hay thẳng, sau đó tổn thương tiến
triển thành củ xơ hoặc dải xơ, phì đại gồ lên khỏi mặt da như sẹo lồi, có thể
có một vài mụn mủ riêng rẽ trên bề mặt, có giãn mạch [29].
- Trứng cá do thuốc (acne iatrogenic): ccác thuốc chứa testosteron
làm tăng hoạt động và phì đại tuyến bã, các steroid gây sừng hoá nang lông
và bít tắc cổ nang lông, các halogen (muối iod và brom) có trong các muối
điều trị bệnh tuyến giáp, thuốc long đờm, thuốc điều trị hen, thuốc cản
quang, phenobarbital, cyclosporin, cimetidin [29].
1.1.2.4. Đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường
Dựa trên hình thái lâm sàng, thương tổn cơ bản của bệnh trứng cá
thông thường được chia làm 2 loại:
- Tổn thương không viêm: các tổn thương không viêm được hình
thành sớm trong tiến trình hình thành tổn thương bệnh trứng cá, bao gồm [8],
[16],[29]:
+ Vi nhân trứng cá (microcomedones): các nhân trứng cá rất
nhỏ, bắt đầu mới hình thành, khó phát hiện trên lâm sàng, chủ yếu phát
hiện nhờ sinh thiết.
+ Nhân mở (open comedones) hay nhân đầu đen
(blackheads): tổn thương là những kén bã (chất lipid) kết hợp với
những lá sừng của thành nang lông nổi cao hơn mặt da, làm cho nang
lông bị giãn rộng. Do hiện tượng oxy hoá chất keratin nên đầu nhân
trứng cá bị đen lại tạo thành những nốt đen hơi nổi cao. Loại nhân
trứng cá này có thể thoát ra tự nhiên, ít gây tổn thương trầm trọng, tuy
nhiên cũng có thể bị viêm và thành mụn mủ trong vài tuần. Chích nặn
2. Vi nhân trứng cá giai đoạn sớm
3. Vi nhân trứng cá giai đoạn muộn
4. Nhân kín (nhân đầu đen)
5. Nhân mở (nhân đầu trắng)
1.1.3. Điều trị bệnh trứng cá
Bệnh trứng cá phát sinh do nhiều nguyên nhân và chịu nhiều yếu
tố tác động, do vậy khi điều trị phải quan tâm chú ý đến các vấn đề này
để điều trị có hiệu quả. Bốn nguyên tắc chính khi điều trị bệnh trứng cá
là [1],[2]:
- Điều chỉnh những thay đổi về sừng hóa nang lông.
- Giảm hoạt động tiết bã.
- Diệt khuẩn, đặc biệt là P.acnes.
- Chống viêm.
1.1.3.1. Điều trị tại chỗ
- Retinoid: là một dạng của vitamin A, trong bệnh trứng cá
retinoid có vai trò làm thay đổi các yếu tố có liên quan đến sự tăng
sinh, tình trạng viêm, sản xuất bã nhờn, giảm sự kết tụ chất bã và giảm
hình thành nhân trứng cá, kích thích biệt hóa tế bào biểu mô, ức chế sự
sừng hóa tế bào biểu mô. Do đó, các thuốc chứa retinoid có tác dụng
giảm và phòng ngừa sự tắc nghẽn của nang lông, giảm hình thành nhân
trứng cá và tổn thương viêm [30]. Chất dùng trong điều trị:
Tretinoin: làm tiêu nhân mụn và ngăn ngừa hình thành nhân trứng
cá. Thời gian tác dụng trong vòng 3 tháng cho kết quả đáng kể. Tác
dụng phụ có thể gặp là: khô da, kích thích da, tróc vảy, tăng mụn trứng
cá tạm thời [31].
Isotretinoin (13-cis retinoic acid): có tác dụng tương đương
tretinoin trong việc điều trị tổn thương trứng cá, tuy nhiên gây kích ứng