Nghiên cứu độc tính và tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh gút mạn của cốm tan Tứ diệu tán - Pdf 51

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Gút là bệnh khớp rất thường gặp, nguyên nhân gây bệnh là do sự lắng
đọng các tinh thể monosodium urat (MSU) trong dịch khớp hoặc mô [1]. Tỷ
lệ bệnh nhân gút có xu hướng ngày càng tăng cao trên thế giới và tại Việt
Nam. Theo thống kê của Đại học Y Havard - Hoa Kỳ (2011), tỷ lệ bệnh nhân
gút tại Bắc Mỹ chiếm 3,9% dân số, tương đương 8,3 triệu người [2]; tỷ lệ này
ở New Zealand là 3,6%, ở Anh là 1,4 - 2,5%, ở Đức là 1,4% [3], [4]. Ở Việt
Nam, theo nghiên cứu của Trần Thị Minh Hoa và cộng sự (2003), tỷ lệ mắc
bệnh gút là 0,14% [5]. Bệnh gút đứng thứ tư trong 15 bệnh khớp nội trú
thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ 8% [6]. Bệnh gút gây ảnh hưởng xấu tới chất
lượng cuộc sống, làm giảm khả năng sinh hoạt và chức năng vận động của cơ
thể, dẫn đến tăng nguy cơ các biến chứng và bệnh lý kèm theo, tăng nguy cơ
dẫn đến tử vong [7].
Hiện nay, có nhiều loại thuốc tân dược đã và đang được sử dụng để điều
trị gút do tác dụng nhanh, mạnh, hiệu quả tốt, như thuốc ức chế IL-1, thuốc ức
chế tổng hợp enzym xanthin oxidase, thuốc ức chế enzym URAT1, các thuốc
chống viêm không steroid (NSAIDs), các glucocorticoid… Tuy nhiên, do bệnh
có tính chất mạn tính, bệnh nhân dùng một số thuốc trong thời gian dài có thể
xuất hiện các tác dụng phụ như loét dạ dày, suy gan, suy thận, gây độc với tủy
xương hoặc shock phản vệ [8], [9]. Bệnh nhân sẽ phải dừng điều trị, dẫn đến
tái phát cơn gút cấp hoặc giảm đáp ứng với thuốc đang điều trị [10].
Việc nghiên cứu tìm ra thuốc mới điều trị gút, đặc biệt là thuốc có
nguồn gốc từ thiên nhiên, hạn chế tác dụng không mong muốn là rất ý nghĩa
và cần thiết. Do đó, trong một thập kỉ trở lại đây, các nhà khoa học đã tiến
hành tìm hiểu và nghiên cứu nhiều chế phẩm, thuốc y học cổ truyền (YHCT)
có nguồn gốc từ thiên nhiên để điều trị bệnh gút. Điều trị bằng YHCT có


2


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. BỆNH GÚT THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
1.1.1. Đại cương về bệnh gút
1.1.1.1. Định nghĩa
Gút là bệnh lý rối loạn chuyển hóa thường gặp. Bệnh là hệ quả của sự
tăng nồng độ acid uric vượt quá ngưỡng bão hòa của cơ thể biểu hiện bởi
chứng tăng acid uric máu. Đặc trưng của bệnh là viêm khớp cấp tính và mạn
tính gây ra bởi sự lắng đọng các tinh thể MSU trong khớp và mô liên kết dẫn
đến biến chứng hình thành hạt tophi và nguy cơ lắng đọng rải rác tại thận
hoặc chứng acid uric niệu [14].
1.1.1.2. Dịch tễ học
Bệnh gút thường gặp ở nam giới tuổi trung niên, đỉnh khởi phát
bệnh là 50 tuổi, nhưng tỷ lệ mắc bệnh tăng dần cả hai giới nam và nữ ở
các nhóm tuổi cao hơn [2]. Ở những bệnh nhân khởi phát gút sau 60 tuổi,
tỷ lệ mắc bệnh của nam và nữ gần bằng nhau và nếu gút khởi phát sau 80
tuổi thì tỷ lệ nữ cao hơn nam.
1.1.2. Cơ chế bệnh sinh
1.1.2.1. Chứng tăng acid uric máu
Cơ chế sinh bệnh học của gút là do tăng acid uric máu. Tăng acid uric
máu được xác định khi nồng độ urat huyết thanh cao hơn 420µmol/l ở nam
giới và 360µmol/l ở nữ giới [15]. Nguyên nhân tăng acid uric máu do tăng sản
xuất acid uric, do giảm thải trừ acid uric hoặc kết hợp cả hai yếu tố. Trên thực
tế rất khó phân biệt rõ từng nguyên nhân vì chúng thường kết hợp với nhau.

 Đặc điểm hóa học của acid uric
Acid uric có công thức hoá học C5H4N4O3. Do là một acid yếu nên

bạch cầu [19], [20].

 Tinh thể monosodium urate (MSU)
Các tinh thể MSU được hình thành bởi quá trình ion hóa acid uric thành
muối urat hòa tan trong huyết tương, giới hạn hoà tan của muối urat khoảng
6,8mg/dl ở nhiệt độ 37ºC [21]. Ở nồng độ cao hơn các tinh thể urat sẽ bị kết tủa.


5

 Cơ chế gây viêm cấp tính do tinh thể urat
Các tinh thể urat lắng đọng tại khớp hoặc mô sẽ gây ra các phản ứng
viêm. Ban đầu là các phản ứng viêm tại chỗ, thu hút bạch cầu đa nhân trung
tính sản xuất các cytokine cũng như các trung gian gây viêm khác [22], [23].
Tiếp đó các đại thực bào nhận biết các tinh thể urat thông qua các thụ thể
TLR-2, TLR-4 và FDA, các tín hiệu truyền đến chất truyền tin MYD88, phân
tử này hoạt hóa NFKB gây tiết pro-IL-1β (tiền chất của interleukin-1β) đồng
thời cũng hoạt hóa phức hợp NALP3 inflamasome [24]. Phức hợp này hoạt
hóa enzym caspase-1 giúp chuyển pro-IL-1β thành IL-1β hoạt động. Tín hiệu
của IL-1β sẽ hoạt hóa IL-1R (interleukin 1 receptor), tiếp tục khởi động quá
trình viêm ở mô làm cho phản ứng viêm ngày càng trầm trọng hơn [25].

 Cơ chế gây viêm khớp mạn tính do gút
Viêm khớp mạn tính do gút thường xuất hiện sau khi bệnh nhân bị gút
nhiều năm. Giữa các cơn gút cấp, tinh thể MSU liên tục lắng đọng và hình
thành những khối tophi. Khối tophi phát triển rộng, được bao phủ bởi các đại
thực bào. Đại thực bào tập trung để thực bào các tinh thể MSU đồng thời giải
phóng các cytokine và enzym [26]. Những enzym này là tác nhân gây viêm
mạnh. Phản ứng viêm ở màng hoạt dịch sẽ làm tăng chuyển hoá, sản sinh
nhiều acid uric tại chỗ và giảm độ pH. Môi trường càng toan thì acid uric

Bệnh gút nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn tới hình thành hạt tophi và
phá hủy khớp. Một số biến chứng nguy hiểm:
- Sỏi thận: Có từ 10 - 20% bệnh nhân gút mạn tính có sỏi thận. Tỷ lệ
bệnh nhân mắc sỏi thận phụ thuộc vào nồng độ pH trong nước tiểu và lượng
acid uric được thải ra qua đường tiết niệu. Độ pH trong nước tiểu giảm thấp
làm tăng nguy cơ lắng đọng và hình thành sỏi urat [28].
- Suy thận: Có từ 47 - 54% bệnh nhân gút mạn tính mắc suy thận [29].
Tăng acid uric máu làm tăng nguy cơ suy thận do các tinh thể MSU lắng đọng
tại bề mặt của tế bào biểu mô thận. Sự lắng đọng này gây tổn thương tế bào
hạt bài tiết ở tiểu cầu thận và tế bào biểu mô ống thận thông qua sự hoạt hóa
thụ thể miễn dịch TLR4. Sự hoạt hóa này dẫn đến kích hoạt thể viêm NLRP3
và IL-1β, làm khởi phát quá trình viêm tại thận [30].


7

1.1.4. Chẩn đoán bệnh gút


Chẩn đoán gút thường dựa theo tiêu chuẩn Bennett và Wood (1968)
[31]. Phương pháp này có độ nhạy là 70%, độ đặc hiệu là 82,7%.
Chẩn đoán xác định gút khi có tiêu chuẩn I hoặc ít nhất hai yếu tố của

tiêu chuẩn II.
I. Hoặc tìm thấy tinh thể MSU trong dịch khớp hoặc trong các hạt tô phi.
II. Hoặc có từ 2 tiêu chuẩn sau đây trở lên:
+ Tiền sử hoặc hiện tại có hai đợt sưng đau của một khớp với tính chất
khởi phát đột ngột, đau dữ dội và khỏi hoàn toàn trong vòng hai tuần.
+ Trong tiền sử hoặc hiện tại có sưng đau khớp bàn ngón chân cái với
tính chất như tiêu chuẩn trên.

≥ 1 đợt sưng đau 1 khớp
ngoại vi hay bao hoạt dịch
Bước 2: Tiêu chuẩn vàng
Phát hiện tinh thể MSU trong
dịch khớp hoặc hạt tophi
Bước 3: Nếu không phát hiện được tinh thể MSU
Lâm sàng
1. Đặc điểm của viêm 1 hay vài khớp - Khớp cổ chân hay bàn ngón
1
chân
2
- Khớp bàn ngón chân cái
2. Tính chất đợt viêm cấp
- Đỏ khớp
0 tính chất
0
- Không chịu được lực ép hoặc sờ
1 tính chất
1
vào khớp viêm
2 tính chất
2
- Khó khăn khi đi lại, vận động
3 tính chất
3
khớp
3.Đặc điểm thời gian
(có ≥ 2 đợt đau cấp, không dùng
1 đợt điển hình
1

Có hình ảnh bào mòn xương
4
trên khớp bàn tay hoặc bàn chân


9

Tổng điểm
1.1.5. Điều trị bệnh gút

Chẩn đoán mắc bệnh gút

≥8

Nguyên tắc điều trị
- Tuân thủ chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt đối với bệnh nhân gút.
- Đối với gút cấp tính: chống viêm giảm đau, ngăn ngừa các cơn gút
tiếp theo.
- Đối với gút mạn tính: giảm acid uric máu, điều trị kéo dài phòng cơn
gút tái phát.
- Đối với biến chứng: điều trị nhiễm khuẩn hạt tophi, sỏi thận, suy thận.
- Can thiệp trong trường hợp cần thiết.
1.1.5.1. Chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt cho bệnh nhân gút
Chế độ ăn theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng Quốc gia; chế độ
sinh hoạt, tập luyện do Phòng Điều dưỡng Viện YHCT Quân đội xây dựng
[Phụ lục 4].
1.1.5.2. Điều trị gút cấp tính
Yếu tố quyết định hiệu quả điều trị đợt gút cấp tính không phải là loại
thuốc mà là thời điểm dùng thuốc sau khi khởi phát bệnh [33].


nồng độ cao nhất trong huyết tương sau 60 - 90 phút. 20% lượng thuốc được
đào thải ra ngoài theo phân và số còn lại được đào thải qua nước tiểu. Tác
dụng phụ phổ biến nhất của thuốc là phản ứng quá mẫn. Phản ứng này có thể
xảy ra trong lần đầu dùng thuốc và ngay sau khi đã dùng thuốc một thời gian
dài (vài tháng hay vài năm). Tác dụng phụ thường gặp là phát ban đỏ, rát sần,
ngứa, mày đay, ban xuất huyết… [39].
Theo khuyến nghị của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR), allopurinol
nên khởi đầu ở liều không quá 100mg/ngày đối với bệnh gút đơn thuần, và
không quá 50mg/ngày với những bệnh nhân suy thận giai đoạn 4 hoặc tình
trạng nghiêm trọng hơn [40]. Liều allopurinol có thể tăng trên 300mg/ngày để
đạt được mức hạ acid uric mục tiêu, bao gồm những bệnh nhân suy thận [36].


11

- Febuxostat: Thuốc được chỉ định để điều trị cho bệnh nhân chống
chỉ định dùng allopurinol hoặc không đáp ứng allopurinol [41].
Febuxostat hạn chế các tác nhân gây viêm mạch máu do tác dụng ức chế
xanthin oxidase mạnh hơn allopurinol đồng thời ngăn hiện tượng tràn dịch
ổ viêm. Thuốc ít tác dụng phụ hơn allopurinol, thường gặp nhất là gây
giảm chức năng gan, tiêu chảy, đau đầu, buồn nôn, phát ban, gây khởi
phát cơn gút cấp [42].
 Thuốc tăng đào thải acid uric: probenecid (Nenemid), sulfinpyrazone
(Anturan), benzbromaron (Desuric).
Các thuốc có tác dụng ức chế tái hấp thu urat ở ống thận, giảm
nguồn chuyển hoá của urat, do đó ngăn cản sự xuất hiện của các hạt
tophi mới và làm giảm kích thước của các hạt tophi cũ. Nhóm thuốc này
không nên chỉ định đối với gút mạn tính bởi thuốc có thể gây tăng lắng
đọng tinh thể urat tại thận, gây sỏi thận, sỏi tiết niệu, tăng nguy cơ suy
thận. Probenecid có thể gây rụng tóc, phát ban, đau đầu, buồn nôn, khởi

cephalosporin thế hệ 3 với nhóm aminoglycosid (Gentamycin 3mg/kg/ngày).
Điều trị tại chỗ dùng nước muối sinh lý hoặc dung dịch iod (Betadin) pha
loãng rửa sạch vùng tổn thương.
Để điều trị sỏi thận, bệnh nhân cần tuân thủ chế độ dinh dưỡng, tập luyện
của bệnh nhân gút. Duy trì pH nước tiểu trên 6,5 bằng cách uống natri
bicarbonat 5 - 10g/ngày. Bệnh nhân cần được phát hiện và điều trị nội khoa
nhiễm khuẩn, viêm nhiễm ở thận.
Điều trị suy thận mạn tính cần giảm mức lọc và giảm áp lực đối với các
nephron còn hoạt động. Hạn chế các biến chứng và điều trị biến chứng của
suy thận mạn tính gồm: Kiểm soát tăng huyết áp bằng các thuốc hạ áp; điều
trị rối loạn điện giải, tình trạng toan máu, thiếu máu; điều trị cường giáp, tổn
thương xương; phòng chống nhiễm khuẩn… [46].


13

 Điều trị can thiệp: Can thiệp ngoại khoa khi cần thiết (hạt tophi lớn,

vùng nhiễm khuẩn rộng khó khống chế đơn thuần bằng kháng sinh). Phẫu
thuật loại bỏ tổ chức sụn, xương khi có nhiễm khuẩn sụn khớp hay xương
kèm theo [47].
1.1.5.5. Một số tiêu chuẩn theo dõi, đánh giá hiệu quả điều trị gút
Mức cải thiện hoạt động bệnh có thể được đánh giá theo tiêu chuẩn
của OMERACT (Outcome Measures in Rheumatology - Các phương pháp
đánh giá kết quả trong bệnh khớp) [48]. Xuất phát từ sáng kiến độc lập của
các chuyên gia y tế quốc tế quan tâm đến việc đánh giá và đo lường kết quả
trong bệnh khớp. Bộ tiêu chuẩn đánh giá kết quả nghiên cứu trên lâm sàng
của OMERACT đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hiệp hội các Tổ
chức Quốc tế về Bệnh khớp (ILAR) chứng nhận và sử dụng trên các thử
nghiệm lâm sàng [49].

1.2.2.1. Nội thương
Do tiên thiên bất túc, khí huyết hư suy hoặc do công năng ba tạng tỳ,
can, thận hư tổn làm cho các chức năng khí hóa, điều tiết, vận hóa thủy thấp
trong cơ thể suy giảm. Lâu ngày các chất trọc, đàm ẩm nội sinh theo khí lưu
hành trong lòng mạch, ngưng đọng lại tạo thành trọc độc và gây bệnh [15].
Tạng thận chủ về khí hoá, thuỷ dịch. Do vậy, khi thận khí bất túc hoặc
bẩm phú không đầy đủ, chức năng khí hoá và vận hóa thủy dịch không hoàn


15

toàn, các sản phẩm chuyển hoá của cơ thể không được kịp thời bài tiết ra
ngoài sẽ ứ đọng lại, lâu ngày sinh ra đàm trọc gây bế tắc kinh mạch.
Quan điểm này rất gần với nghiên cứu của YHHĐ trong chuyển hoá
purin. Có khoảng 400mg acid uric được bài tiết qua thận trong 24 giờ,
chiếm 2/3 lượng AU mà cơ thể đào thải ra ngoài mỗi ngày. Vì vậy chức
năng thanh thải acid uric của thận suy giảm cũng là một nguyên nhân gây
tăng acid uric máu.
Tạng tỳ có công năng chủ yếu là vận hoá đồ ăn, thức uống, thuỷ dịch,
có nhiệm vụ thăng thanh, giáng trọc. Khi công năng của tỳ kiện vận, thì cơ thể
sẽ được nuôi dưỡng đầy đủ. Khi tỳ khí suy kém, thì thuỷ cốc không được vận
hoá hoàn toàn, chuyển hoá bị rối loạn, “thanh trọc hỗn tạp”, sản phẩm dư thừa
của chuyển hoá sẽ ứ đọng lại, sinh ra đàm ẩm. Đàm ẩm lắng đọng lâu dần trở
thành trọc độc, gây bệnh cho cơ thể.
Quan điểm của YHHĐ cũng cho rằng, chức năng tiêu hoá, chuyển hoá
có ý nghĩa sống còn đối với cơ thể. Rối loạn chuyển hoá purin có liên quan
tương đồng với chức năng vận hoá thủy thấp của tạng tỳ trong YHCT. Sản
phẩm thoái giáng cuối cùng của purin là acid uric, cũng có thể coi như chất
đàm trọc. Trong cơ thể người bình thường, mỗi ngày có khoảng 200mg acid
uric đào thải ra ngoài được các vi khuẩn tại ruột phân huỷ. Vì vậy, rối loạn

Đặc tính gây bệnh của hàn tà là ngưng trệ, co rút, đau đớn, làm cho khí huyết
vận hành không thông. Trên lâm sàng, các chứng đau có đặc điểm như: đau cố
định, không di chuyển; gặp lạnh đau tăng lên; được chườm nóng thì đỡ, đều
được quy là “thống tý” do hàn thắng.


17

Thấp tà thường xuất hiện trong môi trường khí hậu ẩm thấp. Thấp tà
gây bệnh từ từ, lâu dài, với các đặc tính như: gây dính nhớt, nặng nề, bài tiết
thấp trọc, làm tổn hại dương khí và cản trở khí cơ. Trên lâm sàng thường xuất
hiện các triệu chứng như: người nặng nề, toàn thân ê ẩm, đau nhức, sáp niệu,
phù thũng, bệnh tình kéo dài, dai dẳng, chữa trị khó khăn, thường quy là
“trước tý”, do thấp thắng
Nhiệt tà thường gây bệnh vào mùa hạ. Diễn biến bệnh cấp tập, dồn dập
với các đặc tính như: sốt, viêm nhiệt, tân dịch bị chưng đốt, xuất huyết do
nhiệt bức huyết vong hành. Biểu hiện trên lâm sàng có các triệu chứng: sốt
cao, phiền táo, háo khát, mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, các bộ phận bị bệnh nóng
đỏ, phát ban do nhiệt, nhị tiện có thể ra máu [51].
1.2.2.3. Bất nội ngoại nhân
Do chế độ ăn uống, sinh hoạt không điều độ gây ảnh hưởng đến công
năng của tỳ vị, làm rối loạn quá trình tiêu hoá, hấp thu. Ăn nhiều thức ăn béo,
ngọt, uống rượu quá nhiều làm cho âm dương thiên lệch, tỳ khí suy, công
năng vận hoá rối loạn, thuỷ thấp nội sinh, đàm trọc tụ đọng, lâu ngày sinh
ung, hoá nhiệt mà gây bệnh.
Khi nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến chứng tăng acid uric máu
và bệnh gút, nhiều tác giả đã chứng minh rằng, những người uống nhiều
rượu, béo phì, ăn nhiều thức ăn có hàm lượng purin cao (phủ tạng gia cầm,
gia súc, tôm, cua…), đều có tương quan tỷ lệ thuận với nồng độ acid uric
trong máu [51].

10g, Nhũ hương 6g, Cam thảo 6g.
Nếu là hành tý dùng bài “Phòng phong thang” gia giảm. Nếu là thống
tý dùng bài “Ô đầu thang”, trước tý dùng bài “Ý dĩ nhân thang”. Thuốc được


19

làm thành thang, sắc uống ngày 01 thang chia 2 lần. Mỗi liệu trình điều trị từ
15 - 30 ngày [53].
1.2.3.2. Thể phong thấp nhiệt
- Triệu chứng: Chi dưới các khớp nhỏ sưng, nóng, đỏ, đau, cự án, sờ
thấy nóng rát, chườm mát dễ chịu. Các khớp co duỗi khó khăn, vận động hạn
chế, đi lại đau nhức. Người bệnh cảm giác nặng nề, phát sốt, phiền táo, bất an.
Miệng khát, không háo khát. Đại tiện thường táo, đôi khi có thể nát. Nước
tiểu vàng. Chất lưỡi đỏ, rêu vàng dày. Mạch hoạt sác.
- Pháp điều trị: Sơ phong, thanh nhiệt, trừ thấp. Nếu bệnh nặng thì
pháp điều trị là lương huyết, giải độc, sơ phong, thông lạc.
- Phương dược: “Nhị diệu tán” (Đan khê tâm pháp) hợp “Bạch hổ quế
chi thang” (Kim quỹ yếu lược) gồm: Hoàng bá 12g, Thương truật 15g, Sinh
thạch cao 30g, Tri mẫu 12g, Ngạnh mễ 12g, Quế chi 10g, Cam thảo 6g; gia
giảm thêm Thổ phục linh 15g, Tỳ giải 15g, Trạch lan 12g, Ý dĩ nhân 20g,
Trạch tả 10g, Xa tiền tử 12g có tác dụng tiết trọc, hóa ứ, lợi niệu, tăng thải trừ
AU máu. Thuốc được làm thành thang, sắc uống ngày 01 thang chia 2 lần.
Mỗi liệu trình điều trị từ 15 - 30 ngày [53].
Nếu sưng đau nhiều, gia thêm Hải đông bì 15g, Nhũ hương 6g, Một
dược 6g, có tác dụng trừ thấp, hóa lạc, thông tý, chỉ thống. Nếu nhiệt nhiều,
hao tổn tân dịch gia Sinh địa 15g, Huyền sâm 12g, Mạch môn 15. Nếu thấp
nhiệt kèm tê bì, nên thanh nhiệt, trừ thấp, thông lạc, chỉ thống và dùng
phương “Tứ diệu tán” hợp “Long đởm tả can thang” gia giảm. Nếu chi dưới
đau nhiều, gia thêm Ngưu tất 15g, Độc hoạt 15g, Mộc qua 12g, có tác dụng

- Pháp điều trị: Kiện tỳ, bổ thận.


21

- Phương dược: “Phụ tử lý trung thang” (Thương hàn luận): Phụ tử
chế 10g, Đảng sâm 12g, Bạch truật 12g, Can khương 6g, Cam thảo 4g.
Thuốc được làm thành thang, sắc uống ngày 01 thang chia 2 lần. Mỗi liệu
trình điều trị từ 10 - 15 ngày [53].
1.2.3.5. Thể can thận âm hư
- Triệu chứng: Bệnh lâu ngày, kéo dài, tái phát nhiều lần. Cân cốt, cơ
nhục và các khớp đau, sưng nề. Các khớp vận động khó khăn do cứng khớp,
có thể biến dạng khớp, ngày đau nhẹ, đêm đau nặng, có thể teo cơ. Người
bệnh hoa mắt chóng mặt, ù tai, gò má đỏ, đau lưng mỏi gối, thích nghỉ ngơi,
ngại vận động, tay chân không ấm. Có chứng cốt chưng, đạo hãn, tự hãn,
miệng khát không thích uống nước hoặc uống ít. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi
mỏng. Mạch trầm tế nhược hoặc tế sác.
- Pháp điều trị: Dưỡng âm, bổ can thận.
- Phương dược: “Độc hoạt tang kí sinh” (Thiên kinh phương): Độc
hoạt 12g, Bạch thược 12g, Phòng phong 12g, Phục linh 12g, Quế chi 8g, Tần
giao 10g, Sinh địa 12g, Ngưu tất 16g, Đảng sâm 12g, Đương quy 12g, Tang kí
sinh 16g, Xuyên khung 8g, Đỗ trọng 16g, Cam thảo 6g, Tế tân 6g. Có thể
phối hợp “Tả quy hoàn” gia giảm. Thuốc được làm thành thang, sắc uống
ngày 01 thang chia 2 lần. Mỗi liệu trình điều trị từ 10 - 15 ngày [53].
1.3. MỘT SỐ MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG
ĐIỀU TRỊ BỆNH GÚT CỦA MỘT THUỐC
1.3.1. Độc tính cấp và độc tính bán trường diễn
- Độc tính cấp của thuốc là độc tính xảy ra sau khi dùng thuốc một lần
hoặc mấy lần trong ngày.


khớp gối
Mô hình gây viêm màng hoạt dịch khớp gối bằng tinh thể MSU được
tiến hành theo phương pháp của Faires và McCarty. Trong đó, tinh thể MSU
được sử dụng là nhân tố kích thích các yếu tố gây viêm tại khớp gối [58].
1.3.2.2. Đánh giá tác dụng giảm đau
Các mô hình đánh giá tác dụng giảm đau được phân loại theo mô hình
đánh giá đáp ứng đau ở ngoại biên hoặc đau ở trung ương. Tùy theo thuốc
nghiên cứu có tác dụng giảm đau trung ương hay ngoại biên mà áp dụng mô
hình đánh giá phù hợp.
Mô hình mâm nóng hot plate thường được sử dụng để đánh giá tác
dụng giảm đau trung ương của thuốc [59]. Trong khi đó, phương pháp sử
dụng máy đo đau Analgesy-meter (UGO BASILE) được dùng để đánh giá tác
dụng giảm đau ngoại biên [60].
1.3.2.3. Đánh giá tác dụng hạ acid uric máu

 Các mô hình gây tăng acid uric máu trên động vật thực nghiệm
Để đánh giá tác dụng hạ acid uric máu của thuốc, cần tiến hành nghiên
cứu trên các mô hình động vật đã bị gây tăng acid uric máu. Trong đó,
phương pháp gây tăng acid uric máu trên động vật thực nghiệm bằng các chất
ức chế uricase được sử dụng phổ biến nhất.
Enzym uricase là một loại enzym có trong gan của hầu hết các loài
động vật có vú (trừ các loài linh trưởng), có vai trò chuyển hóa acid uric thành
allatoin, một dạng dễ tan hơn và được đào thải ra ngoài qua thận [61]. Ức chế
uricase là một phương pháp hiệu quả, được dùng phổ biến để gây tăng acid


24

uric máu trên động vật. Các chất ức chế uricase hay dùng là acid oxonic và
muối kali oxonat.

1.4.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay các nghiên cứu trên thế giới tập trung chủ yếu vào mục tiêu
hạ acid uric máu và duy trì nồng độ acid uric máu dưới ngưỡng bão hòa của
cơ thể (< 6mg/dL tương đương < 360µmol/L). Các thuốc thế hệ mới đang
được tiến hành thử nghiệm trên lâm sàng gồm: febuxostat; 3,4-dihydroxy-5nitrobenzaldehyde (DHNB)… Bên cạnh đó, dựa theo cơ chế gây viêm gút cấp
tính, các nhà nghiên cứu vẫn đang tiến hành thử nghiệm nhóm thuốc ức chế
IL-1β có tác dụng chống viêm, giảm đau trong cơn gút cấp.
Kuemmerle Deschner (2013) tiến hành thử nghiệm lâm sàng giai đoạn
2 theo phương pháp ngẫu nhiên, mù đôi để đánh giá hiệu quả của liều duy
nhất canakinumab cho 44 bệnh nhân (từ 18 - 80 tuổi) vào viện vì cơn gút cấp.
Tác giả nhận thấy canakinumab có hiệu quả trong điều trị cơn gút cấp, giảm
tình trạng viêm và giảm số cơn gút cấp [65].
Rose Soskind (2017) cập nhật điều trị hạ acid uric máu dựa trên khuyến
cáo mới nhất của ACR và EULAR. Febuxostat được chấp thuận sử dụng bởi
Viện chăm sóc sức khỏe toàn diện Quốc gia (NICE) ở những bệnh nhân không
dung nạp allopurinol, hiệu quả điều trị được chứng minh với liều từ 80 tới
120mg/ngày. Febuxostat phù hợp với bệnh nhân suy thận độ 1 - 2 vì thuốc
chuyển hóa chủ yếu ở gan, dược động học và dược lực của thuốc ít thay đổi ở
bệnh nhân suy gan [66]. 3,4-dihydroxy-5-nitrobenzaldehyde (DHNB), một dẫn
xuất tự nhiên của aldehyde protocatechuic cũng có tác dụng ức chế xanthin
oxidase. Thuốc ức chế xanthin oxidase theo nhiều hướng do tương tác với trung
tâm molypden của xanthin oxidase và trực tiếp thải trừ các gốc tự do [67].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status