ĐẶC điểm NHÂN CÁCH và TRẦM cảm ở học SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ MINH KHAI hà nội năm học 2018 2019 - Pdf 56

1

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI
---------------***-----------------

TRNH TH HNG BIấN

ĐặC ĐIểM NHÂN CáCH Và TRầM CảM
ở HọC SINH TRƯờNG THPT NGUYễN THị MINH KHAIHà NộI
NĂM HọC 2018-2019

KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2013 - 2019


2

H Ni 2019
B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI
---------***---------

TRNH TH HNG BIấN


Bài khóa luận này dù đã được chỉnh sửa nhưng không tránh khỏi thiếu
sót, em rất mong được ý kiến góp ý của thầy cô và bạn bè để luận văn được
hoàn thiện hơn. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy cô đã tạo điều
kiện cho em hoàn thành luận văn của mình được tốt nhất.
Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2019
Sinh viên

Trịnh Thị Hồng Biên


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: - Phòng Quản lý Đào tạo Đại học - Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
- Phòng Đào tạo-NCKH&HTQT, Viện Đào tạo Y học dự phòng
và Y tế công cộng
- Bộ môn Y đức và Tâm lý học
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp, năm học 2018-2019
Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận một cách khoa
học, chính xác, khách quan và trung thực. Đề tài này hoàn toàn do tôi và
nhóm nghiên cứu cùng thực hiện từ khi hình thành ý tưởng nghiên cứu, trình
bày thành bộ đề cương hoàn chỉnh, thu thập thông tin, phân tích và trình bày
kết quả nghiên cứu hoàn chỉnh, dưới sự hướng dẫn và góp ý của giáo viên
hướng dẫn.
Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2019
Sinh viên



: Reynolds Adolescent Depression Scale

RLTC/TC : Rối loạn trầm cảm/ trầm cảm
THPT

: Trung học phổ thông

VTN

: Vị thành niên

WHO

: World HealthOrganization

MỤC LỤC



7

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trầm cảm (TC) là một bệnh lý rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi khí sắc
trầm, giảm hoặc mất sự quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự
mệt mỏi và giảm hoạt động, các biểu hiện này tồn tại trong thời gian dài ít
nhất trên hai tuần [1],[2].
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), rối loạn tâm thần và đặc biệt là trầm
cảm gặp ở tất cả các lứa tuổi từ trẻ em đến người cao tuổi. Ước tính đến năm
2020 trầm cảm sẽ là nguyên nhân chính gây khuyết tật trên toàn thế giới [1].

với sự phát triển của đất nước thì nhà trường, gia đình luôn đòi hỏi hơn nữa ở
sự tiến bộ của thế hệ trẻ trong học tập và sự phát triển bản thân. Việc chăm
sóc sức khỏe nói chung và sức khỏe tâm thần nói riêng, trong đó có trầm cảm
là vấn đề đang rất được quan tâm ở đây. Hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào
về các vấn đề liên quan đến trầm cảm tại trường THPT Nguyễn Thị Minh
Khai. Việc tìm hiểu mối liên quan giữa trầm cảm và nhân cách ở học sinh có
thể giúp tư vấn cho phụ huynh, nhà trường tổ chức hoạt động, lập kế hoạch
giáo dục cho con em mình môt cách phù hợp để giúp các em phát triển tốt và
toàn diện hơn.
Chính vì những lí do đã nên trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Đặc điểm
nhân cách và trâm cảm ở học sinh THPT Nguyễn Thị Minh Khai- Hà Nội
năm học 2018-2019” để nghiên cứu với 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm nhân cách và xác định tỷ lệ trầm cảm của học sinh tại
trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai - Hà Nội năm học 2018-2019.
2. Xác định mối liên quan giữa nhân cách và trầm cảm của học sinh tại
trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai - Hà Nội năm học 2018-2019.

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU


9

1.1.Nhân cách
1.1.1.
Khái niệm chung về nhân cách
1.1.1.1.
Một số định nghĩa nhân cách
- Theo K.K.Platonov: nhân cách được hiểu đồng nghĩa với khái niệm con
người. K.K.Platonov cho rằng nhân cách là con người có ý thức, nhân cách là
con người có lý trí, có ngôn ngữ, có lao động. Quan điểm này nói về cái

cách vui vẻ hoạt bát được cho là vì có tỷ lệ máu cao, còn người có tỷ lệ mật
vàng (hay nước mắt) cao thì sẽ có tính cách nóng nảy, hấp tấp.
Thuyết nhân cách của Freud: nhấn mạnh tầm quan trọng của trải
nghiệm thời thơ ấu, những ý nghĩ bị dồn nén và những xung đột của cái có ý
thức và cái vô thức. Ba thành phần cấu trúc của nhân cách gồm có: cái ấy, cái
tôi và cái siêu tôi. Và nhân cách con người được phát triển qua 5 giai đoạn
dựa theo quá trình sinh lý sinh trưởng tự nhiên của con người.
Thuyết nhận thức xã hội về nhân cách của Bandura: nhân cách mỗi
người được phát triển do ảnh hưởng của 3 nhân tố: môi trường xã hội, nhận
thức – cá nhân và hành vi; và thay đổi tùy thuộc vào 4 quá trình nhận thức
khác nhau của con người gồm: (1) phát triển năng lực ngôn ngữ, (2) học tập
bằng quan sát, (3) hành vi có mục đích, (4) tự phân tích bản thân.
Các thuyết nhân văn về nhân cách của Maslow và Roger: nhấn mạnh
vào khả năng của con người, thực tại hóa bản thân, phát triển tiềm năng và tự
do lựa chọn vận mệnh cho mình.
Thuyết về nét nhân cách của Gordon Allport và Raymond Cattel : từ
4500 từ miêu tả tính cách được rút gọn thành 35 rồi thành 16 nét tính cách
cơ bản của con người. Đến nay các nhà tâm lý rút gọn chỉ còn 5 tính cách
cơ bản: tính cởi mở (hay khép kín), tính chu đáo (hay cẩu thả), tính hướng
ngoại (hay hướng nội), tính dễ thương (hay dễ ghét) và tính điềm đạm (hay
nóng nảy).
Thuyết 5 yếu tố lớn của nhân cách của Costa và Mccrae: có 5 yếu tố
(Big Five) quy định nhân cách con người là: nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở,
dễ đồng ý và tận tâm.


11

Có rất nhiều thuyết về nhân cách, mỗi thuyết có ưu nhược điểm khác
nhau, nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thuyết nhân cách của

12

b. Bình thản
- Nhiệt tình khi đã tham gia, tâm lý bền vững, sâu sắc , bình tĩnh, kiên trì,
không vội vàng hấp tấp, tự kiềm chế tốt.
- Tình ý và tính không linh hoạt là nhược điểm. Thích nghi môi trường chậm,
do dự nên dễ mất thời cơ.
c. Nóng nảy
- Năng lực nhân thức nhanh, xúc cảm và tình cảm khi bộc lộ thì rất mãnh liệt, có
tính quả quyết, dũng cảm, hoạt bát, sôi nổi, thật thà, hay nói thẳng.
- Nhận thức ít sâu sắc, dễ cáu gắt phát khùng, dễ vui dễ buồn, hay mệnh lệnh ít
thuyết phục, hay liều lĩnh, mạo hiểm vội vàng.
d. Ưu tư
- Suy nghĩ sâu sắc, chín chắn, năng lực tưởng tượng dồi dào phong phú, thấy
được trước khó khăn, lường được hậu quả, dịu hiền, tình cảm sâu sắc và bền
vững, dễ thông cảm với người khác.
- Hay run sợ, e ngại, hay tự ti, hoài nghi, bi quan, phản ứng chậm với các kích
thích, thích nghi kém.
Mỗi kiểu nhân cách trên có mặt mạnh, mặt yếu. Trên thực tế ở con
người có những loại nhân cách trung gian bao gồm nhiều đặc tính của 4 kiểu
nhân cách trên: nhân cách của cá nhân có cơ sở sinh lý thần kinh nhưng mang
bản chất xã hội, chịu sự chi phối của các đặc tính xã hội, biến đổi do rèn luyện
và giáo dục.
1.1.3. Một số nghiên cứu về nhân cách trên thế giới và Việt Nam
1.1.3.1. Một số công trình nghiên cứu về nhân cách trên thế giới
Nghiên cứu của Jerome Kagan tại đại học Havard, trên 500 trẻ em sơ
sinh (4 tháng tuổi) được bắt đầu từ năm 1989 và vẫn tiếp tục đến hiện tại.
Nghiên cứu này khẳng định việc nhạy cảm với các kích thích bên ngoài chính
là bản chất phân biệt người hướng ngoại và hướng nội [14].
Một nghiên cứu của tác giả Haleh Saboori năm 2016 trên 200 học sinh

Năm 2008, nghiên cứu của Trần Châu Anh về tác động của một số đặc
điểm nhân cách đến động cơ thành đạt của thanh niên cho thấy đặc điểm nhân
cách ít ảnh hưởng đến khía cạnh thể hiện động cơ thành đạt [20].
Nghiên cứu của Lê Quang Sơn về mô hình cấu trúc nhân cách trong
tâm lý 2009 đã đề xuất mô hình cấu trúc nhân cách mới, trong đó yếu tố trọng


14

tâm là giá trị cá nhân và theo thứ tự mở rộng từ trung tâm lần lượt các yếu tố
cấu thành là: tự ý thức, năng lực, cảm xúc, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, ngoài
cùng là cảm giác [21].
Năm 2010 nghiên cứu: “Những vấn đề của tâm lý học nhân cách” của
Lê Quang Sơn cho rằng nhân cách là lĩnh vực trung tâm của các nghiên cứu
tâm lý học, đồng thời nhân cách có 6 vấn đề sau: 1-Bản chất và cấu trúc của
nhân cách, 2- động cơ hệ, 3- sự phát triển nhân cách, 4- tâm bệnh lý, 5- sức
khỏe tâm lý, 6- thay đổi nhân cách dưới tác động của liệu pháp tâm lý [22].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân
cách và hiện tượng bắt nạt trên 303 học sinh THPT ở tỉnh Bắc Ninh sử dụng
bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho kết quả những học sinh có nhân cách bình
thản ít khi bị bắt nạt, kiểu nhân cách hoạt bát và ưu tư tỷ lệ học sinh bị bắt nạt
cao hơn nhiều lần [23].
1.1.4.
Một số trắc nghiệm đánh giá nhân cách
Bảng 1.1: Một số trắc nghiệm dùng để đánh giá nhân cách
Tên trắc nghiệm

Số câu hỏi

Trắc nghiệm vết

không (màu tiết, tỉ mỉ và sinh
Aperception Test)
trắng)
động càng tốt về
[26]
các bức tranh
Bảng liệt kê nhân 240 câu gồm
cách NEO (NEO- 5 đặc tính/
PI; NEOyếu tố, mỗi

Trắc nghiệm tự
điền

Ý nghĩa
Phản ánh nội tâm,
rối nhiễu và những
quan niệm về nhân
sinh quan, giá trị
của một con người
Dùng các câu
chuyện do đối
tượng sáng tác về
các tranh ảnh mơ
hồ để suy đoán
nhân cách hay cá
tính của họ
Đánh giá đặc trưng
nhân cách ở người
trưởng thành bình


lời được

Trắc nghiệm tự
điền

California- CPI
(California
Psychological
Inventory) [26]

20 thang đo
khác nhau

Trắc nghiệm tự
điền

Bảng nghiệm kê
nhân cách
Eysenck (EPI)
[25], [27]

57 câu hỏi trả
lời“có”hoặc
“không”

Trắc nghiệm tự
điền

Chẩn đoán những
cá nhân theo một



16

hoặc giảm giá trị bản thân, mất ngủ hoặc giảm cảm giác ngon miệng, cảm
thấy mệt mỏi hoặc thiếu tập trung [29].
1.2.2.
Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm
1.2.2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10 [30]
 Ba triệu chứng đặc trưng (chủ yếu)
- Khí sắc trầm
- Mất mọi quan tâm và thích thú
- Giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động
 Bảy triệu chứng phổ biến khác
- Giảm sút sự tập trung và chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Có ý tưởng bị tội và không xứng đáng
- Bi quan về tương lai
- Có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ
- Ăn ít ngon miệng
Tiêu chuẩn xác định các mức độ trầm cảm
 F32.0 Giai đoạn trầm cảm nhẹ:
- Có ít nhất 2 triệu chứng chủ yếu của trầm cảm
- Có ít nhất 2 triệu chứng phổ biến khác
- Không có triệu chứng nào ở mức độ nặng
- Thời gian rối loạn trầm cảm tối thiểu 2 tuần
- Có hoặc không có các triệu chứng cơ thể của trầm cảm (rối loạn
giấc ngủ, táo bón, mất ngon miệng, giảm trọng lượng cơ thể, giao
động khí sắc trong ngày)

- Giảm trọng lượng cơ thể trên 5%/ 1 tháng
- Mất ngủ vào cuối giấc (ngủ dậy sớm ít nhất 2 giờ so với bình
thường)
- Ức chế tâm thần vận động hoặc kích động trong phạm vi hẹp
(kích động trong phạm vi xung quanh giường ngủ của mình)
- Mệt mỏi hoặc cảm giác mất năng lượng kéo dài
- Có cảm giác vô dụng hoặc có cảm giác tội lỗi hoặc cảm giác
không thích hợp khác
- Giảm năng lương suy nghĩ, giảm tập trung chú ý, giảm khả năng
đưa ra các quyết định
- Có hành vi tự sát
 Căn cứ vào số lượng các triệu, mức độ nặng của các triệu chứng và
mức độ mất chức năng mà người ta chia làm 3 mức độ:
- Các giai đoạn nhẹ: đặc trưng bởi 5 hoặc 6 triêu chứng trầm cảm
và giảm khả năng (học tập, lao động) nhẹ, hoặc chức năng vẫn
bình thường nhưng cần có sự tập trung cao độ.
- Các giai đoạn vừa: là mức độ nhẹ và nặng, có 7-8 các triệu
chứng.
- Các giai đoạn nặng: được đặc trưng cả 9 triệu chứng trầm cảm,
mất khả năng rõ rệt.


18

1.2.3.

Một số thang đo trầm cảm hiện nay
Bảng 1.2: Một số thang đo trầm cảm tự điền hiện nay [32]
Thang đo
Beck Depression


5-10

10-20

30

8-10

7-17

27

10-15

Mọi
lứa tuổi

9

5

Hiện nay trên thế giới có nhiều công cụ sàng lọc trầm cảm như: PHQ-9,
Beck, RADS…. Mỗi bộ công cụ đều chứng minh được giá trị của nó. Tuy
nhiên kết quả từ nghiên cứu so sánh giá trị của các bộ công cụ gợi ý rằng
PHQ-9 ưu thế hơn các thang ngắn tự trả lời đáng giá trầm cảm khác [33].
Nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang PHQ-9, gồm 9 câu hỏi ngắn gọn và
dễ sử dụng. Được sử dụng như công cụ vừa phát hiện, đánh giá điều trị trầm
cảm vừa phản ánh mức độ nặng của trầm cảm trong cộng đồng, PHQ-9 đã
được chuẩn hóa và đưa vào danh mục tên dịch vụ khám chữa bệnh ở các cơ

Một nghiên cứu tại Thái Lan năm 2003 trên 871 trẻ VTN ở độ tuổi từ
12-22 cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 34,9%. Có mối liên quan với độ tuổi (nhóm
18-22 có tỷ lệ cao nhất) và nữ có tỷ lệ trầm cảm nhiều hơn nam [40].
1.2.4.2.
Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hơn một thập kỷ gần đây, vấn đề sức khỏe tâm thần nói
chung và trầm cảm nói riêng được đề cập đến nhiều hơn, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về trầm cảm ở các khía cạnh khác nhau.
Nghiên cứu của Nguyễn Bá Đạt trên 566 học sinh trung học phổ thông
4 trường nội thành Hà Nội năm 2002 sử dụng thang RADS và BDI- II cho kết
quả có 8,8% học sinh có dấu hiệu trầm cảm trong đó 6,7% có dấu hiệu trầm
cảm nhẹ, 1,6% có dậu hiệu trầm cảm vừa, 0,5 % nặng [41].
Nghiên cứu Phan Đăng Thân năm 2010 trên 455 học sinh trung học
phổ thông Trần Quang Khải- Hưng Yên sử dụng thang đo CES-D với điểm


20

cắt 22 phát hiện được 31,7% học sinh có nguy cơ mắc trầm cảm. Nguy cơ
trầm cảm có liên quan đến kết quả học tập, hạnh kiểm, kỷ luật, hút thuốc lá,
bỏ học, thói quen tập thể dục, tình trạng sức khỏe và ngoại hình [42].
Theo Nguyễn Văn Siêm nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc trầm
cảm ở nhóm tuổi từ 15 tuổi trở lên là 8,35% dân số. Tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam là
5/1. Đại đa số bệnh nhân (94,2%) mắc trên 1 năm. Tính chất tiến triển mạn rất
rõ rệt (93,6% là trầm cảm tái diễn). Các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm: sống
độc thân, ly thân, góa, stress cường độ mạnh, đông con, bệnh cơ thể [43].
Nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 trên 404 sinh viên
năm thứ nhất sử dụng thang đo CES-D với điểm cắt là 22, tỷ lệ trầm cảm là
39,6% [44].
Nghiên cứu của Lã Thị Bưởi và cộng sự năm 2001 cho thấy tỷ lệ trầm

quốc gia. Gần đây, các nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu mối liên quan
giữa nhân cách và trầm cảm. Theo nghiên cứu Daniel N.Klein và công sự
năm 2011 cho biết mối liên quan giữa tính cách và trầm cảm có ý nghĩa cho
việc giải thích nguyên nhân và bệnh lý, xác định những nguy cơ và các điều
trị hợp lý cho từng cá nhân. Kết quả cho thấy trầm cảm liên quan đến các tính
trạng như yếu tố thần kinh/cảm xúc tiêu cực [47].
Nghiên cứu của Haleh Saboori năm 2016 trên 200 học sinh trung học ở
Tehran - Iran sử dụng thang EPQ (Eysenck Personality Questionnaire) và
thang Beck cho kết luận rằng người có nhân cách hướng nội có nguy cơ trầm
cảm cao hơn người có nhân cách hướng ngoại [15].
Nghiên cứu Karen Meites và cộng sự trên 170 sinh viên đại học về các
mối tương quan và phân tích nội dung chất lượng cho thấy các thang trầm
cảm Beck, thang đo trầm cảm tự đánh giá SBS và thang lo âu TMAS có mối
liên hệ tương quan đáng kể với bảng nghiệm kê nhân cách EPI [48].
Nghiên cứu của R.E.Kendell và W.J.Discipio về đặc điểm nhân cách
của các bệnh nhân trầm cảm trên 39 bệnh nhân trầm cảm nặng được sử dụng
bảng nghiệm kê nhân cách EPI cả trước và sau khi điều trị hồi phục. Trước
điều trị họ đạt được điểm yếu tố thần kinh cao và điểm hướng ngoại-nội thấp
và khi hồi phục bệnh điểm số ngược lại tuy nhiên nghiên cứu chỉ kết luận
được rằng điểm thần kinh và hướng ngoại-nội thu được khi có trầm cảm nặng
là vô nghĩa, hoặc chúng là sự phản ánh một cái gì đó khác với tính cách của
cá nhân [49].
Nghiên cứu của Hans Christian B.Vangberg và công sự về vấn đề liệu
nhân cách có dự đoán được trầm cảm ở thanh thiếu niên trên 1234 học sinh
trung học sử dụng trắc nghiệm nhân cách JTCI (The Junior Temperament and
Character Inventory) và bảng đánh giá trầm cảm CES-D cho kết quả những


22




24

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu.
- Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai – Đường Võ Quý Huân –
Phường Phúc Diễn – Quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh khối 10, khối 11, khối 12 của trường THPT Nguyễn Thị
Minh Khai.
2.3. Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu tiến hành từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019
- Thời gian thu thập số liệu: tháng 2 năm 2019.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.4.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.4.2.1. Cỡ mẫu
- Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
Trong đó:
n: là cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu.
p: tỷ lệ học sinh trầm cảm (p=0,317 lấy từ nghiên cứu của Phan Đăng Thân) [42]
Mức ý nghĩa thống kê, chọn 0,05 (tương ứng với độ tin cậy 95%)
Z: giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị được chọn như trên
mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể
Với độ tin cậy 95%: Z=1,9
-


Dạnh
4
Phiếu tự điền
vấn của bố
đẳng,THPT,THCS,tiểu
mục
học….
Nghề chính hoặc có thu
5
Nghề nghiệp
thập cao nhất: cán bộ,
Dạnh
Phiếu tự điền
của bố
công nhân, làm ruộng, nội
mục
trợ, thất nghiệp…
Là cấp bậc cao nhất mà
Trình độ học
mẹ đã học: đại học,cao
Dạnh
6
Phiếu tự điền
vấn của mẹ
đẳng,THPT,THCS,tiểu
mục
học….
Nghề chính hoặc có thu
Nghề nghiệp
thập cao nhất: cán bộ,

mục
cách không ổn định /tổng
ổn định
số học sinh
10 Học sinh có
- Số học sinh có nhân
Dạnh
Phiếu tự điền

Stt

Tên biến

Định nghĩa

Phân loại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status