B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
-----***-----
NGUYN TH ANH T
ĐáNH GIá CHấT LƯợNG CUộC SốNG
ở BệNH NHÂN HộI CHứNG RUộT KíCH
THíCH
TạI BệNH VIệN ĐạI HọC Y Hà NộI
Chuyờn ngnh
: Ni khoa
Mó s
: 8720107
CNG LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS. Trn Ngc nh
H NI - 2019
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Chữ viết tắt
Tiếng việt
Irritable bowel syndrome
with constipation
Hội chứng ruột kích thể táo
bón
IBS-M
Irritable bowel syndrome
with a mixture of both
diarrhoea and constipation
Hội chứng ruột kích thích thể
hỗn hợp
IBS-U
Unsubtyped Irritable bowel
syndrome
Hội chứng ruột kích thích thể
không phân loại
HR-QOL
Health related quality of life Chất lượng cuộc sống liên
quan tới sức khỏe
IBS-SSS
IL
interleukin
Cytokin do bạch cầu tiết ra
5-HT
5-hydroxytryptamine
Serotonin
CRH
Corticotropin realeasing
hormone
Hormon giải phóng
corticotropin
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................3
1.1. Đại cương về hội chứng ruột kích thích................................................3
1.1.1. Định nghĩa......................................................................................3
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu.........................................................................3
1.1.3. Đặc điểm dịch tễ học......................................................................5
1.1.4. Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh học...........................................5
1.1.5. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.................................................11
3.1.3. Đặc điểm về thể bệnh HCRKT của nhóm đối tượng nghiên cứu..31
3.1.4. Đặc điểm về thời gian mắc bệnh của nhóm đối tượng nghiên cứu......31
3.1.5. Đặc điểm mức độ nặng triệu chứng lâm sàng của nhóm đối tượng
nghiên cứu....................................................................................31
3.2. Đặc điểm chất lượng cuộc sống của nhóm đối tượng nghiên cứu.......32
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN...............................................................35
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..................................................................................35
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ.................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Cách cho điểm từng câu trả lời trong bộ câu hỏi IBS-QOL...........25
Bảng 2.2. Cấu trúc bộ câu hỏi IBS-QOL trên 8 lĩnh vực................................25
Bảng 2.3. Biến số, chỉ số, phương pháp và công cụ thu thập số liệu..............26
Bảng 3.1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi.................................................30
Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo giới tính...................................................30
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo thể bệnh...................................................31
Bảng 3.4. Đặc điểm thời gian mắc bệnh.........................................................31
Bảng 3.5. Đặc điểm mức độ nặng của triệu chứng lâm sàng..........................31
Bảng 3.6. Đặc điểm CLCS của nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo thang
điểm IBS-QOL..............................................................................32
Bảng 3.7. Đặc điểm CLCS phân bố theo giới tính..........................................32
Bảng 3.8. Đặc điểm CLCS phân bố theo nhóm tuổi.......................................33
Bảng 3.9. Đặc điểm CLCS phân bố theo thời gian mắc bệnh.........................33
Bảng 3.10. Đặc điểm CLCS phân bố theo mức độ nặng của triệu chứng
theo IBS-SSS.................................................................................34
Bảng 3.11. Mối tương quan giữa các khía cạnh CLCS của thang điểm IBSQOL với mức độ nặng của HCRKT theo điểm IBS-SSS...............34
sống ở người bệnh HCRKT sử dụng nhiều thang điểm khác nhau đều cho
2
thấy người bệnh HCRKT có CLCS thấp hơn có ý nghĩa khi so sánh với nhóm
người khỏe mạnh bình thường cũng như nhóm bệnh nhân mắc các bệnh mạn
tính như đái tháo đường, bệnh thận giai đoạn cuối, bệnh trào ngược dạ dày
thực quản. Trong số đó, IBS-QOL đã được chứng tỏ là một thang điểm
chuyên biệt phù hợp với bệnh, đánh giá đúng đắn và hợp lý những tác động
của triệu chứng đường ruột trong HCRKT tới CLCS của người bệnh [10].Tuy
nhiên, ở Việt Nam chưa có dữ liệu nghiên cứu về tình hình CLCS ở bệnh
nhân HCRKT. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá chất lượng
cuộc sống ở bệnh nhân hội chứng ruột kích thích tại bệnh viện Đại học Y
Hà Nội” nhằm hai mục tiêu:
1.
Nhận xét chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân hội chứng ruột kích
thích thể táo bón.
2.
Nhận xét chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân hội chứng ruột kích
thích thể tiêu chảy.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Năm 1994, tại hội nghị quốc tế về tiêu hóa ở Rome đã đưa ra tiêu chuẩn
để chẩn đoán HCRKT (còn được gọi là tiêu chuẩn Rome I [11].
Năm 2000, tại hội nghị quốc tế về tiêu hóa ở Rome đã đưa ra tiêu chuẩn
Rome II cho chẩn đoán HCRKT [11].
Năm 2006, tại hội nghị quốc tế về tiêu hóa ở Rome đã đưa ra tiêu chuẩn
Rome III cho chẩn đoán HCRKT với các tiêu chuẩn ngắn gọn hơn để tiện áp
dụng trong thực tế lâm sàng [11].
Năm 2016, tiêu chuẩn Rome III được chỉnh sửa bởi một nhóm các
chuyên gia đa quốc gia về rối loạn chức năng dạ dày ruột cho ra đời tiêu
chuẩn Rome IV.
Ở Việt Nam:
Năm 1961, Hà Văn Ngạc đã nghiên cứu về hội chứng lỵ và đưa ra nhận
xét: ngoài hội chứng lỵ có tổn thương thực thể còn có hội chứng lỵ mà kết quả
soi trực tràng hoàn toàn bình thường, được cho là có nguyên nhân thần kinh.
Năm 1996, Hà Văn Ngạc – Lại Thị Ngọc đã nghiên cứu điều tra bệnh đại
tràng chức năng (hội chứng ruột kích thích) ở 7934 người lớn có vẻ ngoài
bình thường và kết luận rằng: khám lâm sàng và hỏi bệnh cho kết quả không
có sự khác biệt lớn so với phương pháp khám lâm sàng kết hợp với cận lâm
sàng. Những người mắc HCRKT có đặc điểm: mặc dù biểu hiện nhiều triệu
chứng lâm sàng phối hợp với nhau, thời gian mắc bệnh lâu nhưng sức khỏe
không giảm sút.
Tiếp theo là nghiên cứu của các tác giả Ngô Đức Thành (1996), Nguyễn
Thị Nhuần (1999), Nguyễn Thị Tuyết Nga (2008) đã đưa ra nhận xét: các
triệu chứng lâm sàng ít khi đứng đơn độc mà thường phối hợp với nhau trên
một người bệnh, làm tăng khả năng chẩn đoán HCRKT. Mức độ nặng của
bệnh không phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh dài hay ngắn.
5
6
chế sinh bệnh học của HCRKT vẫn còn chưa được sáng tỏ. HCRKT được các
nhà khoa học xem như là một bệnh lý đa yếu tố, nhiều yếu tố khác nhau góp
phần vào sinh bệnh học của HCRKT từ những bất thường ở ngoại biên như:
sự tăng mẫn cảm tạng, rối loạn vận động ruột, phản ứng viêm tại chỗ, sự
không dung nạp với thức ăn, suy giảm chức năng hàng rào biểu mô đường
ruột, thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột, cho tới những bất thường ở trung ương
như sự mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh, đáp ứng bất thường của
trục ruột não và trục dưới đồi- tuyến yên- tuyến thượng thận với stress, [2],
[13], [19]. Sự ảnh hưởng và tương tác qua lại của các yếu tố này vẫn còn chưa
được hiểu biết rõ ràng.
1.1.4.1. Sự rối loạn vận động ruột.
Nhiều nghiên cứu tiến hành đo áp lực trong lòng ruột từ trực tràng lên
đến đại tràng sigma đã cho thấy có hiện tượng rối loạn vận động của đại tràng
ở bệnh nhân HCRKT. Các rối loạn vận động này là không giống nhau giữa
cacstheer HCRKT khác nhau. Bệnh nhân HCRKT thể tiêu chảy có sự tăng
vận chuyển các chất từ ruột non sang đại tràng và tăng mức độ vận động của
từng đoạn ruột, nguyên do có thể là để đáp ứng với sự gia tăng các kích thích
từ môi trường hoặc bên trong lòng ruột như stress, thức ăn đặc biệt là thức ăn
giàu chất béo, thức ăn cay nóng... Ngược lại, bệnh nhân HCRKT thể táo bón
lại có sự giảm vận chuyển các chất từ ruột non sang đại tràng và giảm vận
động của từng đoạn ruột [20].
1.1.4.2. Tăng mẫn cảm ruột.
Các nhà khoa học đã xác định được rằng bệnh nhân HCRKT có những
bất thường về nhận cảm đau, đặc biệt là tăng mẫn cảm tạng. 50-70% bệnh
nhân HCRKT có ngưỡng đau thấp hơn so với nhóm chứng khỏe mạnh khi có
sự thay đổi áp lực và thể tích trong lòng ruột.
1.1.4.3. Sự thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột.
đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh và triệu chứng của HCRKT. Tăng số
lượng của loài Fimicutes, một chủng vi khuẩn tiết nhiều men protease gây
tăng kích thích các thụ thể cảm giác tạng ở ruột, dẫn tới biểu hiện đau bụng
trên lâm sàng [25], [26]. Bên cạnh đó, Lactobacillus và Bifidobacterium, là
các chủng vi khuẩn đã được chứng minh có tác động chống viêm trong đường
8
ruột lại suy giảm góp phần làm gia tăng các phản ứng viêm trên bệnh nhân
HCRKT [27], [28]. Sự thay đổi thành phần của hệ vi khuẩn đường ruột cũng
gây nên những rối loạn đáp ứng của hệ miễn dịch tại chỗ và toàn thân với tác
nhân gây bệnh. Các nhà khoa học đã quan sát thấy ở bệnh nhân HCRKT có sự
thay đổi biểu lộ gen dẫn đến gia tăng hoạt hóa các tế bào bạch cầu hạt ưa base
và lympho T. Nồng độ các cytokin gây viêm như IL6, IL8, IL1 và TNFɑ cũng
gia tăng đáng kể trong máu ở những bệnh nhân này, do đó mà gây nên những
đáp ứng miễn dịch bất thường [29], [30].
1.1.4.4. Dị ứng và không dung nạp thức ăn.
Có tới khoảng 50% số bệnh nhân HCRKT có than phiền là triệu chứng
của họ nặng lên sau bữa ăn. Simren và cộng sự nghiên cứu trên 330 bệnh
nhân HCRKT bằng bộ câu hỏi triệu chứng liên quan tới 35 thực phẩm khác
nhau, kết quả cho thấy có tới 63 % bệnh nhân có triệu chứng đường tiêu hóa
liên quan tới bữa ăn, đặc biệt là với các thực phẩm giàu tinh bột và chất béo,
cà phê, rượu và chất cay [31]. Hayes và cộng sự tiến hành một cuộc khảo sát
chế độ ăn trên 135 bệnh nhân HCRKT cũng cho thấy 90% bệnh nhân quy kết
triệu chứng của họ là do các loại thực phẩm nhất định; trong số đó 9,6% bệnh
nhân tự kiêng các sản phẩm từ sữa, 7.5% bệnh nhân kiêng các loại trái cây và
5.2% bệnh nhân kiêng rau củ [32]. Rất nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy
sự dị ứng hay quá mẫn với một số loại thực phẩm cụ thể có thể khởi phát hay
làm trầm trọng thêm các triệu chứng đường ruột vốn có thông qua các phản
tạng và dòng máu tới niêm mạc ruột, gây nên triệu chứng của HCRKT. Do
vậy, stress, và những rối loạn tâm lý, không chỉ là hậu quả và gánh nặng của
HCRKT đối với xã hội, mà còn được xem là một yếu tố góp phần vào sinh
bệnh học của HCRKT [35], [36].
1.1.4.6. Phản ứng viêm mức độ thấp và HCRKT sau nhiễm trùng.
Sau một nhiễm trùng đường tiêu hóa cấp tính do tiếp xúc với các vi sinh
vật gây bệnh, đa số người bệnh có thói quen đại tiện trở về bình thường. Một
số sẽ phát triển thành HCRKT với tỉ lệ mắc mới từ 3.6- 36.2%, cao hơn rõ rệt
so với tỉ lệ này là 0.3- 10.2% ở nhóm chứng [37]. Bệnh nhân sau nhiễm trùng
đường tiêu hóa có nguy cơ cao phát triển thành HCRKT, đặc biệt ở những
bệnh nhân trẻ tuổi, có rối loạn tâm lý phối hợp như lo âu hoặc trầm cảm, thời
gian nhiễm trùng kéo dài, sốt kéo dài, tiêu chảy nặng. Về mặt sinh bệnh học,
người ta đã xác định được những bệnh nhân HCRKT sau nhiễm trùng có sự
gia tăng các tế bào lympho, tế bào ưa chrome nội tiết trong biểu mô đại trực
tràng và sự gia tăng nồng độ serotonin sau bữa ăn có liên quan tới triệu chứng
của HCRKT [33].
1.1.4.7. Mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh.
Một trong những chất dẫn truyền thần kinh chủ yếu tham gia vào việc
điều tiết vận động của đại tràng là Serotonin (5-hydroxytryptamine:5-HT)
thông qua hai receptor đặc hiệu trên đương tiêu hóa là 5-HT3 và 5HT4.Khoảng 5% 5-HT có ở hệ thần kinh trung ương, 95% còn lại tập trung
nhiều nhất ở ống tiêu hóa, tiết ra bởi các tế bào ưa chrome của biểu mô niêm
mạc ruột, nơ-ron thần kinh, tế bào cơ trơn, tế bào Mast. 5-HT có hoạt tính gây
co thắt cơ trơn, tăng nhu động ruột, thay đổi cảm nhận đau nội tạng và kích
thích bài tiết nước và điện giải vào lòng ruột. Sự thay đổi nồng độ 5-HT ở
bệnh nhân HCRKT gây nên những triệu chứng lâm sàng khác nhau ở những
thể bệnh HCRKT khác nhau [38], [19].
11
hoặc nát, có thể có nhầy nhưng không có máu, lượng phân mỗi lần thường ít
nhưng tổng lượng phân trong ngày thì bình thường(không quá 200g).
+ Táo bón: Đi ngoài
Nội soi đại tràng: để loại trừ những bệnh thực tổn như u, polyp, viêm
loét đại trực tràng chảy máu,…
X quang khung đại tràng với thuốc cản quang: có thể loại trừ những
bệnh thực tổn như: u, polyp, viêm, loét đại tràng,…
Sinh thiết niêm mạc để xét nghiệm mô bệnh học: để loại trừ viêm đại
tràng collagen (viêm đại tràng vi thể, viêm đại tràng lympho).
Thử nghiệm dung nạp lactose: để loại trừ những trường hợp không
dung nạp lactose do thiếu có chọn lọc enzyme lactase.
1.1.6.2. Các thể bệnh hội chứng ruột kích thích.
Theo tiêu chuẩn ROME IV, các thể bệnh HCRKT được phân loại như
sau [39]:
HCRKT thể tiêu chảy(IBS-D): phân lỏng chiếm ưu thế, số lần đại tiện
phân lỏng ≥ 25% số lần đại tiện và số lần đại tiện phân rắn < 25% số lần đại tiện.
15
HCRKT thể táo bón(IBS-C): táo bón chiếm ưu thế, số lần đại tiện phân
rắn ≥25% số lần đại tiện và số lần đại tiện phân lỏng < 25% số lần đại tiện.
HCRKT thể hỗn hợp (IBS-M): phân lỏng, táo bón xen kẽ, số lần đại
tiện phân rắn ≥ 25% số lần đại tiện và số lần đại tiện phân lỏng ≥ 25% số lần
đại tiện.
HCRKT thể không phân loại (IBS-U): không phân loại, số lần đại
tiện phân rắn < 25% số lần đại tiện và số lần đại tiện phân lỏng < 25% số lần
đại tiện.
Theo thời gian bệnh nhân bị HCRKT có thể chuyển dạng giữa các thể
bệnh, trong đó phổ biến nhất là từ IBS-C hoặc IBS-D sang IBS-M, chuyển dạng
giữa IBS-C và IBS-D ít xảy ra hơn, sự thay đổi này thường thấy ở phụ nữ.
Chú ý:
Phân rắn: type 1 và type 2 theo thang điểm Bristol (phụ lục 1).
một bệnh lành tính, không có nguy cơ ung thư, và phải kiên trì điều trị lâu dài.
Người thầy thuốc phải cùng chia sẻ và cùng tìm hướng giải quyết những vấn
đề do HCRKT gây ra ảnh hưởng tới cuộc sống cũng như các mối quan hệ của
gười bệnh.
- Điều trị dùng thuốc:
+ Điều trị táo bón: nhóm thuốc nhuận tràng.
17
+ Điều trị chống tiêu chảy: thuốc chống tiêu chảy loperamid, thuốc đối
kháng thụ thể 5-HT3, thuốc kháng cholinergic.
+ Điều chỉnh hệ vi khuẩn đường ruột bằng các probiotic.
+ Nhóm thuốc chống trầm cảm 3 vòng.
1.1.8. Đánh giá mức độ nặng của HCRKT.
Thang điểm IBS-SSS đã được chứng tỏ là một thang điểm có giá trị và
được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ nặng của HCRKT [40]. Mức độ
nặng của HCRKT được đánh giá thông qua 5 câu hỏi về mức độ đau bụng,
chướng bụng, sự thỏa mãn về thói quen đại tiện, và tác động của HCRKT tới
cuộc sống của bản thân người bệnh, do chính người bệnh tự đánh giá theo
thang điểm 100. Tổng điểm cuối cùng sẽ được phân thành 3 nhóm: HCRKT
mức độ nhẹ(75-175), HCRKT mức độ trung bình (175-300) và HCRKT mức
độ nặng(trên 300). Điểm IBS-SSS dưới 75 được xem là ngưỡng của người
bình thường và điểm IBS-SSS cải thiện từ 50 điểm trở lên được xem là có đáp
ứng với điều trị.
1.2. Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân hội chứng ruột kích thích.
1.2.1. Khái niệm chất lượng cuộc sống nói chung.
Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về CLCS. Theo WHO, CLCS
được định nghĩa là sự nhận thức của một cá nhân về tình trạng hiện tại của
người đó, theo những chuẩn mực về văn hóa và sự thẩm định xã hội mà người
biện pháp để đáp ứng nhu cầu nâng cao CLCS. Trong lĩnh vực y tế, liên quan
tới đánh giá tác động của bệnh và điều trị bệnh tới CLCS, thì sức khỏe là lĩnh
vực chủ yếu cần được quan tâm và đo lường. Vì vậy mà khái niệm “chất
lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe” (HRQOL) đã ra đời, dần dần được
sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu y học. HRQoL dao động từ các khía
cạnh mang giá trị tiêu cực của cuộc sống, bao gồm cả cái chết, cho đến các
19
khía cạnh mang giá trị tích cực hơn như là thực hiện được vai trò hoặc cảm
thấy hạnh phúc trong cuộc sống. Cấu trúc của HRQOL gồm 3 phần cốt lõi:
thể chất, tinh thần, xã hội. Mỗi phần lại được xem xét trên nhiều khía cạnh.
Các khía cạnh của lĩnh vực tinh thần là: suy nghĩ tích cực, suy nghĩ tiêu cực,
và các hành vi. Các khía cạnh của lĩnh vực xã hội là: công việc, địa vị và quan
hệ cá nhân. Việc đánh giá CLCS của người bệnh có ý nghĩa vô cùng quan
trọng, cung cấp những thông tin phản ảnh trạng thái hiện tại của một cá nhân
phải trải qua một bệnh cụ thể nào đó, từ đó cho thấy được tầm ảnh hưởng và
cả gánh nặng bệnh tật của bệnh trên các lĩnh vực khác nhau, để đưa ra được
những biện pháp can thiệp phù hợp hiệu quả, không chỉ điều trị bệnh, cải
thiện sức khỏe thể chất mà còn cải thiện sức khỏe tinh thần, xã hội, giúp
người bệnh có được một CLCS gần như bình thường.
1.2.2. Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân hội chứng ruột kích thích.
HCRKT được khẳng định là một bệnh lý lành tính, không đe dọa đến
tính mạng cuộc sống người bệnh, tuy nhiên những triệu chứng đường tiêu hóa
lại dai dẳng kéo dài, các phương pháp điều trị chủ yếu là giải quyết triệu
chứng, mà chưa có điều trị đặc hiệu, vì vậy mà ảnh hưởng rất lớn tới CLCS
người bệnh. Những triệu chứng đường tiêu hóa, mà ở HCRKT đặc biệt lại là
những triệu chứng liên quan tới thay đổi thói quen đại tiện và tính chất phân
là một vấn đề nhạy cảm, gây khó chịu cho bệnh nhân. Người bệnh phải dành