THỰC TRẠNG sử DỤNG rượu BIA và các yếu tố LIÊN QUAN ở NGƯỜI 30 49 TUỔI tại VIỆT NAM năm 2015 - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ TRANG

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RƯỢU BIA VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở NGƯỜI 30 - 49 TUỔI TẠI VIỆT NAM NĂM 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
KHÓA 2013 - 2019

Hà Nội – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
----***----

NGUYỄN THỊ TRANG

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RƯỢU BIA VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở NGƯỜI 30 - 49 TUỔI TẠI VIỆT NAM NĂM 2015
Ngành đào tạo : Bác sỹ Y học dự phòng
Mã ngành

: 52720103

Sinh viên

Nguyễn Thị Trang


LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
-

Phòng Quản lý Đào tạo đại học Trường Đại học Y Hà Nội
Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
Bộ môn Sức khỏe toàn cầu
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp

Em xin cam đoan công trình nghiên cứu “Thực trạng sử dụng rượu bia và
các yếu tố liên quan ở người 30-49 tuổi tại Việt Nam năm 2015” này là do em
thực hiện. Các kết quả, số liệu trong khóa luận đều có thật và chưa được đăng tải
trên tài liệu khoa học nào.

Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2019
Sinh viên

Nguyễn Thị Trang


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DALYs

Disability Adjusted Life Years


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC HÌNH VẼ- BIỂU ĐỒ


9

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực trạng sử dụng rượu bia trên thế giới nói chung và tại Việt Nam hiện nay
vẫn đang là một vấn đề đáng lo ngại. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới
(WHO), ước tính có khoảng 2 tỷ người (1/3 dân số thế giới) sử dụng rượu bia và
khoảng 76,3 triệu người lạm dụng rượu bia trên toàn thế giới [1]. Tại Việt Nam,
cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội thì tỷ lệ sử dụng rượu bia có xu hướng gia
tăng nhanh trong những năm gần đây và đang ở mức báo động [2]. Mức tiêu thụ
rượu bia bình quân/người/năm quy đổi ra cồn nguyên chất đã tăng từ 3,8 lít (giai
đoạn 2003 - 2005) lên 6,6 lít (giai đoạn 2008 - 2010), cao hơn mức trung bình của
thế giới (6,2 lít). Mức tiêu thụ rượu bia trong 2 giai đoạn này đã tăng lên 74%, trong
khi mức tiêu thụ chung trên toàn thế giới chỉ tăng 1% [3]. Đáng chú ý hơn, Việt
Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nam giới sử dụng rượu bia cao nhất thế
giới [2]. Năm 2015, tỷ lệ nam giới từ 18 - 69 tuổi sử dụng rượu bia trong 30 ngày
qua là 77,3%, trong đó có tới 44,2% nam giới sử dụng rượu bia ở mức nguy hại [4].

Về mức độ tiêu thụ, n ếu tính riêng nam giới trên 15 tuổi tại Việt Nam năm 2010,
thì trung bình một nam giới tiêu thụ 27,4 lít cồn nguyên chất/năm, xếp thứ 2 trong
các nước Đông Nam Á, xếp thứ 10 Châu Á và đứng thứ 29 trên thế giới [5].
Việc sử dụng và lạm dụng rượu bia gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối
với sức khỏe của cá nhân và cộng đồng [6]. Theo tổ chức Y tế thế giới, sử dụng
rượu bia có liên quan đến hơn 200 loại bệnh tật khác nhau và lạm dụng rượu bia là
một trong 5 nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật, tử vong trên toàn thế giới chỉ sau hút



11

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan đến rượu bia
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Định nghĩa rượu bia
Rượu bia là đồ uống có cồn được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và
đường có trong nhiều loại hoa quả, ngũ cốc [12].
1.1.1.2. Định nghĩa sử dụng rượu bia
Khái niệm sử dụng rượu bia được định nghĩa trong nghiên cứu này là đối
tượng nghiên cứu có uống rượu hoặc bia ít nhất một lần trước thời điểm nghiên cứu.
1.1.2. Phân loại rượu bia
Có nhiều cách phân loại rượu bia. Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng cách phân
loại của WHO, dựa vào nồng độ cồn có thể chia làm 3 loại:
+ Bia: thường có nồng độ cồn 5%.
+ Rượu nhẹ : thường có nồng độ cồn từ 12- 15%.
+ Rượu mạnh: có nồng độ cồn khoảng 40% [12].
1.1.3. Đơn vị rượu/ cốc chuẩn
Đơn vị rượu là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các rượu bia với nhiều
nồng độ khác nhau [12].
Hiện chưa có quy ước hay thỏa thuận nào về việc xác định một đơn vị rượu
chung cho mọi quốc gia, tuy nhiên đơn vị rượu đang được áp dụng phổ biến tại
nhiều nước trong đó có Việt Nam theo khuyến cáo của WHO đó là 1 đơn vị rượu
tương đương 10 gam rượu nguyên chất chứa trong dung dịch uống.
Theo Cục Y tế dự phòng, một đơn vị rượu tương đương với :3/4 chai/lon bia
330ml (5%), 1 ly rượu vang 100ml (13,5%), 1 cốc bia hơi 330ml hoặc 1 chén rượu
mạnh 30ml (40%) [13].

nguyên chất/người/năm [17]. Tính bình quân đầu người từ 15 tuổi trở lên, mức tiêu
thụ rượu bia giai đoạn 2005 – 2010 cao nhất ở các nước kinh tế phát triển, trong đó
Châu Âu là khu vực có mức tiêu thụ rượu bia bình quân/người/năm cao nhất


13

khoảng 12,11 lít/người/năm, gấp 2 lần so với mức trung bình toàn cầu là 5,81 lít

[18]. Mức độ tiêu thụ thấp hơn ở Châu Phi và một số quốc gia Châu Á, đặc biệt
thấp hơn nữa ở Tiểu lục địa Ấn Độ và các quốc gia theo đạo Hồi [5]. Nhìn chung,
mức tiêu thụ rượu bia toàn cầu không dao động lớn trong những năm gần đây (chỉ
tăng từ 6,13 lít năm 2005 lên 6,2 lít năm 2010, tức chỉ khoảng 1%). Tuy nhiên, có
sự thay đổi về mức tiêu thụ giữa các quốc gia và khu vực [3]. Trong khi tiêu thụ
rượu bia có xu hướng giảm ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi thì khu vực Tây Thái
Bình Dương và Đông Nam Á lại gia tăng mạnh (từ 5,4 lít năm 2005 lên 6,8 lít năm
2010, tăng 26%) [9]. Các xu hướng và dự báo hiện tại cho thấy đang có sự gia tăng
về mức tiêu thụ bình quân đầu người trên thế giới trong 10 năm tới, đặc biệt là khu
vực Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và châu Mỹ.
Nam giới có khuynh hướng sử dụng rượu bia nhiều hơn nữ giới. Tuy nhiên,
tại các nước phát triển, nữ giới sử dụng rượu bia cũng chiếm tỷ lệ cao. Ở Scotland,
theo số liệu năm 2003 có 73% nam giới và 59% nữ giới trên 16 tuổi sử dụng rượu
bia, lượng rượu bia tiêu thụ trung bình là 17,7 đơn vị rượu/ người đối với nam và
6,7 đơn vị rượu/ người đối với nữ [19]. Theo kết quả điều tra quốc gia hộ gia đình ở
Mỹ năm 2001, 84% dân số Mỹ ( trên 12 tuổi) đã từng uống rượu bia. Tỷ lệ uống
rượu bia ở nam là 69,8% và ở nữ là 61,5%. Ở Canada, 82% nam giới và 76,8% nữ
giới trên 15 tuổi có uống rượu [20]. Ngược lại, tại các nước đang phát triển, những
người uống rượu bia chủ yếu là nam giới. Tại khu vực Đông Nam Á, ước tính
khoảng 45% nam giới trên 15 tuổi có sử dụng rượu, tỷ lệ này ở nhóm nữ chỉ là 5%.
Ở Ấn Độ, nam giới uống rượu chiếm 58,3%, trong khi nữ giới chỉ chiếm 1,5% [18].

Về mức độ phổ biến của việc sử dụng rượu bia, các nghiên cứu gần đây tại
Việt Nam đã chỉ ra rằng, tỷ lệ sử dụng rượu bia ở nam giới cao hơn so với nữ giới
và tỷ lệ sử dụng rượu bia ở cả 2 giới đang ngày càng gia tăng. Kết quả nghiên cứu
của Trần Văn Hưởng về thực trạng sử dụng rượu bia ở đồng bào dân tộc Khmer từ
25-64 tuổi năm 2017 cho thấy tỷ lệ nam giới sử dụng rượu là 74,8% và ở nữ là
13,3% [24]. Nếu như năm 2010, Việt Nam có 70% nam và 6% nữ giới trên 15 tuổi
có uống rượu bia trong 30 ngày qua thì sau đến năm 2015 tỷ lệ này đã tăng lên
tương ứng là 80,3% ở nam giới và 11,6% ở nữ giới [25]. Theo báo cáo điều tra y tế
quốc gia năm 2001- 2002, tỉ lệ sử dụng rượu bia ở nam giới có chiều hướng tăng


15

theo bậc các nhóm tuổi, cao nhất ở độ tổi từ 35-44 tuổi chiếm tỷ lệ 63,3% và có
chiều hướng giảm khi về già. Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên bắt đầu uống rượu bia từ
trước 19 tuổi ở nam giới là 29,7% và 13,9% ở nữ, trong đó cao nhất ở nhóm nam
giới mù chữ (42,7%) thấp nhất ở nhóm nam giới trên cấp III (21,5%). Tỷ lệ hộ gia
đình có người uống rượu bia là 53,5% trong tổng số 36000 hộ gia đình tham gia vào
nghiên cứu, 62,9% số xã/phường được lãnh đạo xã/phường xác định lạm dụng rượu
bia là một tệ nạn xã hội tại xã/phường [26].
Tại Việt Nam, 99% đồ uống có cồn là rượu và bia, những loại đồ uống có
cồn khác chiếm tỷ lệ không đáng kể [5]. Tuy nhiên, tình trạng sử dụng các loại rượu
tự nấu, không có nguồn gốc rõ ràng cũng đang là một vấn đề đáng lo ngại tại Việt
Nam. Hiện có khoảng 95,7% người sử dụng rượu bia ở Việt Nam thường xuyên
uống các loại rượu bia thủ công do tư nhân tự nấu. Số lượng 90% rượu bia trên thị
trường do tư nhân nấu tương đương khoảng 250 triệu lít/năm [27].
Nghiêm trọng hơn, tình trạng lạm dụng rượu bia đang là thách thức lớn tại
Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu của việc chiến lược và chính sách y tế năm 2005
trên 1200 hộ gia đình tại 3 tỉnh Sơn La, Thanh Hóa, Bà rịa Vũng tàu. Với 3464
người trên 15 tuổi có tỷ lệ lạm dụng rượu bia là 18%, trong đó tỷ lệ lạm dụng rượu

(27%), thấp nhất là tỷ lệ uống lượng rượu bia dưới 10 cốc chuẩn (1%) [30].
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến lạm dụng rượu bia
1.3.1. Dân tộc
Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam đã chỉ ra rằng, có mối liên quan giữa việc
lạm dụng rượu bia với yếu tố dân tộc. Nghiên cứu về thực trạng, các yếu tố ảnh
hưởng và tác hại của lạm dụng rượu bia ở một số vùng sinh thái của Việt Nam, 2009
của tác giả Hoàng Thị Phượng cho thấy, người dân tộc thiểu số lạm dụng rượu bia
cao gấp 2,2 lần người dân tộc Kinh [31].
1.3.2. Trình độ học vấn
Nghiên cứu về tiêu dùng rượu bia ở Việt Nam của tác giả Lưu Bích Ngọc và
Nguyễn Thị Thiềng đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa trình độ học vấn với hành
vi sử dụng rượu bia, theo hướng trình độ học vấn càng cao thì sử dụng rượu bia
càng nhiều [6]. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm dụng rượu bia ở nhóm có trình độ học vấn thấp
lại cao hơn nhóm người trình độ học vấn cao [24]. Điều này được lý giải có thể là
do trình độ học vấn càng cao, quan hệ bạn bè nhiều, có khả năng làm ra tiền nên


17

điều kiện tiếp cận và uống rượu bia nhiều hơn. Tuy nhiên, những người có trình độ
học vấn cao lại hiểu biết hơn về tác hại của việc lạm dụng rượu bia và biết nhiều
hơn về mức độ sử dụng rượu bia an toàn.
1.3.3. Nghề nghiệp
Tính chất nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng và lạm dụng rượu
bia của đối tượng nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dụng rượu bia
tại tỉnh Trà Vinh năm 2015 cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu bia cao nhất ở nhóm nông
dân và lao động tự do chiếm tới 92,1%, trong khi đó công nhân viên chức nhà nước
chỉ lạm dụng ở mức 3,4% [24].
1.3.4. Tình trạng hôn nhân
Nghiên cứu về thực trạng sử dụng rượu bia của nam giới tại Hà Nội năm

Còn ở thành thì, đa số rượu bia được sử dụng trong những dịp gặp gỡ, giao lưu để
phát triển những mối quan hệ xã hội, lượng rượu sử dụng thường không quá cao và
thường sử dụng những loại rượu nhẹ.
1.3.6. Tình trạng dinh dưỡng (BMI)
Trên thế giới đã có nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan nghịch giữa BMI và
mức tiêu thụ rượu bia. Những người càng thừa cân, béo phì thì càng ít uống rượu
bia [34]. Một nghiên cứu khác về mối liên quan giữa BMI với việc sử dụng rượu ở
nam giới trung niên tại Anh cho thấy những người có mức tiêu thụ rượu bia cao thì
thường dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì [35].
1.3.7. Tình trạng sức khỏe
Lạm dụng rượu bia đã được xác định là một yếu tố nguy cơ đối với các bệnh
không lây nhiễm như THA, ĐTĐ, tăng cholesterol máu. Nghiên cứu về mô hình
tiêu thụ rượu bia và mối liên quan với các bênh không lây nhiễm tại Thái Lan đã chỉ
ra rằng, tiêu thụ rượu nặng (từ 4 cốc chuẩn trở lên/ lần), ngay cả khi không thường
xuyên thì cũng có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh không lây mạn tính [36].


19

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019
2.2. Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu số liệu sẵn có từ “Điều tra Quốc gia
về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm Việt Nam năm 2015” do Bộ Y Tế thực hiện cho
nhóm tuổi 18 - 69 dựa theo công cụ và quy trình STEPS của Tổ chức Y Tế Thế Giới.
- Sơ đồ dưới đây mô tả quy trình STEPS trong thu thập số liệu:

Các bước

máu và nước

sinh hóa

tiểu

Thông tin thu thập
Mức cơ bản và mức
mở rộng:
- Nhân khẩu học
- Hút thuốc
- Tiêu thụ rượu bia
- Tiêu thụ rau và trái
cây
- Tiêu thụ muối
- Hoạt động thể lực
- Khác
Mức cơ bản:
- Chiều cao
- Cân nặng
- Vòng eo
- Huyết áp

Mức cơ bản, mức mở
rộng và tùy chọn
- Glucose máu
- Cholesterol máu
- Creatinine và Natri
trong nước tiểu


Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu
: Hệ số tin cậy, với khoảng tin cậy 95%, kiểm định 2 phía, =1,96.
d: Khoảng sai lệch tuyệt đối, d = 0,05
P: tỷ lệ ước đoán P được lấy bằng 0,5
Bổ sung:
Hệ số thiết kế: 1,5
Tỷ lệ trả lời mong đợi: 0,8
Số tầng nghiên cứu (theo nhóm tuổi và giới): 6
Cỡ mẫu của điều tra là:

 Cách chọn mẫu


21

- “Điều tra Quốc gia về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm Việt Nam năm
2015” sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Lấy mẫu cụm
Chọn 15% khung mẫu chính từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 được
25.500 khu vực. Khung mẫu chính được chia thành 2 biến phân tầng: đô thị hóa (1
= đô thị; 2 = nông thôn) và nhóm huyện (1 = huyện/ thị xã/ thành phố của tỉnh; 2 =
vùng đồng bằng và ven biển; 3 = miền núi, huyện đảo). Sử dụng phương pháp chọn
mẫu tỷ lệ với cỡ dân số (PPS) để chọn mẫu cụm từ 6 tầng của khung mẫu chính
chọn ra được 315 cụm tại các đô thị và 342 cụm cho vùng nông thôn. Sử dụng
phương pháp chọn ngẫu nhiên hệ thống, chọn ra 315 cụm.
+ Giai đoạn 2: Lấy mẫu hộ gia đình
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn, lấy 10% hộ gia đình trong
mỗi cụm đã được chọn. Tổng số hộ gia đình tham gia điều tra quốc gia năm 2015 là
4651 hộ.

vấn
Tình trạng sức
khỏe
Tình trạng dinh
dưỡng

Mục tiêu 1:
Thực trạng
sử dụng
rượu bia
của đối
tượng
nghiên cứu

Chưa
từng
uống rượu bia
Không
uống
trong 12 tháng
qua
Uống rượu bia
trong 12 tháng
qua,
không
uống trong 30
ngày qua
Sử dụng rượu
bia trong 30
ngày qua

Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn

Phỏng vấn

Phỏng vấn
Đo trực tiếp
Phỏng vấn

Tỷ lệ % đối tượng không uống
rượu bia trong 12 tháng qua

Phỏng vấn

Tỷ lệ % người có uống rượu
bia trong 12 tháng qua nhưng
không uống trong 30 ngày qua

Phỏng vấn

Tỷ lệ % người có uống rượu
bia trong 30 ngày qua

Phỏng vấn

Tỷ lệ % người uống theo các
tần suất: hàng ngày, 5-6

trở lên
Số lần uống từ
Số lần trung bình uống từ 6
6 đơn vị cồn
Phỏng vấn
đơn vị cồn trở lên
trở lên
Số gam rượu uống trong 1 lần
trong 30 ngày qua. Tỷ lệ %
Mức độ sử người uống theo các mức:
Phỏng vấn
dụng
Uống nhiều (≥ 60g)
Uống vừa (40 - 59,9g)
Uống ít (< 40g)
Sử dụng rượu Tỷ lệ % người có uống rượu
Phỏng vấn
bia 7 ngày qua bia 7 ngày qua
Tỷ lệ % người uống theo các
Tần suất sử
tần suất: không uống ngày nào/
dụng rượu bia
Phỏng vấn
1-2 ngày, 3-4 ngày, 5-6 ngày
7 ngày qua
và hàng ngày.
Tỷ lệ % người uống các loại
Loại rượu bia
rượu : rượu tự nấu, bia, rượu
Phỏng vấn

2.6. Quy trình thu thập số liệu


24

2.6.1. Công cụ thu thập số liệu
2.6.1.1. Bộ câu hỏi
Sử dụng bộ câu hỏi chuẩn WHO (STEPS Instrument CORE_EXP V3.1). Bộ
câu hỏi được dịch sang Tiếng Việt và được hiệu chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực
tế của Việt Nam và được thử nghiệm tại thực địa trước khi sử dụng.
2.6.1.2. Bộ tranh minh họa
Hỗ trợ cho người phỏng vấn để đo lường và quy đổi sang đơn vị chuẩn, bộ
tranh minh họa sẽ bao gồm:


Tranh minh hoạt cho rau quả và trái cây



Tranh minh họa cho đồ uống có cồn

2.6.1.3. Công cụ đo nhân trắc, huyết áp
-

Máy đo huyết áp điện tử chuẩn theo khuyến nghị của WHO

-

Cân điện tử tiêu chuẩn do WHO khuyến nghị


- Uống ít: < 40 gam rượu/ lần
2.6.3. Quy trình thu thập số liệu
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được nhập, làm sạch và quản lý bằng phần
mềm Microsoft Access. Sau đó, tiến hành chọn ra các bản ghi phỏng vấn trên đối
tượng từ 30 - 49 tuổi thảo mãn tiêu chuẩn lựa chọn và chuyển sang phần mềm
STATA 12.0 để phân tích.
2.7. Xử lý và phân tích số liệu
Phân tích thống kê mô tả được sử dụng để mô tả các đặc điểm nhân khẩu
học, tình trạng sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu (tần số, tỷ lệ, giá trị trung
bình, độ lệch chuẩn). Các yếu tố liên quan đến tình trạng lạm dụng rượu của đối
tượng nghiên cứu được xác định bằng tỷ suất chênh OR. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status