BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ THANH HIẾU
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ HIỆU QUẢ
SẢN XUẤT CỦA CÁC HỘ NUÔI CÁ TRA Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chuyên ngành: Kinh tế Phát
triển
Mã số: 9310105
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH
TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2019
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI
PGS.TS VÕ THÀNH DANH
Phản
biện
1:
…………………………………………
…………………………
Vào
hồi……..giờ……
ngày…….tháng…….năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1
TÓM TẮT
Luận án đã kết hợp việc phân tích chuỗi giá trị (CGT) với
phân tích hàm sản xuất và hàm chi phí biên ngẫu nhiên để xác định
những thuận lợi và điểm nghẽn trong hoạt động của các tác nhân
tham gia trong CGT, đặc biệt đối với các hộ sản xuất (HSX) cá tra
nguyên liệu và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu (DNCBXK),
nhằm đề cuối cùng xây dựng những giải pháp nâng cấp CGT cá tra ở
đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thông qua việc sử dụng phân
tích ma trận SWOT. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các HSX vẫn còn
khả năng cắt giảm chi phí sản xuất từ việc sử dụng các yếu tố đầu
vào để nâng cao HQSX. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng,
vấn đề sử dụng con giống có chứng nhận sạch bệnh có tác động tốt
và có ý nghĩa đến HQSX của các hộ nuôi cá tra. Cũng từ kết quả
nghiên cứu, tác giả đã đề xuất 7 giải pháp để nâng cấp CGT cá tra ở
ĐBSCL đối với các hộ nuôi và 4 giải pháp cho các DNCBXK.
Từ khóa: Cá tra, Hiệu quả kỹ thuật, Hiệu quả
chi phí, Hiệu quả sản xuất, Chuỗi giá trị
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
mức độ hiệu quả đích thực của các hộ nuôi trong bối cảnh phải chịu
tác động của các yếu tố phi ngẫu nhiên không kiểm soát được, đi
cùng với tính phi hiệu quả do chính những hạn chế trong kỹ thuật
nuôi của các hộ nuôi (trong trường hợp sử dụng phương pháp DEA
của , Sharma và ctv, 1999; Kaliba và Angle, 2004; Cinamre, 2006;
Bùi Lê Thái Hạnh, 2009; Nguyễn Phú Son, 2010; Đặng Hoàng Xuân
Huy, 2011). Do vậy, cũng có những tác giả khác đã sử dụng phương
pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA-Stochastic Frontier Analysis)
3
để khắc phục những hạn chế của DEA. Mặc dù cách phân tích dựa
vào phương pháp này đã được sử dụng khá phổ biến ở nước ngoài
đối với nhiều lĩnh vực của nền kinh tế (nông nghiệp, thủy sản, công
nghiệp, dịch vụ), chẳng hạn như nghiên cứu của M. A. Alam và
ctv. (2005); Kehar Singh (2008) Huy (2009); Nguyễn Hồng Phong
(2010); Kehar Singh và ctv (2008); Onumah và Acquah (2011)
nhưng ở Việt Nam việc sử dụng SFA chưa phổ biến lắm trong lĩnh
vực thủy sản, đặc biệt đối với ngành hàng cá tra. Chính vì vậy, trong
nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp SFA để đo lường
HQSX của các hộ nuôi, cũng như để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng
đến tính phi hiệu quả kỹ thuật và phi hiệu quả chi phí, nhằm để chỉ ra
điểm nghẽn trong khâu sản xuất cá tra để cuối cùng nâng cao HQSX
cho các hộ nuôi, và do vậy nâng cao được lợi nhuận cho toàn CGT
cá tra ở ĐBSCL.
Thêm vào đó, để phát hiện ra những điểm mạnh và điểm
nghẽn trong CGT, cũng như những cơ hội và thách thức mà các tác
nhân tham gia trong CGT có được và gặp phải, những nhà nghiên
cứu đã sử dụng các phương pháp phân tích CGT của German
2.1. Mục tiêu chung
Đề xuất các giải pháp nâng cấp CGT và nâng cao HQSX của
các hộ nuôi cá tra ở ĐBSCL, thông qua việc phân tích CGT cá tra ở
ĐBSCL và đo lường, đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến HQSX
của các hộ nuôi.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung nói trên, luận án này được thực
hiện nhằm thỏa mãn các mục tiêu cụ thể sau: (i) Phân tích CGT cá
tra ở ĐBSCL để phát hiện các điểm nghẽn và thuận lợi trong hoạt
5
động của các tác nhân tham gia trong CGT; (ii) Phân tích HQSX và
các yếu tố có ảnh hưởng đến HQSX của các hộ nuôi cá tra ở ĐBSC;
và (iii) Đề xuất giải pháp nâng cấp CGT cá tra và nâng cao HQSX
của các hộ nuôi cá tra ở ĐBSCL.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thu thập thông tin
Luận án được thực hiện thông qua việc sử dụng cả hai loại
thông tin, bao gồm những thông tin thứ cấp và sơ cấp.
3.1.1. Thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu này bao
gồm các báo cáo thường niên của Sở Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thủy sản, Hiệp hội Chế
biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) và các báo cáo
nghiên cứu khoa học sẵn có, có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
3.1.2. Thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp được sử dụng trong nghiên cứu này được
thu thập từ việc phỏng vấn trực tiếp 227 hộ nuôi trên địa bàn của 3
tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Thành phố Cần Thơ. Các
Efficiency) và CE (CE-Cost Efficiency) của các hộ nuôi và phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến tính phi TE và phi CE của các hộ nuôi.
3.2.2.1. Lựa chọn hàm sản xuất biên ngẫu
nhiên thích hợp
Thông qua việc sử dụng kiểm định tỷ lệ thích hợp (LR test –
Likelihood Ratio Test) (Coelli, 1996), dạng hàm sản xuất biên trong
nghiên cứu này được xác định là dạng hàm translog hoặc Cobb-
7
Douglas. Kiểm định thống kê này được thực hiện dựa vào công thức
sau :
LR = -2[L0 – L1]
(3.11)
Nếu như giá trị thống kê của tỷ lệ thích hợp tổng hợp này lớn
hơn giá trị tra bảng Chi-square với bậc tự do k (là hiệu số giữa số
biến độc lập được sử dụng trong 2 mô hình Cobb-Douglas và
Translog) tại mức ý nghĩa thống kê α% nào đó, lúc đó giả thuyết cho
rằng dạng hàm Cobb-Douglas thích hợp bị bác bỏ và ngược lại.
Trong đó, L0: giá trị thống kê tỷ lệ thích hợp cho rằng hàm CobbDouglas thích hợp và L1: giá trị thống kê tỷ lệ thích hợp cho rằng
hàm translog thích hợp. Kết quả kiểm định cho thấy dạng hàm thích
hợp là hàm sản xuất có dạng Translog. Do vậy, mô hình sản xuất
biên ngẫu nhiên được sử dụng để đo lường TE của các hộ nuôi có
dạng như sau:
(3.14)
Trong đó,
yi : sản lượng đạt được của hộ thứ i ;
β : là các tham số hồi qui ;
đến tính phi TE và chi phí
Để xác đinh ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội đến
tính phi hiệu quả về kỹ thuật và chi phí (u i) của các hộ sản xuất, mô
hình đánh giá tính phi hiệu quả sau đây được sử dụng
ui = δ0 + δ1Z1i + δ2Z2i +……+ δhZhi
(3.16)
(h is là số biến thuộc đặc điểm kinh tế xã hội của HSX)
Trong đó,
ui: sai số do tính phi TE hoặc chi phí của HSX thứ i
Zhi: biến số đặc điểm kinh tế xã hội của hộ thứ i
δ: các tham số hồi qui.
9
Từ kết quả lược khảo tài liệu, tác giả đề xuất đưa các biến
thuộc về đặc điểm kinh tế, xã hội sau đây vào mô hình kiểm định
tính phi TE:
Z1i: Trình độ học vấn của người nuôi
chính trong hộ nuôi thứ i (số năm đến
trường)
Z2i: Số năm kinh nghiệm của người nuôi
chính trong hộ nuôi thứ i (số năm)
Z3i: Bình phương số năm kinh nghiệm của
hộ nuôi thứ i
Z4i: Tỷ lệ lao động thuê trong tổng số lao
động được sử dụng (%)
Z5i: Nguồn giống được chứng nhận sạch
bệnh (có giá trị bằng 1 khi hộ nuôi sử dụng
CGT; phân tích mối liên kết ngang và dọc
của các tác nhân trong CGT; nâng cấp
CGT và phân tích rủi ro) và công cụ định
lượng (phân tích phân phối chi phí, giá trị
gia tăng và giá trị gia tăng thuần (lợi
nhuận) của các tác nhân trong CGT). Kết
quả đầu ra của các phân tích này trở thành
các yếu tố đầu vào của phân tích ma trận
SWOT. Cuối cùng, kết hợp kết quả của
phân tích ma trận SWOT và kết quả phân
tích HQSX, sử dụng phương pháp SFA để
xây dựng các giải pháp nâng cấp CGT và
11
nâng cao HQSX của các hộ nuôi cá tra ở
ĐBSCL.
12
13
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Chuỗi giá trị
4.1.1. Sơ đồ CGT
Sơ đồ CGT cá tra ở ĐBSCL cho thấy có 6 khâu, bao gồm
khâu đầu vào, sản xuất cá tra nguyên liệu, thu gom, chế biến, thương
mại và tiêu dùng. Có 3 kênh phân phối trong CGT này, trong đó
kênh phân phối chính là kênh sản phẩm cá tra nguyên liệu đi trực
Thiếu vắng sự liên kết vùng & liên kết ngang giữa các
DNCBXK. Tác động này được xem là một thách thức cho cả các hộ
nuôi và DNCBXK.
Rào cản kỹ thuật và thương mại từ các nước nhập khẩu cá
tra gia tăng. Những rào cản này trở thành những thách thức cho các
hộ nuôi và các DNCBXK.
Giá cả cá tra đầu ra cá tra phi lê xuất khẩu và cá tra nguyên
liệu không ổn định làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các hộ nuôi và
DNCBXK. Do vậy, đây được xem là thách thức cho 2 tác nhân này.
Nhu cầu thị trường tiêu dùng cá tra phi lê ở nước ngoài cao,
cả về số lượng và chất lượng. Tác động này vừa là cơ hội, vừa là
thách thức cho các hộ nuôi và các DNCBXK.
Được sự hỗ trợ của các chương trình/dự án của Nhà nước và
của các tổ chức phi Chính phủ về kỹ thuật sản xuất theo chuẩn an
toàn như ASC, BMP, GlobalGap, VietGap. Đây được xem là một cơ
hội cho các hộ nuôi.
4.1.3. Tác động của các yếu tố vi mô đến hoạt động của các tác
nhân tham gia trong CGT
Bên cạnh tác động của các yếu tố vĩ mô đến hoạt động của
các tác nhân trong CGT, còn có các yếu tố vi mô có ảnh hưởng đến
15
hoạt động của chính bản thân các tác nhân tham gia trong CGT.
Những tác động này bao gồm:
Các hộ nuôi nhận thức được việc áp dụng các qui trình nuôi
theo qui trình tiêu chuẩn an toàn. Đây được xem là điểm mạnh của
các hộ nuôi.
Kinh nghiệm của các hộ nuôi cao. Đây cũng được xem là
một trong những điểm mạnh của các hộ nuôi cá tra và các DNCBXK
Các doanh nghiệp có năng lực tự xây dựng vùng nguyên liệu
và phát triển hình thức liên kết với các hộ nuôi thông qua hình thức
nuôi gia công. Đây được xem là điểm mạnh của các DNCBXK.
Các DNCBXK đã và đang đầu tư phát triển các sản phẩm
giá trị gia tăng từ cá tra. Đây được xem là điểm mạnh của các tác
nhân tham gia trong CGT.
Chất lượng con giống thấp, cộng với hành vi sản xuất theo
hướng sử dụng con giống với giá rẻ để bù đắp cho lượng cá bị chết
đã dẫn đến tỷ lệ hao hụt lên đến trung bình 23%. Do vậy, đây được
xem là một trong những thách thức cho các hộ nuôi.
Giá cả đầu vào có xu hướng gia tăng. Qua khảo sát 227 hộ
nuôi, tất cả các hộ nuôi đều cho rằng, mặc dù giá bán sản phẩm cá tra
nguyên liệu biến động mạnh (lúc tăng, lúc giảm), nhưng giá cả của
hầu hết các yếu tố đầu vào đều biến động theo hướng gia tăng. Do
vậy đã làm ảnh hưởng đến lợi nhuận đạt được của các hộ nuôi.
Chính vì vậy đây được xem là một thách thức cho các hộ nuôi.
4.2. HQSX của các hộ nuôi
4.2.1. Đo lường và phân tích HQSX của các hộ nuôi
TE và CE của các hộ nuôi được đo lường dựa vào công thức
3.14 và 3.15. Kết quả đo lường TE được thể hiện trong Bảng 5.3.
Kết quả ước lượng hệ số TE của các hộ nuôi trong Bảng 5.3
cho thấy, TE trung bình của các hộ nuôi đạt 80,6% với độ lệch chuẩn
18
là 20,4%. Có nghĩa là, các hộ nuôi có thể cắt giảm đồng thời 19,4%
tất cả các yếu tố đầu vào lao động, con giống và thức ăn thủy sản,
nhưng vẫn duy trì mức sản lượng không đổi. Điều này cho thấy, các
hộ nuôi vẫn còn hạn chế về mặt kỹ thuật sản xuất, đặc biệt trong việc
sử dụng kết hợp các yếu tố đầu vào. Nói cách khác, đối với các hộ
Đối với nghề nuôi cá tra, theo đánh giá của các chuyên gia
trong ngành, việc cắt giảm được 19,4% lượng đầu vào, đặc biệt là
thức ăn thủy sản có ý nghĩa về mặt tài chính rất lớn cho các hộ nuôi
do đầu tư chi phí cho việc nuôi cá tra rất cao (khoảng 5-6 tỷ
đồng/ha/vụ). Kết quả nghiên cứu này giống với nhiều kết quả nghiên
cứu của các tác giả khác trong lĩnh vực thủy sản. Chẳng hạn như kết
quả nghiên cứu của Huy (2009) và Phong (2010). Nhìn chung, từ các
kết quả nghiên cứu như vừa đề cập cho thấy các hộ nuôi cá tra ở
ĐBSCL đều còn có cơ hội để nâng cao HQSX thông qua việc giảm
lượng nhập lượng đầu vào. Thêm vào đó, việc cắt giảm được CPSX
sẽ góp phần làm ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho các
19
DNCBXK cá tra, và do vậy góp phần làm ổn định nguồn cung cá tra
phê lê đáp ứng cho thị trường xuất khẩu. Do vậy, cũng sẽ làm cho
thu nhập của các hộ nuôi trở nên ổn định hơn. Ngoài ra, khi có được
giá thành cạnh tranh tốt cũng sẽ tạo cơ hội cho mối liên kết giữa
người nuôi và các DNCBXK ngày càng bền vững hơn.
Kết quả ước lượng TE như vừa được phân tích một lần nữa
khẳng định được rằng, các hộ nuôi nên giảm mật độ nuôi và do vậy
giảm lượng thức ăn thủy sản để nâng cao TE. Thêm vào đó, số liệu
trong Bảng 5.3 cũng cho thấy TE thấp nhất và cao nhất đạt được giữa
các hộ nuôi rất cao, cho thấy kỹ thuật nuôi giữa các hộ không đồng
đều. Hơn nữa, kết quả phân tích cũng cho thấy có đến gần 30% số hộ
đạt TE dưới mức trung bình. Điều này cho thấy kỹ thuật nuôi của các
hộ nuôi vẫn còn hạn chế nhất định.
Kết quả ở Bảng 5.8 cho thấy CE trung bình của các hộ nuôi
là 78,1% với mức biến động là 21,5% có nghĩa là các hộ nuôi có thể
cắt giảm được 21,9% chi phí sử dụng các yếu tố đầu vào, nhưng vẫn
Tổng
227
100
Trung bình
78,1
Nhỏ nhất
17,9
Cao nhất
97,3
Độ lệch chuẩn
21,5
4.2.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến HQSX của các hộ nuôi
Bên cạnh những yếu tố liên quan đến việc sử dụng các yếu
tố sản xuất làm ảnh hưởng đến TE của các hộ nuôi, các yếu tố thuộc
về đăc điểm kinh tế, xã hội của các hộ nuôi cũng có ảnh hưởng nhất
định đến TE của các hộ nuôi. Tác động của các yếu tố này đến TE
của các hộ nuôi được trình bày trong Bảng 5.5.
Kết quả đánh giá được trình bày trong Bảng 5.5 cho thấy,
trong số 8 biến độc lập được đưa vào phương trình hồi qui, có 2 biến
độc lập có ảnh hưởng ý nghĩa đến TE. Kết quả chỉ ra rằng, các hộ
nuôi sử dụng con giống có chứng nhận sạch bệnh đạt được TE cao
hơn so với các hộ không có sử dụng con giống có chứng nhận sạch
bệnh, tại mức ý nghĩa 5%.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các hộ nuôi
sử dụng lao động thuê mướn càng nhiều, càng làm giảm tính phi hiệu
quả của các hộ nuôi, tại mức ý nghĩa 5%. Nói cách khác, khi hộ nuôi
sử dụng lao động thuê càng nhiều, càng giúp cho hộ nuôi nâng cao
được TE.
Z5
Con giống được sử -4,2325
1,963 0,031**
dụng có chứng nhận
6
sạch bệnh
Z6
Liên kết đầu vào, -0,3684
0,299 0,219
đầu ra
6
Z7
Tham dự các khóa 0,4580
0,289 0,113
tập huấn kỹ thuật và
3
kinh tế
Z8
Diện tích nuôi thả
0,0334
0,044 0,457
9
Hằng số
0,2989
0,525 0,569
4
lnϭ2
-1,1794
0,360 0,001**
6
chuẩn
Z1
Học vấn
-0,1845
0,098 0,061
4
Z2
Kinh nghiệm
0,1006
0,071 0,160
6
Z3
Bình phương kinh -0,0040
0,002 0,126
nghiệm
6
Z4
Tỷ lệ lao động thuê 0,0116
0,004 0,006**
trong tổng số lao
2
*
động được sử dụng
Z5
Con giống được sử -3,7943
2,587 0,143
dụng có chứng
4
nhận sạch bệnh
Z6