Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nghiên cứu vùng kinh tế đông nam bộ - Pdf 56

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

CAO TẤN HUY

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI:
NGHIÊN CỨU VÙNG KINH TẾ ĐÔNG NAM BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

CAO TẤN HUY

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI:
NGHIÊN CỨU VÙNG KINH TẾ ĐÔNG NAM BỘ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS NGÔ TUẤN NGHĨA
2. TS TRẦN ĐỨC THẮNG

HÀ NỘI - 2019


KINH TẾ CỦA QUỐC GIA................................................................................. 27

2.1. Khái niệm và vai trò của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng
kinh tế của một quốc gia....................................................................................................... 27
2.2. Một số lý thuyết và các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào vùng kinh tế............................................................................................... 39
2.3. Kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm về phát huy vai trò của các yếu tố
tác động đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào vùng kinh tế ..................57
Chương 3: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

ĐẾN THU HÚT

VÀO VÙNG KINH TẾ

ĐÔNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN 2013-2018...................................................... 64

3.1. Khái quát và phân tích Swot về thu hút đầu tư trực tiếp vùng kinh tế
Đông Nam Bộ giai đoạn 2013 - 2018............................................................................. 64
3.2. Đánh giá tác động của các yếu tố đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ........................................................................... 79
3.3. Những kết quả đạt được và vấn đề đặt ra trong phát huy vai trò các yếu
tố tác động đến thu hút fdi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ..............................105
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC YẾU TỐ TÍCH CỰC NHẰM
TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÙNG KINH TẾ ĐÔNG NAM BỘ ĐẾN 2025.........117


iii
4.1. Bối cảnh yêu cầu mới thu hút đầu tư trực tiếp vào vùng kinh tế


: Exploratory Factor Analysis

FDI

: Foreign Direct Investment

GDP

: Gross Domestic Product

GRDP

: Gross Regional Domestic Product

KCHT

: Kết cấu hạ tầng

KCN

: Khu công nghiệp

KTTĐ

: Kinh tế trọng điểm

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

đoạn 2013-2018................................................................................................... 108
Biểu đồ 3.4: Tổng vốn đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế Đông Nam Bộ
giai đoạn 2013-2018.......................................................................................... 109
Biểu đồ 3.5: Tổng dự án đầu tư nước ngoài tại các tỉnh thành vùng kinh tế
Đông Nam Bộ 2013-2018............................................................................... 110

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu tác động của các yếu tố đến thu hút FDI
vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ8
Hình 1.2: Các phương pháp chọn mẫu................................................................................ 10
Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu hút FDI
vùng Đông Nam Bộ

cho

79


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Thu hút đầu tư (ĐT) trực tiếp nước ngoài (FDI) nhằm góp phần bổ sung
vào nguồn lực phát triển còn nhiều hạn chế của Việt Nam là một hoạt động mang
tính tất yếu khách quan. Thực tế cho thấy hơn 30 năm qua, kể từ 1987, khi luật
đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành ở Việt Nam thì hoạt động thu hút đầu
tư đã đạt nhiều thành tựu đặc biệt quan trọng trong kích thích kinh tế phát triển,
kiềm chế lạm phát, giải quyết việc làm... Xét về quy mô, dòng vốn FDI đăng ký
vào Việt Nam đã gia tăng một cách ngoạn mục từ 341,7 triệu USD năm 1988
[50]

là một vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu làm rõ đối với thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ.
Về mặt lý luận, nghiên cứu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam nói chung, và nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài nói riêng là chủ đề hấp dẫn đối với nhiều chuyên gia kinh tế, nhiều
cán bộ lãnh đạo các cấp tại Việt Nam. Trên thế giới và kể cả ở Việt Nam đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, kết quả cho thấy: các nhà khoa học
trong và ngoài nước thực hiện nghiên cứu về thu hút dòng vốn FDI chủ yếu là sử
dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp
[25]; [26]; [49]; [62]; [72]; [78] hoặc sử dụng dữ liệu sơ cấp [23]; [29] để xác
định và lượng hóa các yếu tố tác động đến dòng vốn FDI. Tuy nhiên, các nghiên
cứu chủ yếu tập trung vào việc thu hút dòng vốn FDI chảy vào một quốc gia
[23]; [25]; [26]; [49]; [62]; [72] hoặc một tỉnh cụ thể [29]; [78] mà chưa có
nghiên cứu xem xét về thu hút dòng vốn FDI ở cấp độ vùng, nhất là vai trò và tác
động của yếu tố liên kết (liên kết giữa các tỉnh) trong việc thu hút dòng vốn FDI
cần được làm rõ song chưa được đề cập đủ mức ở các công trình nghiên cứu.
Về mặt thực tiễn, đối với vùng kinh tế Đông Nam Bộ trong nhiều biện
pháp thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng gần đây, có nhiều
yếu tố tác động đã được phân tích. Song vấn đề rất cấp thiết đang được đặt ra là
phải tìm kiếm, phát hiện những yếu tố mới đang là rào cản, kìm hãm hoặc có
tiềm năng để tiếp tục tạo động lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng
kinh tế Đông Nam Bộ từ đó góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH của toàn vùng


3
và nhất là đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các địa phương trong vùng với các nhà
đầu tư nước ngoài. Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề “Các yếu tố
tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Nghiên cứu vùng kinh tế
Đông Nam Bộ” làm đề tài nghiên cứu của luận án này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Phạm vi về mặt nội dung: Do việc tiếp cận về các yếu tố tác động đến thu
hút đầu tư vào vùng kinh tế của một quốc gia có thể được triển khai với nhiều
góc độ khác nhau, cho nên, trong luận án này, tiếp cận dưới góc độ chuyên
ngành kinh tế chính trị, luận án chỉ tập trung trọng tâm vào hai nhóm yếu tố:
*

Nhóm thứ nhất: nhóm các yếu tố bên ngoài vùng kinh tế (bao hàm: tình

hình thế giới; chiến lược của nhà đầu tư; tiềm lực tài chính của nhà đầu tư; trình
độ công nghệ của các dự án; áp lực cạnh tranh giữa các vùng kinh tế).
*

Nhóm thứ hai: nhóm các yếu tố bên trong vùng kinh tế (bao hàm: sự ổn

định KT-XH; môi trường chính trị an ninh của vùng; điều kiện tự nhiên của
vùng; quy hoạch và chính sách phát triển của vùng; công tác quản lý, hỗ trợ của
chính quyền các địa phương; KCHT; chất lượng dịch vụ công; thương hiệu của
địa phương trong vùng; môi trường sống và làm việc và đặc biệt là sự liên kết
giữa các địa phương trong vùng).
Tuy vậy khi thực hiện phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến thu hút
FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ, luận án chỉ tập trung vào bảy yếu tố cơ bản
gồm:
Một là, yếu tố KCHT.
Hai là, yếu tố cơ chế, chính sách thu hút đầu tư.
Ba là, yếu tố liên kết vùng.
Bốn là, yếu tố nguồn nhân lực.
Năm là, yếu tố chất lượng dịch vụ công trong vùng.
Sáu là, yếu tố môi trường sống và làm việc.
Bảy là, yếu tố thương hiệu địa phương.

hợp nhằm thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư và tạo điều kiện cho họ hoạt động
hiệu quả trong Vùng. Chính vì vậy, hướng tiếp cận trong luận án chú trọng vai
trò của chính quyền địa phương trong tổng thể vùng kinh tế Đông Nam Bộ cùng
đặt trong khung khổ chính sách quốc gia và lợi ích vùng để xem xét.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận
án * Phương pháp luận và tiếp cận
Dựa trên hệ nhận thức đã có, phương pháp luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử được tác giả sử dụng đồng thời tiếp cận kết hợp giữa nghiên cứu định
tính (thông qua phỏng vấn chuyên gia và thảo luận nhóm tập trung với các đối
tượng khảo sát) để điều chỉnh các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm
nghiên cứu và nghiên cứu định lượng (thông qua phỏng vấn trực tiếp các đối
tượng khảo sát) để thực hiện kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
liên quan đến chủ đề của luận án.


6
Phương pháp nghiên cứu truyền thống được sử dụng bao gồm: trừu tượng
hóa khoa học, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê dữ liệu được sử dụng trong
các chương 1, chương 2 và chương 3 của luận án khi phân tích và đánh giá tổng
quan các công trình nghiên cứu; hệ thống hóa vai trò của vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài; hệ thống hóa các lý thuyết về các yếu tố tác động tới thu hút FDI
vào vùng kinh tế; phân tích các yếu tố tác động và kinh nghiệm phát huy vai trò
của các yếu tố tác động đến thu hút FDI vào vùng kinh tế trong chương 2 và
chương 3 của luận án.
Luận án này cũng sử dụng phương pháp SWOT khi nghiên cứu thực trạng tại
chương 3 và phương pháp dự báo khi nghiên cứu nội dung chương 4 trong đó có nội
dung về bối cảnh tác động đến thu hút FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ.
*

Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

7
-

Công cụ xử lý thông tin: Sau khi thu thập dữ liệu từ các bảng khảo sát,

tác giả tiến hành phân loại và loại đi những bảng không đạt yêu cầu. Sau đó dữ
liệu được mã hóa và làm sạch bằng phần mềm SPSS 20.0.
-

Công cụ phân tích và kiểm định mô hình nghiên cứu:

Tác giả sử dụng công cụ phân tích độ tin cậy (Reliability Analysis) thông
qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích yếu tố khám phá EFA (Exploratary Factor
Analysis).
Tác giả sử dụng hồi quy tuyến tính (OLS - Ordinary least squares) được
sử dụng để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
* Về quy trình nghiên cứu
Trước tiên, tác giả sẽ thực hiện lược khảo lý thuyết (bao gồm: hai nội
dung nghiên cứu cơ bản: (i) nghiên cứu cơ sở lý thuyết về thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài và (ii) thực hiện tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan)
để thiết kế dàn bài phỏng vấn chuyên gia và thảo luận nhóm cùng các đối tượng
khảo sát nhằm điều chỉnh mô hình và điều chỉnh các biến quan sát dùng để đo
lường các khái niệm nghiên cứu.
Kế tiếp, thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ trên cỡ mẫu là 100 đáp
viên là các đối tượng khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện thông qua
bảng câu hỏi chi tiết. Tác giả phân tích độ tin cậy của dữ liệu thông qua hệ số
Cronbach’Alpha, sau đó phân tích các nhân tố khám phá bằng phương pháp EFA
nhằm sàng lọc thang đo và xác định cấu trúc thang đo dùng cho nghiên cứu
chính thức.
Cuối cùng, tác giả thực hiện nghiên cứu chính thức để tiến hành đánh giá

m thang đo và Pj là số biến quan sát thứ j thì kích thước mẫu tối thiểu được xác
định như sau:
m

N = ∑kPj
j =1

Trong nghiên cứu của mình, tác giả dự kiến có 05 biến quan sát để đo
lường khái niệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và 36 biến quan sát dùng để
đo lường 7 yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Như vậy,
kích thước mẫu nghiên cứu tối thiểu theo tác giả Hair và cộng sự (2006) phải là:
N=(05+36)*5=205.
Do vậy, tác giả phải thực hiện khảo sát ít nhất là 205 doanh nghiệp. Nhằm
đảm bảo độ tin cậy của các thang đo nghiên cứu, tác giả thực hiện khảo sát 400
doanh nghiệp.

Phương pháp lấy mẫu
Có nhiều phương pháp chọn mẫu được sử dụng cho các đề tài nghiên cứu
khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường, và có thể được chia ra làm 02
nhóm chính:
(i)

Phương pháp chọn mẫu theo xác suất: là phương pháp chọn mẫu mà

các nhà nghiên cứu biết được xác suất tham gia vào mẫu của các phần tử;
(ii)

Phương pháp chọn mẫu không theo xác suất: là phương pháp chọn

mẫu mà trong đó nhà nghiên cứu chọn các phần tử tham gia vào mẫu không theo

Về ý nghĩa lý luận

Một là, đề tài xác định và lượng hóa được các yếu tố ảnh hưởng đến thu
hút đầu tư (theo cách tiếp cận theo góc độ về hành vi của nhà đầu tư) và tìm ra


11
được một điểm mới so với các nghiên cứu trước là đó là yếu tố liên kết vùng có
tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, so với các công trình đã công
bố, tiếp cận các yếu tố tác động đến thu hút FDI thường các tác giả mới tập trung
vào phân tích định tính tác động tích cực, tiêu cực mà ít được kiểm định và
lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố đó tới thu hút FDI vào vùng kinh tế.
Luận án này sẽ phân tích trên cơ sở lượng hóa các mức độ và mối quan hệ giữa
các yếu tố tác động đến thu hút FDI vào vùng kinh tế. Mặt khác, trong hầu hết
các công trình nghiên cứu đã công bố, tác động của các yếu tố liên kết vùng chưa
được đề cập. Trong nghiên cứu của luận án này, tác giả xem xét tới sự ảnh hưởng
của yếu tố liên kết vùng đến thu hút FDI vào vùng kinh tế.
Hai là, luận án phát triển thang đo thu hút đầu tư và các yếu tố tác động
đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế.
Ba là, luận án góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về các yếu tố tác động
tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế của quốc gia trong bối
cảnh dịch chuyển các dòng vốn đầu tư đang diễn ra nhanh trên thế giới, đóng
góp thêm thông tin và tri thức vào lĩnh vực nghiên cứu thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, chỉ ra những tiêu chí để đánh giá về các yếu tố tác động đến thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế.
5.2. Về ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, luận án đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm phát huy
yếu tố tích cực để tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI vào vùng Đông Nam Bộ trong
thời gian tới dựa trên các kết quả phân tích mức độ tác động của các yếu tố đã
được chỉ ra.

ĐỀ TÀI

Nghiên cứu về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói
chung và nghiên cứu làm rõ các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói riêng là chủ đề có tính hấp dẫn đối với nhiều chuyên gia kinh tế, nhiều
cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp ở Việt Nam. Đã có nhiều công trình nghiên cứu
về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các tác giả trong và ngoài nước. Trong
đó, có thể nêu ra những nhóm công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

1.1.1. Nhóm các công trình của tác giả quốc tế tiêu biểu
*

Nhóm các nghiên cứu bàn về sự xuất hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài

Lý thuyết về xuất khẩu tư bản của V.I. Lênin cho rằng: “Điểm điển hình
của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó là sự tự do cạnh tranh hoàn toàn thống trị, là
việc xuất khẩu hàng hóa. Điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản mới, trong đó các
tổ chức độc quyền thống trị là việc xuất khẩu tư bản” [61, tr.402]. Xuất khẩu tư
bản mà Lênin nghiên cứu vào đầu thế kỷ XX với mục đích là lợi nhuận. Xuất
khẩu tư bản và đầu tư nước ngoài hiện nay cũng có điểm khác nhau: xuất khẩu tư
bản để giải quyết vấn đề dư thừa tương đối tư bản.
Xuất phát từ việc xem xét chu kỳ sản phẩm, Akamatsu Kaname trong bài:
“A Historical Pattern of Economic Growth in Developing Countries” (Một mẫu
lịch sử của tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển) [67] đã cho rằng, sản
phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó được xuất
khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới
làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang
sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách thu hút vốn, kỹ thuật của
nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước


động) giữa các nước, đa phần là giữa các nước phát triển và đang phát triển.


15
M.Kemp đề xuất mô hình di chuyển vốn quốc tế [82]. Quan điểm của
McDougall - Kemp phát triển từ lý thuyết của Mac. Dougall [89], cho rằng các
nước dư thừa vốn đầu tư có năng suất cận biên của vốn thấp hơn năng suất cận
biên của vốn ở những nước thiếu vốn. Do đó, xuất hiện dòng lưu chuyển giữa 2
nhóm nước [89]. Tuy nhiên, mô hình này không giải thích được hiện tượng cùng
một nước nhưng có cả hai dòng vốn chảy vào và chảy ra. Do đó, lý thuyết lợi
nhuận cận biên chỉ có thể là bước khởi đầu nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài.
Nghiên cứu của Charles Kindleberger và Stephen Hymer; hay Dunning,
Krugman A. A. đều cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (bí
mật về công nghệ và lợi thế về thông tin vượt trội…) giúp các công ty vượt có
lợi thế về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
nhằm mở rộng thị trường sản phẩm [73]; [79]; [84]; [85].
Nhóm các công trình giải thích sự lựa chọn nước thu hút đầu tư của nước
đầu tư, bao gồm:
Romer và Lucas cho rằng các yếu tố sau tác động đến hành vi đầu tư: ý
định đầu tư; sự ổn định về môi trường đầu tư; sự phát triển của hệ thống tài
chính; chính sách lãi suất; chính sách đầu tư công; chất lượng nguồn nhân lực; sự
phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ hoặc các dự án trong cùng ngành
có mối liên kết; khả năng tiếp thu và vận dụng và phát triển công nghệ; khả năng
hỗ trợ và chính sách hỗ trợ đầu tư của nước thu hút đầu tư (thị trường, luật lệ, thủ
tục, công nghệ) [87]; [96].
Tổng hợp phân tích hành vi đầu tư của doanh nghiệp từ nhiều nghiên cứu
(mô hình đầu tư theo lý thuyết tân cổ điển của Solow; mô hình hành vi đầu tư
của doanh nghiệp tiếp cận theo mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro; mô hình
ngoại tác của Romer và Lucas cho thấy các yếu tố có thể tác động tới hành vi

*

Nhóm công trình về những yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài
Nghiên cứu của Asiedu trong bài “On the determinants of foreign direct
investment to developing countries: is Africa different” (bằng chứng thực nghiệm
về các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia
đang phát triển: Châu Phi có sự khác biệt không?) [69], nghiên cứu này tìm hiểu
xem liệu các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở các nước
đang phát triển có ảnh hưởng đến các quốc gia ở châu Phi cận Sahara (SSA)


17
khác nhau hay không. Bằng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu (OLS),
kết quả cho thấy: (1) lợi tức đầu tư cao hơn và KCHT tốt hơn có tác động tích
cực đến FDI đối với các nước không thuộc SSA, nhưng không có tác động đáng
kể đến FDI đối với SSA; (2) độ mở thương mại tác động tích cực đến việc thu
hút vốn FDI đến các quốc gia SSA và không thuộc SSA; tuy nhiên, lợi ích cận
biên từ sự độ mở thương mại gia tăng ít hơn đối với SSA. Những kết quả này
hàm ý rằng Châu Phi có sự khác biệt vì thế các chính sách thành công ở các khu
vực khác có thể không thành công khi áp dụng ở Châu Phi.
Cùng tác giả, Asiedu trong: “Foreign direct investment in Africa: The role
of natural resources, market size, government policy, institutions and political
instability” (Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại châu Phi: Vai trò của tài nguyên
thiên nhiên, quy mô thị trường, chính sách của chính phủ, các tổ chức và bất ổn
chính trị) [70], bằng khảo sát dữ liệu từ một số nhà đầu tư, đã cho rằng, sự bất ổn
kinh tế vĩ mô, hạn chế đầu tư, tham nhũng và bất ổn chính trị có tác động tiêu
cực đến FDI vào châu Phi. Tác giả sử dụng dữ liệu bảng cho 22 quốc gia trong
giai đoạn 1984-2000 để xem xét và đi đến kết luận các nguồn tài nguyên thiên

phương. Dịch vụ hỗ trợ đề cập đến sự tập trung các hoạt động kinh tế, dẫn đến
ngoại tác tích cực và quy mô kinh tế. Độ mở thương mại có mối quan hệ tích cực
với kết quả thu hút FDI. Ưu đãi vốn FDI: như thỏa thuận ưu đãi về thuế, sử dụng
đất, điện đặc biệt dùng trong khu kinh tế đặc biệt, tất cả những ưu đãi được tạo ra
để thu hút vốn FDI cao hơn.
Nghiên cứu của Moreira trong bài “The determinants of foreign direct
investment: what is the evidence for Africa” (các yếu tố quyết định đầu tư trực
tiếp nước ngoài: bằng chứng từ Châu Phi) [90], tác giả cho rằng quy mô thị
trường và tốc độ tăng trưởng là một trong những yếu tố quyết định quan trọng
nhất của FDI. Ngoài ra các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp
nước ngoài gồm: Tài nguyên thiên nhiên có sẵn, lao động giá rẻ và chất lượng
của lực lượng lao động, KCHT chất lượng, độ mở của nền kinh tế, sự bất ổn về
chính trị và kinh tế, chất lượng dịch vụ công của chính quyền địa phương, những
quy định về thu hút FDI, thu hồi vốn, chính sách ưu đãi.
Nhóm tác giả Khachoo và Khan trong bài nghiên cứu chung
“Determinants of FDI inflows to developing countries: a panel data analysis”
(các yếu tố ảnh hưởng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang
phát triển: Phân tích bảng dữ liệu) [83], nhóm tác giả sử dụng mẫu của 32 nước
đang phát triển nhằm nghiên cứu tác động của quy mô thị trường, tổng trữ lượng,
KCHT, chi phí lao động và độ mở của thị trường đến dòng vốn FDI của các nước
chủ nhà. Sử dụng dữ liệu từ 1982 đến 2008, tác giả sử dụng hồi quy dữ liệu
bảng, kết quả cho thấy quy mô thị trường, tổng trữ lượng, KCHT và chi phí lao
động là những yếu tố quyết định chính của dòng vốn FDI vào các nước đang
phát triển.
Abdul và cộng sự trong nghiên cứu “Factors affecting foreign direct
investment in Pakistan” (các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Pakistan) [62], nhóm tác giả cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu ảnh
hưởng trực tiếp bởi 06 yếu tố, bao gồm: (1) Tổng thu nhập quốc dân; (2) Xuất



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status