HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
CAO TẤN HUY
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI:
NGHIÊN CỨU VÙNG KINH TẾ ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
CAO TẤN HUY
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI:
NGHIÊN CỨU VÙNG KINH TẾ ĐÔNG NAM BỘ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS NGÔ TUẤN NGHĨA
2. TS TRẦN ĐỨC THẮNG
HÀ NỘI - 2019
nước ngoài vào vùng kinh tế .......................................................................... 39
2.3. Kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm về phát huy vai trò của các yếu tố
tác động đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào vùng kinh tế .............. 57
Chương 3: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN THU HÚT
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VÙNG KINH TẾ
ĐÔNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN 2013-2018 ......................................... 64
3.1. Khái quát và phân tích Swot về thu hút đầu tư trực tiếp vùng kinh tế
Đông Nam Bộ giai đoạn 2013 - 2018 ............................................................ 64
3.2. Đánh giá tác động của các yếu tố đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ .......................................................... 79
3.3. Những kết quả đạt được và vấn đề đặt ra trong phát huy vai trò các yếu
tố tác động đến thu hút fdi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ ....................... 105
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC YẾU TỐ TÍCH CỰC NHẰM
TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÙNG KINH TẾ ĐÔNG NAM BỘ ĐẾN 2025 ...... 117
iii
4.1. Bối cảnh yêu cầu mới thu hút đầu tư trực tiếp vào vùng kinh tế
Đông Nam Bộ .............................................................................................. 117
4.2. Một số giải pháp chủ yếu để phát huy yếu tố tác động nhằm đẩy mạnh
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm hài hòa quan hệ lợi ích trong
vùng kinh tế Đông Nam Bộ đến năm 2025 ................................................. 126
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ..................................................................... 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 150
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 161
: Gross Domestic Product
GRDP
: Gross Regional Domestic Product
KCHT
: Kết cấu hạ tầng
KCN
: Khu công nghiệp
KTTĐ
: Kinh tế trọng điểm
KT-XH
: Kinh tế - xã hội
ML
: Maximum Likehood
OLS
: Ordinary least squares
Hình 1.2: Các phương pháp chọn mẫu ............................................................ 10
Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu hút FDI cho
vùng Đông Nam Bộ ...................................................................... 79
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Thu hút đầu tư (ĐT) trực tiếp nước ngoài (FDI) nhằm góp phần bổ sung
vào nguồn lực phát triển còn nhiều hạn chế của Việt Nam là một hoạt động mang
tính tất yếu khách quan. Thực tế cho thấy hơn 30 năm qua, kể từ 1987, khi luật
đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành ở Việt Nam thì hoạt động thu hút đầu
tư đã đạt nhiều thành tựu đặc biệt quan trọng trong kích thích kinh tế phát triển,
kiềm chế lạm phát, giải quyết việc làm... Xét về quy mô, dòng vốn FDI đăng ký
vào Việt Nam đã gia tăng một cách ngoạn mục từ 341,7 triệu USD năm 1988
[50] lên 340.159,445 triệu USD vào cuối năm 2018 (tăng hơn 200 lần) [18]. Kết
quả này đã góp phần đưa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) trở
thành một bộ phận rất quan trọng với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) của Việt Nam hiện nay.
Cùng với xu hướng phát triển chung của Việt Nam thì thu hút dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ cũng đạt được nhiều
thành tựu đáng kể. So với nhiều vùng kinh tế của Việt Nam, trong 03 thập kỷ
vừa qua, vùng kinh tế Đông Nam Bộ là một điểm sáng về thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Tính đến hết năm 2018, thì lũy kế dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ đã đạt mức 143,288.31 triệu USD chiếm
42,12% của cả nước [18]. Nguồn lực vốn, kỹ thuật, công nghệ từ đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã và đang đóng góp rất quan trọng vào quy mô tăng trưởng cũng
như thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội của vùng kinh tế Đông Nam Bộ.
Có được những thành công vượt bậc phải kể đến việc phát huy vai trò của
các yếu tố thuộc về tiềm năng, lợi thế, môi trường đầu tư của toàn vùng. Tuy
nhiên, bên những kết quả quan trọng nêu trên, xét về xu hướng trong một số năm
pháp thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng gần đây, có nhiều
yếu tố tác động đã được phân tích. Song vấn đề rất cấp thiết đang được đặt ra là
phải tìm kiếm, phát hiện những yếu tố mới đang là rào cản, kìm hãm hoặc có
tiềm năng để tiếp tục tạo động lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng
kinh tế Đông Nam Bộ từ đó góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH của toàn vùng
3
và nhất là đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các địa phương trong vùng với các nhà
đầu tư nước ngoài. Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề “Các yếu tố
tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Nghiên cứu vùng kinh tế
Đông Nam Bộ” làm đề tài nghiên cứu của luận án này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm phân tích và làm rõ hơn cơ sở
lý thuyết và thực tiễn về các yếu tố tác động đến thu hút dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế của một quốc gia. Trên cơ sở đó, thực hiện
phân tích, đánh giá các yếu tố tác động đến thu hút dòng vốn FDI vào vùng kinh
tế Đông Nam Bộ. Hướng tới đề xuất các giải pháp nhằm phát huy các yếu tố tích
cực để tiếp tục thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế
Đông Nam Bộ đến năm 2025.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Một là, hệ thống hóa và làm rõ hơn lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về
các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế của
quốc gia. Trong đó, các yếu tố nội tại của vùng, các yếu tố bên ngoài vùng, yếu
tố liên kết vùng ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI vào vùng kinh tế.
Hai là, phân tích làm rõ vai trò của các yếu tố tác động đến thu hút vốn
FDI và tác động của FDI ở vùng kinh tế Đông Nam Bộ từ năm 2013 đến 2018.
Đề xuất kiến nghị và giải pháp phát huy các yếu tố tích cực để tiếp tục thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ trong giai đoạn
Bốn là, yếu tố nguồn nhân lực.
Năm là, yếu tố chất lượng dịch vụ công trong vùng.
Sáu là, yếu tố môi trường sống và làm việc.
Bảy là, yếu tố thương hiệu địa phương.
Phạm vi về mặt không gian: Luận án đặt trọng tâm vào nghiên cứu thực
tiễn và đề xuất giải pháp thu hút vốn FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Sở dĩ
là vì do nguồn số liệu và khả năng dữ liệu có hạn và phù hợp với thực tế địa
phương và có thể kiểm chứng được nguồn số liệu tin cậy.
5
Phạm vi về mặt thời gian: Phạm vi nghiên cứu phân tích đánh giá thực
trạng từ năm 2013 đến năm 2018 (6 năm). Đây là thời gian mà các dư địa phát
huy tác dụng của các yếu tố tác động cũ đã và đang bộc lộ rõ.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận án
4.1. Về cơ sở lý luận của luận án
Luận án được thực hiện nghiên cứu dựa vào những luận điểm cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và chủ trương của
Đảng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các văn kiện của Đảng;
Chiến lược phát triển KT-XH; chính sách thu hút vốn FDI của vùng kinh tế trọng
điểm (KTTĐ) phía Nam, vùng kinh tế Đông Nam Bộ; đồng thời tham khảo một
số lý thuyết kinh tế, những nghiên cứu của các tổ chức, học giả trong nước và
quốc tế về FDI và tác động của các yếu tố đến thu hút FDI, về vấn đề quy hoạch
phát triển vùng kinh tế Đông Nam Bộ.
Tác giả dựa trên các giả định là sẵn có các nhà đầu tư nước ngoài mong
muốn đầu tư trực tiếp vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Do ở Việt Nam không có
chính quyền cấp vùng, cũng không có trung tâm điều phối chính sách vùng đủ
mạnh vì vậy chính quyền các địa phương trong vùng phải có chính sách thích
hợp nhằm thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư và tạo điều kiện cho họ hoạt động
hiệu quả trong Vùng. Chính vì vậy, hướng tiếp cận trong luận án chú trọng vai
Thông tin dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua thảo luận nhóm tập
trung và điều tra khảo sát. Cụ thể:
- Thảo luận nhóm: Tác giả thực hiện thảo luận nhóm tập trung cùng các
đối tượng khảo sát là các chuyên gia để xác định lại các yếu tố tác động đến hài
lòng của nhà đầu tư, vai trò của liên kết vùng trong thu hút đầu tư; và điều chỉnh
các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu (có danh sách
chuyên gia tại Phụ lục 1).
- Điều tra khảo sát: Tác giả thực hiện điều tra khảo sát bằng phương pháp
lấy mẫu phân tầng thuận tiện, trải qua hai bước:
Bước 1: Tác giả tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi chi tiết bằng
phương pháp phỏng vấn trực tiếp 100 đáp viên để điều chỉnh cấu trúc thang đo.
Bước 2: Tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp 300 đáp viên là các đối
tượng khảo sát (diễn giải chi tiết ở mục 3.3 của luận án) để tiến hành phân tích
dữ liệu, kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
7
- Công cụ xử lý thông tin: Sau khi thu thập dữ liệu từ các bảng khảo sát,
tác giả tiến hành phân loại và loại đi những bảng không đạt yêu cầu. Sau đó dữ
liệu được mã hóa và làm sạch bằng phần mềm SPSS 20.0.
- Công cụ phân tích và kiểm định mô hình nghiên cứu:
Tác giả sử dụng công cụ phân tích độ tin cậy (Reliability Analysis) thông
qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích yếu tố khám phá EFA (Exploratary
Factor Analysis).
Tác giả sử dụng hồi quy tuyến tính (OLS - Ordinary least squares) được
sử dụng để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
* Về quy trình nghiên cứu
Trước tiên, tác giả sẽ thực hiện lược khảo lý thuyết (bao gồm: hai nội
dung nghiên cứu cơ bản: (i) nghiên cứu cơ sở lý thuyết về thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài và (ii) thực hiện tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có liên
(i) Mức tối thiểu Min = 50.
(ii) Tỷ lệ mẫu so với một biến phân tích k là 5/1 hoặc 10/1.
9
Nếu N < mức tối thiểu thì sẽ chọn mức tối thiểu. Trường hợp mô hình có
m thang đo và Pj là số biến quan sát thứ j thì kích thước mẫu tối thiểu được xác
định như sau:
m
N kPj
j 1
Trong nghiên cứu của mình, tác giả dự kiến có 05 biến quan sát để đo
lường khái niệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và 36 biến quan sát dùng để
đo lường 7 yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Như vậy,
kích thước mẫu nghiên cứu tối thiểu theo tác giả Hair và cộng sự (2006) phải là:
N = (05 + 36) * 5 = 205.
Do vậy, tác giả phải thực hiện khảo sát ít nhất là 205 doanh nghiệp. Nhằm
đảm bảo độ tin cậy của các thang đo nghiên cứu, tác giả thực hiện khảo sát 400
doanh nghiệp.
Phương pháp lấy mẫu
Có nhiều phương pháp chọn mẫu được sử dụng cho các đề tài nghiên cứu
khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường, và có thể được chia ra làm 02
nhóm chính:
(i) Phương pháp chọn mẫu theo xác suất: là phương pháp chọn mẫu mà
các nhà nghiên cứu biết được xác suất tham gia vào mẫu của các phần tử;
(ii) Phương pháp chọn mẫu không theo xác suất: là phương pháp chọn
mẫu mà trong đó nhà nghiên cứu chọn các phần tử tham gia vào mẫu không theo
11
được một điểm mới so với các nghiên cứu trước là đó là yếu tố liên kết vùng có
tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, so với các công trình đã công
bố, tiếp cận các yếu tố tác động đến thu hút FDI thường các tác giả mới tập trung
vào phân tích định tính tác động tích cực, tiêu cực mà ít được kiểm định và
lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố đó tới thu hút FDI vào vùng kinh tế.
Luận án này sẽ phân tích trên cơ sở lượng hóa các mức độ và mối quan hệ giữa
các yếu tố tác động đến thu hút FDI vào vùng kinh tế. Mặt khác, trong hầu hết
các công trình nghiên cứu đã công bố, tác động của các yếu tố liên kết vùng chưa
được đề cập. Trong nghiên cứu của luận án này, tác giả xem xét tới sự ảnh
hưởng của yếu tố liên kết vùng đến thu hút FDI vào vùng kinh tế.
Hai là, luận án phát triển thang đo thu hút đầu tư và các yếu tố tác động
đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế.
Ba là, luận án góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về các yếu tố tác động
tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế của quốc gia trong bối
cảnh dịch chuyển các dòng vốn đầu tư đang diễn ra nhanh trên thế giới, đóng
góp thêm thông tin và tri thức vào lĩnh vực nghiên cứu thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, chỉ ra những tiêu chí để đánh giá về các yếu tố tác động đến thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế.
5.2. Về ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, luận án đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm phát huy
yếu tố tích cực để tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI vào vùng Đông Nam Bộ trong
thời gian tới dựa trên các kết quả phân tích mức độ tác động của các yếu tố đã
được chỉ ra.
Luận án cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những gợi ý nhằm
nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Cụ thể:
Một là, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho các nhà hoạch định
chính sách nắm bắt được các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào vùng kinh tế
Đông Nam Bộ - Việt Nam để từ đó có được tư duy và cách thức mới nhằm giải
quyết các vấn đề đặt ra đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các tác giả trong và ngoài nước. Trong
đó, có thể nêu ra những nhóm công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
1.1.1. Nhóm các công trình của tác giả quốc tế tiêu biểu
* Nhóm các nghiên cứu bàn về sự xuất hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lý thuyết về xuất khẩu tư bản của V.I. Lênin cho rằng: “Điểm điển hình
của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó là sự tự do cạnh tranh hoàn toàn thống trị, là
việc xuất khẩu hàng hóa. Điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản mới, trong đó các
tổ chức độc quyền thống trị là việc xuất khẩu tư bản” [61, tr.402]. Xuất khẩu tư
bản mà Lênin nghiên cứu vào đầu thế kỷ XX với mục đích là lợi nhuận. Xuất
khẩu tư bản và đầu tư nước ngoài hiện nay cũng có điểm khác nhau: xuất khẩu
tư bản để giải quyết vấn đề dư thừa tương đối tư bản.
Xuất phát từ việc xem xét chu kỳ sản phẩm, Akamatsu Kaname trong bài:
“A Historical Pattern of Economic Growth in Developing Countries” (Một mẫu
lịch sử của tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển) [67] đã cho rằng, sản
phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó được xuất
khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới
làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang
sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách thu hút vốn, kỹ thuật của
nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước
14
bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện. Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và
do đó dẫn đến sự hình thành FDI [67].
Cũng cùng quan điểm này, Raymond Vernon trong công trình
“International Investment and International Trade in the Product Cycle” (Đầu tư
quốc tế và thương mại quốc tế trong các chu kỳ sản phẩm) [100] cho rằng, khi
sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của
mình, cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai
một nước nhưng có cả hai dòng vốn chảy vào và chảy ra. Do đó, lý thuyết lợi
nhuận cận biên chỉ có thể là bước khởi đầu nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài.
Nghiên cứu của Charles Kindleberger và Stephen Hymer; hay Dunning,
Krugman A. A. đều cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù
(bí mật về công nghệ và lợi thế về thông tin vượt trội…) giúp các công ty vượt
có lợi thế về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
nhằm mở rộng thị trường sản phẩm [73]; [79]; [84]; [85].
Nhóm các công trình giải thích sự lựa chọn nước thu hút đầu tư của nước
đầu tư, bao gồm:
Romer và Lucas cho rằng các yếu tố sau tác động đến hành vi đầu tư: ý
định đầu tư; sự ổn định về môi trường đầu tư; sự phát triển của hệ thống tài
chính; chính sách lãi suất; chính sách đầu tư công; chất lượng nguồn nhân lực;
sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ hoặc các dự án trong cùng
ngành có mối liên kết; khả năng tiếp thu và vận dụng và phát triển công nghệ;
khả năng hỗ trợ và chính sách hỗ trợ đầu tư của nước thu hút đầu tư (thị trường,
luật lệ, thủ tục, công nghệ) [87]; [96].
Tổng hợp phân tích hành vi đầu tư của doanh nghiệp từ nhiều nghiên cứu
(mô hình đầu tư theo lý thuyết tân cổ điển của Solow; mô hình hành vi đầu tư
của doanh nghiệp tiếp cận theo mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro; mô hình
ngoại tác của Romer và Lucas cho thấy các yếu tố có thể tác động tới hành vi
đầu tư: (1) ý định đầu tư (sự thay đổi nhu cầu); (2) sự ổn định về môi trường đầu
tư; (3) các chính sách hỗ trợ đầu tư (quy định pháp luật, quy trình, thủ tục); (4)
chính sách lãi suất; (5) mức độ phát triển của hệ thống tài chính; (6) chính sách
16
đầu tư công; (7) chất lượng nguồn nhân lực; (8) sự phát triển của các ngành công
nghiệp phụ trợ và các dự án đầu tư khác trong cùng ngành hay trong các ngành
có mối liên kết; (9) khả năng tiếp thu và vận dụng và phát triển công nghệ; (10)
kết quả cho thấy: (1) lợi tức đầu tư cao hơn và KCHT tốt hơn có tác động tích
cực đến FDI đối với các nước không thuộc SSA, nhưng không có tác động đáng
kể đến FDI đối với SSA; (2) độ mở thương mại tác động tích cực đến việc thu
hút vốn FDI đến các quốc gia SSA và không thuộc SSA; tuy nhiên, lợi ích cận
biên từ sự độ mở thương mại gia tăng ít hơn đối với SSA. Những kết quả này
hàm ý rằng Châu Phi có sự khác biệt vì thế các chính sách thành công ở các khu
vực khác có thể không thành công khi áp dụng ở Châu Phi.
Cùng tác giả, Asiedu trong: “Foreign direct investment in Africa: The
role of natural resources, market size, government policy, institutions and
political instability” (Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại châu Phi: Vai trò của tài
nguyên thiên nhiên, quy mô thị trường, chính sách của chính phủ, các tổ chức và
bất ổn chính trị) [70], bằng khảo sát dữ liệu từ một số nhà đầu tư, đã cho rằng, sự
bất ổn kinh tế vĩ mô, hạn chế đầu tư, tham nhũng và bất ổn chính trị có tác động
tiêu cực đến FDI vào châu Phi. Tác giả sử dụng dữ liệu bảng cho 22 quốc gia
trong giai đoạn 1984-2000 để xem xét và đi đến kết luận các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, quy mô thị trường, các chính sách của chính phủ, bất ổn chính trị và
chất lượng của các tổ chức của nước chủ nhà vào FDI có tác động nhiều chiều
luồng FDI.
Shapiro
trong
cuốn
“Foundations
of
Multinational
“Determinants of FDI inflows to developing countries: a panel data analysis”
(các yếu tố ảnh hưởng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang
phát triển: Phân tích bảng dữ liệu) [83], nhóm tác giả sử dụng mẫu của 32 nước
đang phát triển nhằm nghiên cứu tác động của quy mô thị trường, tổng trữ lượng,
KCHT, chi phí lao động và độ mở của thị trường đến dòng vốn FDI của các
nước chủ nhà. Sử dụng dữ liệu từ 1982 đến 2008, tác giả sử dụng hồi quy dữ liệu
bảng, kết quả cho thấy quy mô thị trường, tổng trữ lượng, KCHT và chi phí lao
động là những yếu tố quyết định chính của dòng vốn FDI vào các nước đang
phát triển.
Abdul và cộng sự trong nghiên cứu “Factors affecting foreign direct
investment in Pakistan” (các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Pakistan) [62], nhóm tác giả cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu ảnh
hưởng trực tiếp bởi 06 yếu tố, bao gồm: (1) Tổng thu nhập quốc dân; (2) Xuất