LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu độc
lập của riêng tác giả. Các tài liệu, số liệu trong luận án là
trung thực, chính xác và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, không
trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NCS Nguyễn Quang Nam
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.
1.2.
Chương 2
2.1.
2.2.
Chương 3
3.1.
3.2.
Chương 4
4.1.
4.2.
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát
triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (2004 - 2015)
Những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ tỉnh
Lâm Đồng lãnh đạo phát triển nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao (2004 - 2015)
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
30
49
84
84
98
132
132
153
167
170
171
194
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số TT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Đảng ta khẳng định:
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp
CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng
để phát triển KT-XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an
ninh - quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc và bảo vệ môi trường
sinh thái của đất nước. Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, nền
nông nghiệp nước ta đã có sự chuyển biến sâu sắc và toàn diện từ sản xuất
đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa Việt Nam từ một nước thiếu
lương thực, phải nhập khẩu hàng năm trở thành quốc gia có nhiều mặt hàng
nông sản xuất khẩu hàng đầu thế giới. Nhờ đó, đời sống của người nông dân
từng bước được ổn định và không ngừng được cải thiện, diện mạo nông
thôn từng bước được thay đổi theo hướng tích cực, góp phần quan trọng
vào sự ổn định và phát triển đất nước. Tuy vậy, nền nông nghiệp nước ta
vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố chưa bền vững; năng suất, chất lượng nông sản
và hiệu quả sản xuất vẫn còn nhiều hạn chế; sản xuất manh mún với cách thức
tổ chức sản xuất lạc hậu vẫn là gam màu chủ đạo trong bức tranh nông nghiệp
Việt Nam. Vì thế, ngành nông nghiệp nước ta đang đứng trước những khó
khăn, thách thức trong thời đại kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế sâu
rộng. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với ngành nông nghiệp Việt Nam
cần phải điều chỉnh và lựa chọn hướng phát triển mới nhằm tăng khả năng
cạnh tranh, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của thị trường và phù hợp với xu
thế phát triển của thời đại. Đứng trước thực trạng trên, cùng với thường xuyên
đổi mới cơ chế quản lý, Đảng ta đã chủ trương đẩy mạnh CNH,HĐH nông
nghiệp, nông thôn và tăng cường ứng dụng KH-CN, nhất là các công nghệ tiên
Do đó, nghiên cứu về quá trình lãnh đạo phát triển nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, làm rõ những thành tựu
cũng như những hạn chế trong hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực tiễn của
Đảng bộ về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tìm ra những
nguyên nhân và đúc kết những kinh nghiệm để vận dụng vào hiện tại là rất
cần thiết, có ý nghĩa lý luận và mang tính thực tiễn sâu sắc.
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng
lãnh đạo phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ năm 2004 đến năm
2015 làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ năm 2004 đến năm 2015; trên cơ
sở đó, đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu có giá trị tham khảo, vận dụng
vào quá trình lãnh đạo của Đảng bộ hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (2004 - 2015).
Hệ thống, luận giải chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo
phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ năm 2004 đến năm 2015.
Rút ra những nhận xét khoa học và đúc kết những kinh nghiệm từ quá
trình Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo phát triển nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao (2004 - 2015).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (qua hoạch
định chủ trương và chỉ đạo thực hiện) về phát triển nông nghiệp ứng dụng
Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,
ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp,
khảo sát thực tế để làm rõ các nội dung của luận án.
Phương pháp lịch sử được sử dụng trong toàn bộ luận án nhằm phân kỳ
thời gian, làm rõ bối cảnh lịch sử tác động, trình bày quá trình hoạch định chủ
trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao theo diễn tiến thời gian.
Trên cơ sở phương pháp lịch sử, luận án sử dụng kết hợp với phương
pháp logic để làm rõ bước phát triển tư duy trong nhận thức và chỉ đạo
thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao trên cơ sở xâu chuỗi các sự kiện lịch sử và liên kết nội
dung của các văn bản có tính chất lãnh đạo của Đảng bộ; đánh giá những
ưu điểm, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình
lãnh đạo của Đảng bộ về vấn đề trên trong những năm 2004 - 2015.
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng nhằm phân
tích làm rõ chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; phân tích, tổng hợp các mặt chỉ đạo
của Đảng bộ tỉnh về vấn đề trên qua hai giai đoạn 2004 - 2010 và 2010 - 2015.
Phương pháp so sánh được sử dụng trong luận án nhằm so sánh kết quả
trên các mặt chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao giữa hai giai đoạn 2004 - 2010 và 2010 - 2015; so
sánh kết quả phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh
Lâm Đồng với bình quân chung của cả nước và các địa phương khác.
5. Những đóng góp mới của luận án
Luận án hệ thống, khái quát hóa chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong những năm 2004 - 2015.
11
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
ở nước ngoài
1.1.1.1. Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài về nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao ở một số nước trên thế giới
Ngô Quý Tùng (2001), Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI
(La Phong dịch) [137]. Trên cơ sở nghiên cứu nền kinh tế Trung Quốc và xu
thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu, tác giả cho rằng, trong tương lai “ai
chiếm được điểm cao về công nghệ sinh học thì có quyền phát ngôn lớn
hơn trong việc giải quyết các vấn đề trọng đại của thế giới” [137, tr.111].
Vì vậy, phát triển CNSH trong nông nghiệp là xu thế và cũng là đòi hỏi cấp
thiết nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực trước sự gia tăng của dân số thế
giới. Với xu thế đó, tác giả dự đoán: đến năm 2008, ngành nông nghiệp
dùng kỹ thuật gen để tạo ra cây trồng cho sản lượng cao, có khả năng
kháng bệnh và giàu dinh dưỡng sẽ được ứng dụng ở các nước đang phát
triển và đến năm 2015, “kỹ thuật canh tác nông nghiệp bằng máy móc sẽ
thay thế kỹ thuật canh tác nông nghiệp truyền thống” [137, tr.112], các kỹ
thuật nông nghiệp như gieo mạ, tưới tiêu, bón phân và sát trùng được điều
khiển bằng máy vi tính, các phương pháp nuôi trồng cây không có đất đều
sẽ được áp dụng.
Dan Senor và Saul Singer (2015), Quốc gia khởi nghiệp [17]. Cuốn sách
mô tả về những câu chuyện thần kỳ, những thành tựu nổi bật trên nhiều lĩnh
vực của đất nước Israel, trong đó thành tựu trên lĩnh vực nông nghiệp được coi
là hết sức kỳ diệu. Diện tích hạn hẹp với 95% đất đai bị xếp vào nhóm bán khô
hạn, khô hạn và rất khô hạn nhưng “Israel vẫn trở thành một trong những quốc
gia dẫn đầu về nông nghiệp” [17, tr.12]. Cốt lõi để làm nên những thành tựu
đều nhấn mạnh tính tất yếu phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
13
nhằm đem lại hiệu quả KT-XH cho đất nước của họ. Theo Chou Chadary, “đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và sản xuất quy mô
lớn là con đường duy nhất để hiện đại hóa, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả
và giá trị nông sản” [201, tr.114].
1.1.1.2. Các nghiên cứu của tác giả trong nước về nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao ở một số nước trên thế giới
Phạm S (2014), Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là yêu cầu tất yếu để
hội nhập quốc tế [67]. Cuốn sách đã khái lược những thành tựu nổi bật về công
nghệ, sản phẩm chủ lực và hiệu quả kinh tế từ mô hình nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao của các nước có nền nông nghiệp hiện đại trên thế giới. Cụ thể:
Nông nghiệp Hà Lan: Mặc dù là nước có diện tích đất canh tác thuộc nhóm
thấp nhất của thế giới, lao động nông nghiệp ít (chỉ chiếm 3,6% lao động xã hội),
nhưng nhờ ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã đưa Hà Lan trở thành
một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển bậc nhất thế giới, với nhiều
mặt hàng xuất khẩu đứng đầu thế giới. Nền nông nghiệp Hà Lan được ứng dụng
cơ giới hóa hoàn toàn các khâu canh tác cùng với công nghệ nhà kính hiện đại.
Bên cạnh yếu tố ứng dụng công nghệ, sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở
Hà Lan còn nhờ vai trò của các doanh nghiệp trong việc chú trọng hoạt động
nghiên cứu. Theo tác giả, đây là một yếu tố quan trọng để “công nghệ cao trong
nông nghiệp của Hà Lan luôn đổi mới, sáng tạo không ngừng” [67, tr.81].
Nông nghiệp Bỉ: Nhờ chính sách phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao nên chỉ trong vòng 10 năm (2003 - 2013) giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng
20% trong khi số lượng nông dân giảm 30%. Thành tựu về phát triển nông nghiệp
ở Bỉ có vai trò rất lớn các cơ quan và viện nghiên cứu nông nghiệp. Đặc biệt, sản
xuất nông nghiệp của Bỉ có tính chuyên canh cao và chỉ tập trung sản xuất các loại
cây trồng mang tính đặc trưng, có thế mạnh để hướng đến xuất khẩu như hoa thu
gợi ý cho Việt Nam [133]. Tác giả đã chỉ ra các giải pháp công nghệ cũng như
chính sách cốt lõi của mỗi nước trong ứng dụng công nghệ cao để tạo ra những
thành tựu mang tính đột phá trong phát triển nông nghiệp như: phương thức
chìa khóa trao tay của chính phủ Isreal; sử dụng thiết bị tưới tiêu công nghệ
15
cao, sử dụng máy kéo tự lái kết hợp với công nghệ GPS trong bón phân, thu
hoạch của Mỹ; ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất nông nghiệp của
Ấn Độ; xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao với 3 đặc trưng cơ bản
và 5 chức năng chủ yếu của Trung Quốc. Từ những thành tựu tiêu biểu của các
nước có nền nông nghiệp tiên tiến, tác giả đã rút ra một số bài học đối với Việt
Nam trong định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao ở trong nước
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
trên phạm vi cả nước
Nghiên cứu về lý luận nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có Nguyễn
Văn Bộ (2007), Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam [203]. Trên
cơ sở khẳng định: Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất là yêu cầu tất yếu
nhằm phát triển nông nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã đưa
ra khái niệm và những đặc trưng của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Theo tác giả, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là “nền nông nghiệp mà ở
đó các loại hình công nghệ cao (cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin,
vật liệu mới và công nghệ sinh học) được ứng dụng tổng hợp theo một quy
trình khép kín, hoàn chỉnh, nhằm khai thác hiệu quả nhất tài nguyên tự nhiên
(đất đai, khí hậu) và tiềm năng của giống để đạt năng suất và chất lượng sản
phẩm cao nhất một cách bền vững” [203, tr.111].
Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao ở Việt Nam còn có Phạm Văn Hiển (2014), Phát triển nông nghiệp công
Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở các tỉnh
miền núi phía Bắc có Lê Quốc Doanh (2007), Bước đầu ứng dụng công nghệ cao
trong xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp tại vùng miền núi phía Bắc [203].
Tác giả đã khái quát những kết quả bước đầu từ các mô hình ứng dụng công nghệ
cao vào sản xuất đối với một số cây trồng ở khu vực miền núi phía Bắc, đồng thời
chỉ ra hạn chế về quy mô sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở đây khi
17
“chỉ mới xây dựng mô hình thử nghiệm” [203, tr.61]. Trên cơ sở đó, tác giả kiến
nghị 4 giải pháp gồm: ứng dụng CNSH trong chọn tạo, nhân giống; kết hợp ứng
dụng công nghệ tiên tiến với kỹ thuật truyền thống; xây dựng các khu nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao và thu hút nguồn lực đầu tư.
Nghiên cứu về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long có đề tài khoa học cấp bộ của Nguyễn Thành Hưng (2017), Các
giải pháp phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở vùng Đồng bằng sông Cửu
Long [45]. Công trình đã luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đánh giá những thành tựu, hạn chế về phát
triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
trên các mặt: xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phát triển vùng,
doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và sản phẩm nông nghiệp chủ
đạo của vùng như sản xuất lúa, rau màu, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản. Trong
đó, thành tựu nổi bật trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở vùng
Đồng bằng sông Cửu Long là đã phát huy vai trò của các Viện, Trung tâm nghiên
cứu, ứng dụng và chuyển giao KH-CN ở các địa phương trong vùng. Nhờ thế, đã
thu hút ngày càng nhiều người nông dân và doanh nghiệp đầu tư phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao vẫn còn nhiều yếu tố hạn chế và chưa bền vững. Từ thực trạng trên, công
trình đã đề ra 8 giải pháp đồng bộ nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao của vùng trong giai đoạn tiếp theo.
điểm sản xuất nông nghiệp chất lượng cao, từng bước hình thành tổ hợp nông
nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao theo lợi thế và đặc thù riêng của
từng khu vực ngoại thành Hà Nội” [136, tr.59].
Nghiên cứu về nông nghiệp công nghệ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh,
có các công trình tiêu biểu của Phạm Hữu Nhượng (2007), Khu nông nghiệp
công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh: Kết quả và những kiến nghị [203];
Trung Thành (2016), Bước phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Thành phố
Hồ Chí Minh [81]. Các tác giả khẳng định sự cần thiết đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp và thành lập khu nông nghiệp công
19
nghệ cao nhằm mở đường cho nông nghiệp Thành phố phát triển theo hướng
hiện đại. Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển nền nông nghiệp Thành phố
gắn với vai trò “đầu tàu” của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tác giả
Phạm Hữu Nhượng đã kiến nghị 3 giải pháp đối với công tác quản lý nhà nước
nhằm phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nói chung và khu nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao nói riêng.
Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở tỉnh
Nghệ An có bài viết của Hồ Đức Phớc (2016), “Hướng đi mới cho nông
nghiệp Nghệ An” [62]. Tác giả đã đánh giá thực trạng việc ứng dụng KH-CN
vào sản xuất nông nghiệp và thực hiện đề án phát triển nông nghiệp công
nghệ cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Đặc biệt, nhờ ứng dụng công nghệ cao
của Công ty TH, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp đã
tăng gấp 10 lần so với trước đây. Tuy vậy, nền nông nghiệp Nghệ An vẫn còn
lạc hậu. Vì thế, theo tác giả, để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại
hóa, Nghệ An cần tăng hàm lượng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp và
đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.
Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở các tỉnh
thuộc khu vực Tây Nguyên có các tác giả Thanh Hường (2016), “Ứng dụng công
phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở tỉnh Lâm Đồng. Trên cơ sở
đó, tác giả nhấn mạnh: Thành tựu từ quá trình thực hiện chương trình đã đưa
Lâm Đồng trở thành một trong các tỉnh dẫn đầu và là “điểm sáng” về nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao của cả nước.
Về sự tác động phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đối với thu
hút FDI, tác giả Phạm S (2016), Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tạo
bước đột phá thu hút FDI chủ động hội nhập quốc tế [135] đã tập trung
phân tích làm rõ những tiềm năng, lợi thế của Tỉnh và những thành tựu về
thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao với nhiều dự án đã và đang triển khai. Trên cơ sở đó, đề xuất những
kiến nghị, giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông
nghiệp ở địa phương. Bên cạnh thu hút đầu tư, tác giả Phạm S (2015), Lâm
21
Đồng là trung tâm phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và du lịch
bền vững khu vực Mê Kông [201] còn chỉ rõ: sự phát triển của nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn Đà Lạt - Lâm Đồng đã tạo ra tiềm năng
phát triển loại hình du lịch mới - du lịch canh nông. Theo tác giả, với lợi thế
trung tâm du lịch nổi tiếng, lại là trung tâm sản xuất nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao đứng đầu cả nước nên Đà Lạt - Lâm Đồng có tiềm năng rất lớn
để phát triển “du lịch canh nông có tầm cỡ khu vực và quốc tế” [201, tr.253].
Về sự tác động của mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến thực
hiện Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tác giả Hạ Long (2016),
Năm cách làm mới, hiệu quả trong xây dựng nông thôn mới thực chất, vững chắc
ở tỉnh Lâm Đồng [50] đã phân tích làm rõ những điểm sáng tạo trong lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở Lâm Đồng. Nổi bật
trong những cách làm mới góp phần đưa Lâm Đồng “trở thành lá cờ đầu xây dựng
nông thôn mới của Tây Nguyên” [50, tr.76] là nhờ địa phương đã không phát triển
nông nghiệp theo phương thức sản xuất truyền thống mà lựa chọn nông nghiệp
nghiệp công nghệ cao tỉnh Lâm Đồng [175] do UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức
đã phân tích làm rõ những tiềm năng, lợi thế và thực trạng chăn nuôi bò, cũng
như quá trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò sữa, bò thịt trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng. Bài viết của tác giả Võ Thế Dũng (2013), Nuôi cá nước
lạnh tỉnh Lâm Đồng - Thành tựu và triển vọng [175] đã phân tích làm rõ những
thành tựu đạt được trong sản xuất cá thương phẩm, trong nghiên sản xuất giống
cá hồi, cá tầm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Theo tác giả, những thành công
bước đầu trong nuôi cá nước lạnh là cơ sở để tỉnh Lâm Đồng đề ra mục tiêu
đến năm 2020, sản lượng cá nước lạnh toàn tỉnh đạt khoảng 3.000 tấn, sản xuất
được 40 - 45% giống cá hồi giống và 15 - 20% cá tầm giống.
Nghiên cứu về các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao ở Lâm
Đồng có Nguyễn Đình Sơn (2016), Kết quả ứng dụng công nghệ cao tại Công ty
cổ phần công nghệ sinh học Rừng hoa Đà Lạt và định hướng phát triển công nghệ
cao trong thời gian tới [135]. Tác giả đã làm rõ những bước phát triển đột phá trong
23
sản xuất cây giống và trồng hoa công nghệ cao trong nhà kính của doanh nghiệp,
nhất là từ khi ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất. Từ thành công của doanh
nghiệp, tác giả cho rằng: Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp mang
lại hiệu quả kinh tế rất lớn, là hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp.
Về HTX có bài viết của HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Anh Đào
(2016), Kinh nghiệm sản xuất rau công nghệ cao của hợp tác xã Anh Đào - Đà
Lạt [135]. Bài viết đã khái lược quá trình phát triển nhanh chóng của HTX Anh
Đào sau hơn 10 năm hoạt động. Nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản
xuất và cơ chế quản lý hiệu quả nên chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất
kinh doanh của HTX tăng trưởng cao (bình quân đạt 500 triệu đồng/ha/năm). Trên
cơ sở đó, bài viết đã rút ra kinh nghiệm: sản xuất công nghệ cao là hướng đi tích
cực, song cần lựa chọn phù hợp về đối tượng cây trồng, công nghệ áp dụng, quy
mô, khả năng đầu tư, điều kiện KT-XH của địa phương.
có tính hệ thống.
1.2.1.3. Về nội dung nghiên cứu
Thứ nhất, đã luận giải khá đầy đủ những vấn đề lý luận về nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao
Những công trình nghiên cứu trong nước đã luận giải khá đầy đủ về khái
niệm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao, chức năng của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các công nghệ cao
được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp và những yếu tố tác động đến quá
trình hình thành, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Thứ hai, đã khái lược những thành tựu nổi bật về phát triển nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao ở một số trên thế giới
Những công trình của tác giả nước ngoài và trong nước đã luận giải khá sâu
sắc về quá trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở các nước có
nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới. Các công trình đã tập trung phân tích
những thành tựu về năng suất, chất lượng, giá trị sản xuất và những sản phẩm
mang tính “thương hiệu” của nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; làm nổi
bật tính đặc trưng trong lựa chọn công nghệ ứng dụng, sản phẩm, hình thức tổ
chức sản xuất và thực hiện liên kết trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công
25
nghệ cao của mỗi nước. Đặc biệt, nhờ ứng dụng công nghệ cao mà một số nước
có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp đã trở thành
những cường quốc nông nghiệp hàng đầu của thế giới, tiêu biểu như Isreal, Hà
Lan, Đài Loan, Nhật Bản.
Thứ ba, đã làm rõ tính tất yếu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản
xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Nhiều công trình khoa học đã khẳng định tính tất yếu khách quan phải đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp
theo hướng công nghệ cao được coi là giải pháp căn bản để khắc phục tình trạng
cao ở các địa phương đã khái lược chủ trương về phát triển nông nghiệp của một
số đảng bộ địa phương; phác họa bức tranh khá đa dạng về thực trạng phát triển
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với những định hướng, mô hình phát triển,
lựa chọn ứng dụng công nghệ và đối tượng cây trồng, vật nuôi mang tính đặc
trưng của từng địa phương.
Thứ năm, đã khái quát một số vấn đề về tiềm năng, thực trạng và định
hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở tỉnh Lâm Đồng
Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, nhiều công trình đã phân tích làm nổi
bật những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội tạo ra những điều kiện thuận lợi và cả
những khó khăn trong quá trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao ở tỉnh Lâm Đồng.
Một số công trình đã khái lược chủ trương của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng về
phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; bước đầu tổng kết, đánh giá kết
quả thực hiện chủ trương trên của Đảng bộ; đề xuất những kinh nghiệm và giải
pháp nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Lâm
Đồng. Tiêu biểu là các công trình của tác giả Phạm S, Huỳnh Phong Tranh, Minh
Châu. Kết quả nghiên cứu của các công trình đã cung cấp những thông tin khoa
học quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa và đưa vào nội dung phần chỉ đạo và
đúc rút bài học kinh nghiệm của đề tài luận án.
Mặc dù có nhiều công trình phân tích về thực trạng nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao ở Lâm Đồng dưới các khía cạnh khác nhau, trong đó
có công trình bước đầu khái lược chủ trương của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng