ỦY BAN NHÂN NHÂN TỈNH ĐĂKLĂK
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
ĐỀ ÁN
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH
ĐĂK LĂK ĐẾN NĂM 2020
ĐăkLăk, năm 2013
MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT LẬP ĐỀ ÁN
Phát triển nông nghiệp theo hướng ứng dụng CNC là một tất yếu của quá
trình CNH - HĐH sản xuất nông nghiệp của tất cả các quốc gia. Nông nghiệp
CNC sẽ tạo ra khối lượng hàng hoá lớn có năng suất cao, chất lượng tốt, đáp
ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc
tế - vấn đề ngày càng cấp bách đối với nông nghiệp nước ta hiện nay.
Trong bối cảnh nhu cầu các sản phẩm nông nghiệp ngày càng gia tăng cả
về số lượng cũng như chất lượng do áp lực dân số tăng, các vấn đề về vệ sinh an
toàn thực phẩm, phát triển bền vững, sức cạnh tranh của hàng hóa, sự suy thoái
tài nguyên nông nghiệp, biến đổi khí hậu…đang là thách thức cho toàn thế giới
cũng như mọi quốc gia. Một trong những giải pháp để giải quyết các vấn đề trên
là phát triển Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNƯDCNC), hay phát triển
NNƯDCNC là xu thế tất yếu. Thực trạng phát triển NNƯDCNC trên thế giới đã
đạt được nhiều thành tựu, góp phần làm thay đổi nền sản xuất truyền thống trong
bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh và liên tục. Ở Việt Nam, từ những
năm 90 của thế kỷ trước đã bắt đầu phát triển NNƯDCNC, trước hết là các
doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (DNNNƯDCNC) về rau,
hoa và nấm tại Lâm Đồng. Các khu, vùng sản xuất NNƯDCNC cũng được hình
thành ở một số địa phương. Bước đầu hoạt động của các doanh nghiệp, khu,
vùng NNƯDCNC dù còn những bất cập về tổ chức cũng như hiệu quả, nhưng
tuy có tăng về số lượng và giá trị nhưng thu nhập của nông dân ở các vùng sản
xuất hàng hoá không tăng; chất lượng hàng nông sản, sức cạnh tranh trên thị
trường chưa cao, sản xuất chưa gắn kết chặt chẽ với chế biến, tiêu thụ, một số
nông sản thực phẩm chưa đảm bảo an toàn...đã đặt ra nhiều vấn đề đối với sản
xuất nông nghiệp. Do vậy, muốn phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện
đại, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, biện pháp tối ưu là đẩy mạnh ứng
dụng CNC trong nông nghiệp.
Do có lợi thế là tỉnh trung tâm của vùng Tây Nguyên, thời gian qua,
ĐăkLăk cũng đã đầu tư thí điểm một số mô hình sản xuất giống cây, con có
năng suất cao, chất lượng tốt, rau an toàn,... áp dụng công nghệ tiên tiến và đem
lại hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên, quy mô và mức độ đầu tư của các mô hình nông
nghiệp CNC này còn ở mức rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu là đầu tầu
thúc đẩy nông nghiệp của tỉnh. Mặt khác những mô hình diện tích nhỏ lẻ này
cũng chưa thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẵn sàng đầu tư vốn,
kỹ thuật để sản xuất, kinh doanh những sản phẩm nông nghiệp có chất lượng
cao, hiệu quả kinh tế lớn so với nông nghiệp truyền thống.
Thực tế và kinh nghiệm ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp của các
nước trên thế giới, đặc biệt là Israel, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hà
Lan… đều hướng vào các sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, có chất
lượng, có giá trị cao về kinh tế, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, gắn sản
xuất với phát triển dịch vụ du lịch sinh thái. Chính vì vậy, việc xây dựng:”Đề án
phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh ĐăkLăk đến năm 2020”
là yêu cầu của thực tiễn hết sức cần thiết và cấp bách để thực hiện chủ trương
đúng đắn của Trung ương và địa phương, nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
của tỉnh phát triển theo hướng CNH - HĐH.
2. NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Luật công nghệ cao số 21/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính phủ về lập, phê
duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội;
3
ứng dụng CNC tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2013 - 2020.
3.2. Yêu cầu
- Điều tra thu thập, tổng hợp các thông tin số liệu, đánh giá thực trạng sản
xuất nông nghiệp ứng dụng CNC gắn với các vùng sản xuất nông nghiệp ở
ĐăkLăk hiện nay, xác định các nhân tố tác động đến sản xuất nông nghiệp ứng
dụng CNC.
- Khái quát về vấn đề phát triển SXNN ứng dụng CNC, những vấn đề đặc
4
biệt quan tâm của thị trường thế giới và người tiêu dùng hiện nay đối với nông
nghiệp sạch.
- Đề án tập trung đề cập toàn diện đến vấn đề phát triển nông nghiệp ứng
dụng CNC gắn liền với các vùng, khu vực và doanh nghiệp sản xuất nông
nghiệp ứng dụng CNC dựa trên các khía cạnh: kĩ thuật sản xuất, quản lý dịch
bệnh, quản lý sử dụng các đầu vào, và quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra, tổ
chức sản xuất, hệ thống pháp lý, tổ chức quản lý kiểm soát chất lượng sản phẩm;
trình diễn; đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ.
- Cách tiếp cận lập đề án trong điều kiện kinh tế thị trường với quá trình
hội nhập cạnh tranh ngày càng gay gắt.
4. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ ÁN
4.1. Đối tượng
Đề án đề cập toàn diện đến SXNN ứng dụng CNC, bao gồm các khía
cạnh: các loại sản phẩm, các loại công nghệ tiên tiến ứng dụng vào SXNN, kỹ
thuật sản xuất, quản lý tổ chức sản xuất, tổ chức hệ thống quản lý kiểm soát sản
xuất và tiêu thụ. Hệ thống giải pháp để phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC.
Các vùng NNƯDCNC được nghiên cứu và bố trí phát triển tập trung vào
các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh của tỉnh nhằm phục vụ cho nhu cầu của
người dân trong tỉnh, vùng Tây Nguyên và xuất khẩu.
4.2. Phạm vi của đề án
phiếu điều tra đánh giá hiệu quả của sản xuất nông nghiệp truyền thống và hiệu
quả sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Phương pháp chuyên gia, tư vấn xác định các dự án ưu tiên và giải pháp
phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.
- Phương pháp phân tích vấn đề, đánh giá, so sánh, tổng hợp và viết báo
cáo thuyết minh.
6
PHẦN THỨ NHẤT
KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP CNC VÀ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO Ở VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP CNC
1.1. Một số khái niệm liên quan đến nông nghiệp CNC
1.1.1. Công nghệ cao
Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện
đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân
thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản
xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
Nhà nước tập trung đầu tư phát triển CNC trong 4 lĩnh vực chủ yếu là: 1)
Công nghệ thông tin; 2) Công nghệ sinh học; 3) Công nghệ vật liệu mới và 4)
Công nghệ tự động hóa.
1.1.2. Hoạt động công nghệ cao
Hoạt động CNC là hoạt động nghiên cứu, phát triển, tìm kiếm, chuyển
giao, ứng dụng CNC; đào tạo nhân lực CNC; ươm tạo CNC, ươm tạo doanh
nghiệp CNC; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ CNC; phát triển công nghiệp
CNC.
1.1.3. Sản phẩm công nghệ cao
những công nghệ tiến bộ nhất về giống, công nghệ canh tác, chăn nuôi tiên tiến,
công nghệ tưới, công nghệ thu hoạch - bảo quản - chế biến. Ứng dụng CNTT
vào quản lý, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thị trường.
2- Sản phẩm NNƯDCNC là sản phẩm hàng hoá mang tính đặc trưng của
từng vùng sinh thái, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích,
có khả năng cạnh tranh cao về chất lượng với sản phẩm cùng loại trên thị trường
trong nước và thế giới, còn điều kiện mở rộng quy mô sản xuất và sản lượng
hàng hoá khi có yêu cầu của thị trường.
3- Sản xuất NNƯDCNC tạo ra sản phẩm phải theo một chu trình khép
kín, khắc phục được những yếu tố rủi ro của tự nhiên và hạn chế rủi ro của thị
trường.
4- Phát triển NNƯDCNC theo từng giai đoạn và mức độ phát triển khác
nhau, tùy tình hình cụ thể của từng nơi, nhưng phải thể hiện được những đặc
trưng cơ bản, tạo ra được hiệu quả to lớn hơn nhiều so với sản xuất bình thường.
d. Chức năng của NNƯDCNC
NNƯDCNC có 5 chức năng lớn:
Một là khu trình diễn, vườn thực nghiệm nông nghiệp hiện đại hóa, là
vườn ươm xí nghiệp, chuyển hóa thành quả nghiên cứu khoa học công nghệ
thành sức sản xuất, là nguồn lan tỏa công nghệ cao mới.
Hai là trung tâm ứng dụng mở rộng, trung tâm phục vụ, trung tâm tập
huấn các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ, công nghiệp, thị trường có
hàm lượng khoa học công nghệ tương đối cao.
Ba là có thể thu hút một khối lượng sức lao động lớn của nông thôn, làm
cho nông thôn thành thị hóa, nông dân được công nhân hóa.
8
Bốn là thích ứng hóa với chức năng kinh doanh để các lĩnh vực từ trồng
trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng chế biến, khoa học công nghiệp, thương
3- Hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ thuận lợi đáp ứng yêu cầu của sản xuất ứng
dụng CNC trong lĩnh vực nông nghiệp;
4- Tạo ra các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa và hàng hóa xuất khẩu có
chất lượng, năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
9
5- Có nguồn nhân lực có kinh nghiệm trong sản xuất nông sản hàng hóa
với số lao động được đào tạo, tập huấn về CNC đang sử dụng đạt ít nhất 60%
tổng số lao động nông nghiệp trong vùng và có trình độ quản lý chuyên nghiệp.
6- Áp dụng các biện pháp thân thiện với môi trường và quản lý chất lượng
sản phẩm nông nghiệp hàng hóa an toàn đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của
Việt Nam hoặc quốc tế.
1.1.7. Khu NNƯDCNC
a. Khái niệm
Khu NNƯDCNC là khu CNC tập trung thực hiện hoạt động ứng dụng
thành tựu nghiên cứu và phát triển CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện
các nhiệm vụ: chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất,
chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh; trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao; tạo
ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp; bảo quản, chế
biến sản phẩm nông nghiệp; phát triển doanh nghiệp NNƯDCNC và phát triển
dịch vụ CNC phục vụ nông nghiệp.
b. Nhiệm vụ của khu NNƯDCNC
1- Thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, trình diễn
mô hình sản xuất sản phẩm NNƯDCNC;
2- Liên kết các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng CNC, sản xuất sản phẩm
ứng dụng CNC trong lĩnh vực nông nghiệp;
3- Đào tạo nhân lực CNC trong lĩnh vực nông nghiệp;
4- Tổ chức hội chợ, triển lãm, trình diễn sản phẩm NNƯDCNC
5- Thu hút nguồn đầu tư, nhân lực CNC trong nước và ngoài nước thực
thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
- Được xem xét hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, thử nghiệm, đào tạo, chuyển
giao công nghệ từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển CNC.
1.2. Một số kinh nghiệm về phát triển NNƯDCNC trên thế giới
1.2.1. Kinh nghiệm của Mỹ
Tại Mỹ, từ đầu thế kỉ XX, chính phủ Mỹ đã áp dụng những tiến bộ kĩ
thuật vào nông nghiệp để nâng cao năng suất và bắt đầu thời kì vàng son của nền
Nông nghiệp Mỹ. Đầu những năm 80 Hoa Kỳ đã có hơn 100 khu khoa học công
nghệ dành cho nông nghiệp. Các biện pháp được nước này sử dụng là: sử dụng
thiết bị tưới tiêu công nghệ cao, tập trung nghiên cứu phát triển giống mới, trồng
cây công nghệ sinh học với diện tích lớn nhất trên thế giới, nghiên cứu sản xuất
các giống cây trồng biến đổi gene.
1.2.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Chủ yếu tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử
dụng phân hóa học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho
lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét;
nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất.
Nhật Bản cũng rất nhanh nhạy với vấn đề này khi cho thành lập Viện quốc gia
về khoa học Nông Nghiệp ở cấp Nhà nước, tăng cường nghiên cứu liên kết giữa
các viện khoa học với các trường Đại học, hội khuyến nông, để thắt chặt và nâng
cao công tác quản lý.
1.2.3. Kinh nghiệm của Israel
11
Đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Israel đã xây dựng được 10 khu nông
nghiệp ứng dụng CNC với doanh thu từ trồng trọt đạt mức kỷ lục 200.000
USD/ha. Công nghệ nhà kính có thể cho năng suất cà chua tới 300 tấn/ha, tức
gấp 4 lần nếu trồng ngoài đồng. Israel chỉ với 360.000 ha đất sản xuất nông
nghiệp, đất khô cằn, thiếu nguồn nước tưới lại phân bố trên nhiều kiểu khí hậu
(2) trình diễn; (3) lôi kéo; (4) giáo dục và (5) nghỉ ngơi tham quan. Các khu
NNƯDCNC ở Trung Quốc đều có đặc điểm chung là áp dụng khoa học công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp, lấy công trình xây dựng nông nghiệp làm chủ
thể, tổ chức sản xuất nông nghiệp thâm canh và xí nghiệp hóa kinh doanh đã có
12
tác dụng to lớn trong tăng trưởng nông nghiệp. Chỉ sau 8 năm (1998 - 2006),
Trung Quốc đã xây dựng được hơn 405 khu NNƯDCNC, trong đó có 01 khu
cấp quốc gia, 42 khu cấp tỉnh và 362 khu cấp thành phố. Ngoài ra, còn hàng
ngàn cơ sở NNƯDCNC trên khắp đất nước. Những khu này đóng góp vào sự gia
tăng giá trị sản xuất nông nghiệp lên đến 42% so với tổng giá trị sản phẩm tăng
thêm và đạt giá trị sản lượng bình quân từ 40.000 - 50.000 USD/ha/năm, gấp 40
- 50 lần so với sản xuất cũ.
II. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG NÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng các loại hình sản xuất NNƯDCNC
2.1.1. Khu nông nghiệp ứng dụng CNC
Hiện nay, cả nước có 29 khu NNƯDCNC đã được xây dựng đi vào hoạt
động và quy hoạch tại 12 tỉnh/thành phố thuộc 7 vùng kinh tế, bao gồm:
a. Số lượng các khu NNƯDCNC đã và đang hoạt động
Bảng 1. Hiện trạng các khu NNCNC đã và đang hoạt động ở Việt Nam
Vùng/tỉnh
Tên
Diện
Chủ đầu
tích
Năm xây dựng/
địa điểm
2004/Nông
trường Mộc
Châu
200
Vốn
đầu
tư
(tỷ
đ)
Chức năng/sản phẩm
30,0
Nghiên cứu, SX, đào
tạo, chuyển giao/rau,
hoa, quả
23,7
Nghiên cứu, SX, đào
tạo, chuyển giao/rau,
hoa
23,8
4. Phú Yên
Nghiên cứu, SX, đào
tạo, chuyển giao;
460
21,77
giống mía, bông,
CAQ, gia súc, gia cầm
Nghiên cứu, SX, đào
2007; xã Suối
tạo, chuyển giao/giống
65,85 Cát, huyện Cam 32,0
lúa, ngô, rau, hoa,
Lâm
mía, điều, xoài, lợn, cá
2004; xã Hòa
Quang, huyện
Phú Hòa
13
Vùng/tỉnh
Tên
Diện
Chủ đầu
tích
Văn Cội
Khu
NNƯDCNC
An Thái
CTCP
U&I
471,0
2011; xã An
Thái, Phú Giáo
752,6
380,9
Nghiên cứu, SX, đào
tạo, chuyển giao, du
lịch/rau, hoa quả, cá
cảnh
Nghiên cứu, SX, đào
tạo, chuyển giao/rau,
quả, cây dược liệu
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển khu, vùng NNƯDCNC cả nước - 2013)
- 7 khu đã đi vào hoạt động tại 7 tỉnh/thành phố thuộc 4 vùng KTNN là:
Sơn La (Tây Bắc), TP Hà Nội và TP Hải Phòng (vùng ĐBSH); Phú Yên và
Khánh Hòa (vùng DHNTB) và TP Hồ Chí Minh và Bình Dương (vùng ĐNB)
thiết bị ngoại 100%, công nghệ chuyển giao chậm, trong quá trình vận hành luôn
gặp trục trặc kỹ thuật, phải mất 3 - 4 năm kỹ sư của Việt Nam mới xử lý được sự
cố. Đặc biệt, dự án quy hoạch ở vị trí không thuận lợi nên không hiệu quả. Mặt
khác, mô hình này hầu như không có khả năng nhân rộng vì chi phí vận hành
quá tốn kém, giá thành sản phẩm cao nên rất khó tiêu thụ nên đã ngừng hoạt
động và thành phố đã dành đất để làm khu đô thị.
- Khu NNƯDCNC Hải Phòng được đầu tư xây dựng năm 2006 tại Trung
tâm Giống và Phát triển Nông lâm nghiệp với tổng số vốn đầu tư trên 22,5 tỉ
đồng gồm: 8000m2 nhà kính hiện đại, 5.000m2 nhà lưới giản đơn và 12.000m2
đất canh tác ngoài trời, toàn bộ nhà kính được nhập khẩu công nghệ trọn gói của
Israel.
Mục tiêu của khu là bảo tồn cây ăn quả đầu dòng và vườn ươm cây
giống, khu nuôi cấy mô tế bào... Khu nhà lưới sản xuất rau an toàn, hoa và cây
cảnh cho sản phẩm được 2 - 3 vụ, năng suất cà chua, dưa chuột bao tử đạt từ 200
- 250 tấn/ha, hoa hồng đạt 200 - 300 bông/m2.
Nhưng qua 6 năm hoạt động vẫn chưa đạt mục tiêu ban đầu của dự án.
Nguyên nhân là do khu nhập khẩu “trọn gói” từ nhà lưới, thiết bị đến kỹ thuật
canh tác, giá cả rất đắt và phụ thuộc. Khi đưa vào áp dụng quy trình sản xuất còn
nhiều bất cập về thời tiết, mùa vụ, dịch bệnh phát sinh...
Từ bài học đắt giá đầu tư và hiệu quả hoạt động của 2 khu NNƯDCNC
Hà Nội - Hải Phòng được xem là lớn nhất miền Bắc, bài học kinh nghiệm được
rút ra là: không thể phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC theo kiểu nhập
“nguyên đai nguyên kiện” công nghệ của nước ngoài trong điều kiện nền nông
nghiệp nước ta chưa thoát khỏi quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ; hệ thống
phân phối chưa hoàn chỉnh, các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển và
đặc biệt là thiếu đội ngũ quản lý và chuyên gia giỏi.
- Khu NNƯDCNC TP.Hồ Chí Minh: là địa phương đầu tiên xây dựng khu
NNƯDCNC theo mô hình đa chức năng, gắn nghiên cứu thực nghiệm, trình
diễn, chuyển giao công nghệ với ươm tạo doanh nghiệp NNƯDCNC đồng thời
thu hút các doanh nghiệp vào phát triển các loại hình sản xuất NNƯDCNC. Khu
+ Sản xuất giống cây lâm nghiệp và sản phẩm rau hoa chất lượng cao
trên diện tích 13,07 ha. Áp dụng công nghệ nhân giống hoa Lan Mokara, hoa
Cúc, hoa Đồng tiền bằng phương pháp nuôi cấy mô với công suất 1,5 - 2,0
triệu bông/năm. Đồng thời áp dụng công nghệ tưới phun sương cho hoa Lan
Mokara và tưới phun mưa cho đậu bắp Nhật trong nhà lưới. Sản xuất Keo lai
và Phi lao bằng phương pháp giâm hom với số lượng trên 200 nghìn cây sạch
bệnh/năm cho trồng rừng.
- Khu NNƯDCNC Phú Yên được UBND tỉnh Phú Yên ra Quyết định
phê duyệt số 3066/QĐ-UB Ngày 26/10/2004 với diện tích 460 ha tại thôn Thạch
Lâm, xã Hòa Quang, huyện Phú Hòa do Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên
làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư đầu tư ban đầu 21,77 tỷ đồng bằng nguồn
vốn ngân sách và vốn đầu tư ngành điện. Sau 4 năm triển khai xây dựng, ngày
8/1/2008, UBND tỉnh ra Quyết định số 55/QĐ-UBND điều chỉnh, bổ sung nội
dung thực hiện đầu tư giai đoạn 2 từ năm 2008 - 2012 với tổng mức đầu tư là
64,95 tỷ đồng đồng.
16
- Khu NNƯDCNC tại Bình Dương: năm 2010, UBND tỉnh Bình Dương
đã phê duyệt xây dựng 3 khu NNƯDCNC là: khu An Thái 411,75 ha, khu
Tiến Hùng 89,0 ha và khu chăn nuôi bò sữa 471,0 ha. Ngay sau khi được Sở
Tài nguyên Môi trường cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với khu đất
thuộc dự án vào ngày 24/1/2011 công ty đã đầu tư khoảng 50 tỷ đồng. Đến nay,
công ty đã ứng dụng công nghệ tưới và bón phân tự động của Israel để trồng các
loại rau sạch và cao cấp trên diện tích 5 ha (bên trong và bên ngoài nhà kính),
gồm: cà chua, ớt chuông, cà tím, dưa lưới, đạt năng suất và chất lượng cao với
giá trị đạt 172 triệu đồng/ha. Sản phẩm của Unifarm được chứng nhận Global
Gap và hiện đã có mặt tại các chuỗi siêu thị lớn tại Việt Nam như: Metro,
Saigon Coop, Big C.
b. Số lượng các khu NNƯDCNC đã được quy hoạch chi tiết
Số
lượn
g
Tên
Chủ
đầu tư
3
1
2
Diện
tích
(ha)
Địa
điểm
Chức năng/sản
phẩm
300
Huyện
Yên
Bình,
Yên
Bình
Khu
NNƯDCN
C Đông
Triều
UBND
tỉnh
Khu
NNƯDCN
C Đầm Hà
UBND
tỉnh
5
1390
17
Nghiên cứu, SX,
thương mại, đào
tạo, du lịch/rau,
hoa, giống cây
Nghiên cứu, SX,
thương mại, đào
tạo, du lịch/giống
Khu
NNƯDCN
C
Mai Lâm
4
Nam
Định
5
Hải
Phòng
III.
DHBTB
6
7
Thanh
Hóa
Nghệ
An
Chủ
đầu tư
200
1
Khu
NNƯDCN
C An Lão
UBND
TP
200
6
4
1
Địa
điểm
Chức năng/sản
phẩm
Huyện
Hoài
Đức
Nghiên cứu, SX,
tạo, du lịch/rau,
hoa, giống cây, con
Xã Yên
Dương,
Ý Yên
2640
Khu
NNƯDCN
C Lam Sơn
Khu
NNƯDCN
C Thống
Nhất
Khu
NNƯDCN
C Bá
Thước
Khu
NNƯDCN
C Đông
Sơn
Khu
NNƯDCN
C Nghĩa
Doanh
nghiệp
Doanh
100
Huyện
Bá
Thước
Nghiên cứu, SX
giống rau, hoa
200
huyện
Đông
Sơn
200
Huyện
Nghĩa
Đàn
Nghiên cứu, SX,
chuyển giao, đào
tạo, thương mại,
triển lãm
Nghiên cứu, SX,
chuyển giao, đào
tạo, thương mại,
10
Lâm
Đồng
VI. ĐNB
11
Bình
Dương
VII.
ĐBSCL
12 Cần
Thơ
1
Tên
Chủ
đầu tư
Đàn
NSNN
Khu
du lịch, thực
nghiệm, trình diễn,
đào tạo/rau
Xã
Bình
Hòa,
Bình
Sơn
Nghiên cứu, SX,
du lịch, thực
nghiệm, trình diễn,
đào tạo/rau hoa,
thủy đặc sản
Lạc
Dương
Nghiên cứu, SX,
du lịch, thực
nghiệm, trình diễn,
đào tạo/ hoa, rau,
cà phê, chè, dứa,
chuối, gạo, cá nước
lạnh
471
Huyện
Địa
điểm
190
1
1
Diện
tích
(ha)
221,1
3
561
Khu
NNƯDCN
C Phước
Sang
Khu
NNCNC
Hiếu Liêm
CTCP
Đường
Bình
Dương
CTTNH
Cờ Đỏ
Xã
Thới
Hưng,
H. Cờ
Nghiên cứu, SX,
thực nghiệm, trình
diễn, đào tạo/ lúa,
hoa quả, cá tra,
tôm
SX, thực nghiệm,
trình diễn/rau màu,
cây ăn quả, lơn gà,
vịt, sinh vật cảnh
T
T
Vùng/
tỉnh
Số
lượn
g
Tên
Chủ
Khu
NNƯDCN
C
Hậu Giang
NSNN
415
22
Xã
SX, thực nghiệm,
Thạnh
trình diễn/lúa và cá
Phú, H.
nước ngọt
Cờ Đỏ
Nghiên cứu, SX,
thực nghiệm, trình
Huyện
diễn, đào tạo, du
Long
lịch/lúa, cây ăn quả
Mỹ
và thủy sản nước
ngọt
12.18
7
hành.
2.1.2. Vùng sản xuất NNƯDCNC
2.1.2.1. Vùng sản xuất lúa
Đến nay, trên phạm vi cả nước chưa có tỉnh nào có vùng sản xuất lúa đạt
được tiêu chí vùng sản xuất NNƯDCNC. Tuy nhiên, hầu hết các tỉnh đều đã xây
dựng được vùng chuyên canh sản xuất lúa chất lượng cao với quy mô khoảng 1
triệu ha. Trong đó, tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSCL với 750 nghìn ha, ĐBSH
khoảng 150 nghìn ha và còn lại 100 nghìn ha ở các vùng còn lại. Giá trị sản xuất
lúa chất lượng cao đạt từ 40 - 50 triệu đồng/ha/năm (2 - 3 vụ/năm), năng suất
bình quân 50 tạ/ha/vụ, lợi nhuận thu được cao hơn các giống thông thường từ 4 5 triệu đồng/ha/năm, dần thay đổi tập quán sản xuất từ hình thức quảng canh
sang áp dụng các biện pháp sản xuất thâm canh, giảm chi phí đầu tư, tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường, góp phần chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng
hóa (bảng 3).
Bảng 3: Hiệu quả sản xuất lúa ở Việt Nam năm 2012
Đơn vị tính: 1000 đồng
Miền Bắc
TT Hạng mục
Lúa
thường
Lúa
CL
cao
Lúa
lai
28.41
0
11.15
6
Tổng thu
41.400
7
Lợi nhuận
14.806 16.590
27.164
9.904
17.26
0
6,5
7,0
45.50
0
18.33
6
Miền Nam
Lúa
CL
mẫu
lớn
23.60
2
4.935
6,0
5,0
30.00
0
10.41
5
4.935
5,5
6,0
33.00
0
4.5
6,
6,
39.0
13.945 20.7
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển khu, vùng NNƯDCNC cả nước - 2013)
2.1.2.2. Vùng sản xuất rau, hoa
Hiện cả nước có ba địa phương là: Lâm Đồng, TP.HCM và Hà Nội có các
vùng sản xuất rau và hoa ứng dụng CNC (bảng 4).
21
Lú
82,0
3 TPHCM
3,2
1,7
53,1
Tổng số
26,5
16,0
60,4
Vùng sản xuất hoa
Tổng
Hoa
Tỷ lệ
số
CNC
(%)
2,0
0,8
40,0
5,2
2,3
44,2
2,1
0,7
33,3
9,3
3,8
40,9
75.100
77.600
60.100
295.000
435.000
149.200
299.800
Vùng sản xuất hoa
Truyền
Ứng dụng
thống
CNC
142.644
194.602
79.904
130.352
62.740
64.250
495.000
825.000
352.356
630.398
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển khu, vùng NNƯDCNC cả nước - 2013)
Đối với hoa, diện tích sản xuất hoa ứng dụng CNC năm 2012 là 3,8 nghìn
ha, chiếm 40,9% diện tích hoa hiện có và chiếm 23,5% diện tích hoa cả nước.
Lâm Đồng là tỉnh có diện tích hoa lớn nhất với 5,2 nghìn ha hoa các loại, sản
lượng khoảng 1,8 tỷ cành, trong đó có 2,3 nghìn ha hoa được sản xuất ứng dụng
22
41.730
15.810
25.920
75.000
33.270
Úng dụng CNC
86.200
60.100
26.100
250.000
163.800
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển khu, vùng NNƯDCNC cả nước - 2013)
Tổng diện tích đất canh tác chè 24,3 nghìn ha, trong đó có 4,8 nghìn ha
chè, chiếm 20% diện tích được ứng dụng CNC như: kỹ thuật tưới tự động, tưới
tiết kiệm, ứng dụng quy trình canh tác sạch; giá trị sản xuất trên một đơn vị diện
tích sản xuất chè chất lượng cao đạt từ 200 - 250 triệu đồng/ha, lợi nhuận từ 150
- 160 triệu đồng/ha, cao gấp 5 lần so với sản xuất chè hạt theo phương pháp
truyền thống.
2.1.2.4. Vùng sản xuất cà phê
Hiện nay trên địa bàn cả nước mới chỉ có Lâm Đồng có vùng sản xuất cà
phê ứng dụng công nghệ cao với quy mô diện tích 10.612ha, sử dụng giống cà
phê ghép. Còn lại là sản xuất cà phê có chứng nhận, bền vững.
Bảng 7. Hiệu quả sản xuất cà phê bền vững ở Tây Nguyên
Đơn vị tính: 1000 đồng/ha
TT
1
2
3
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển khu, vùng NNƯDCNC cả nước - 2013)
Việc triển khai sản xuất theo hướng ứng dụng CNC và có chứng nhận
trong sản xuất cà phê đã giúp người nông dân nâng cao nhận thức về canh tác
nông nghiệp theo hướng bền vững, áp dụng những biện pháp tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất bình quân cà phê từ
26,7 tạ/ha lên 36,5 tạ/ha và lợi nhuận tăng từ 60,5 lên 139,8 triệu đồng/ha/năm,
gấp 2,3 lần so với canh tác truyền thống.
Các CNC được ứng dụng trong sản xuất cà phê là sử dụng giống cà phê
ghép chồi và giống cao sản, tưới tiết kiệm nước, áp dụng quy trình canh tác theo
các tiêu chuẩn UTZ, 4C, RFA và FT như sau:
- Sản xuất cà phê bền vững theo chứng chỉ UTZ Certifide: đã được các
doanh nghiệp trong nước triển khai từ tháng 9/2001 và sản phẩm được chứng
nhận đầu tiên vào tháng 12/2002 là 4.600 tấn, tại 3 công ty: Thắng Lợi, Ea Pôk
và Krông Ana. Sau khi UTZ Việt Nam được thành lập vào tháng 10/2006, mức
độ phát triển đã tăng lên một cách mạnh mẽ. Tính đến cuối năm 2012, tổng
lượng cà phê được chứng nhận UTZ tại Việt Nam hơn 135.000 tấn, trong đó cà
phê ĐăkLăk chiếm 38%. Diện tích cà phê được chứng nhận UTZ ở ĐăkLăk là
10,1 nghìn ha
- Sản xuất cà phê theo 4C (Bộ nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê):
cà phê chứng nhận sản xuất theo quy trình 4C tuy xuất hiện tại Việt Nam sau
UTZ do các công ty liên doanh, DN có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện vào
năm 2007. Cho đến nay, tại ĐăkLăk, sản lượng cà phê được xác nhận đã lên đến
hơn 192.000 tấn, chiếm khoảng 45% tổng lượng cà phê được xác nhận 4C ở
Việt Nam với gần 35 nghìn nông dân tham gia và diện tích hơn 52 nghìn ha;
Lâm đồng là 30 nghìn ha với 18 nghìn nông dân tham gia.
- Đối với chứng nhận RFA (Rừng nhiệt đới) được tiếp cận đầu tiên bởi
Công ty TNHH Dak Man Việt Nam. Đến nay, trong số 6 đơn vị được chứng
nhận thì có đến 5 đơn vị trên địa bàn tỉnh. Tính đến cuối năm 2012, tổng lượng
cà phê của được chứng nhận RFA ở ĐăkLăk khoảng 26 nghìn tấn (gần 80%
lượng cà phê có chứng nhận RFA của cả nước) với gần 3,2 nghìn thành viên và
nông nghiệp ứng dụng CNC tạo tiền đề để phát triển thành các vùng sản xuất
NNƯDCNC quy mô lớn trong tương lai gần như: vùng rau, vải thiều (Hải
Dương), lúa (Nam Định, Thái Bình, các tỉnh ĐBSCL), chè (Thái Nguyên, Yên
Bái, Sơn La, Phú Thọ), cây ăn quả (Tiền Giang, Bến Tre); hồ tiêu (Gia Lai).
2.1.3. Các doanh nghiệp NNƯDCNC
Hiện nay cả nước mới có 4 doanh nghiệp được Bộ NN&PTNT công nhận
là doanh nghiệp NNƯDCNC là: Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Rừng
Hoa Đà Lạt, Công ty TNHH Agrivina (Dalat Hasfarm) và Công ty TNHH Đà
Lạt G.A.P đều ở Lâm Đồng và Công ty TH True Milk ở Nghệ An.
- Công ty Dalat Hasfarm là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, được
thành lập năm 1994 và được coi là tiên phong trong việc trồng hoa quy mô công
nghiệp tại TP Đà Lạt và cả nước. Năm 2003, Agrivina - Dalat Hasfarm được
đánh giá là một trong 5 dự án nước ngoài đầu tư hoạt động hiệu quả nhất trên
đất Đà Lạt. Và từ năm 2004, Dalat Hasfarm được vinh dự trở thành thành viên
duy nhất của Hiệp hội hoa Thế giới. Vào năm 2010, Dalat Hasfarm đã đạt con
số gần 100 triệu cành hoa các lọai, trong đó 30% sản lượng phục vụ nhu cầu
trong nước, 70% sản lượng được xuất khẩu đến các thị trường như: Nhật Bản,
Úc, Singapore, Đài Loan, Indonesia.
25